
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Bút ký
Chủ đề:
liên đoàn 81 biệt cách nhảy
dù
Tác giả:
BCD Lê Đắc Lực

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)

Mục lục
Lời giới thiệu
01. Ngày ra đơn vị
02. Mậu Thân Đợt 1
03. Mật khu A–shau
04. Mậu Thân Đợt 2
05. Đồng Xoài
06. Chiến khu Ba Lòng
07. Đức Cơ, Đường đi chưa dứt
08. Mật khu An Lão
09. Chiến trường Tam Biên
10. An Lộc Địa
11. Cổ Thành Quảng Trị
12. Bến Thế – Bình Dương
13. Xóm Đạo Tha La
14. Chiến khu D
15. Mật khu Mây Tào
16. Phước Long – Chứng tích kẻ chạy làng
17. Tàn cơn Binh Lửa
Lời Bạt

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù Hành Khúc


Lời giới thiệu
Giới thiệu tác phẩm TÀN CƠN BINH LỬA của BCD Lê
Đắc Lực.
Uất Hận Ngút Ngàn, Hùng Khí Chất Ngất!
I. Dẫn
Nhập
Chuyện kể chiến tranh “Tàn Cơn Binh Lửa” của cựu Đại
uý Biệt Cách Dù Lê Đắc Lực ra mắt độc giả vào tháng 5 năm 2014
tại Houston. Sách dày 308 trang kể cả bìa, in trên giấy trắng,
do tác giả tự xuất bản, gồm ba phần:
1. Phần chuyện kể từ
trang 29 đến 224, gồm 17 bài mô tả 17 trận đánh khốc liệt diễn
ra trên 4 vùng chiến thuật mà tác giả từng tham dự, không kể bài
Tâm tình của vị Thầy cũ, Tuổi ấu thơ, Ngày ra đơn vị, và bài
cuối Tàn cơn binh lửa.
2. Phần Thơ từ trang 257 đến 279,
gồm 14 bài thơ trong đó: 07 bài theo thể tự do, 06 bài thơ tám
chữ, và 01 bài lục bát. Mười bốn bài thơ cô đọng nghĩa tình của
một BCD với đất nước quê hương, đồng đội đồng bào, và với Mẹ VN
vô cùng tận.
3. Phần Phụ Lục từ trang 283 đến 304, gồm
các bài nhận xét rất giá trị của mọi thành phần độc giả về tác
phẩm.
Sau khi xếp lại Tàn Cơn Binh Lửa, tâm tưởng của tôi
không tàn mà như còn âm ỉ tro than của các trận Mậu Thân, An
Lộc, Tha La Xóm Đạo, A–shau, Đồng Xoài, Tam Biên, Kontum, Quảng
Trị... Như thể tro than đó có lúc bừng sáng trong tâm tưởng của
tôi hùng khí của một đơn vị quân đội lẫy lừng: Liên Đoàn 81 Biệt
Cách Dù.
II. Binh Pháp Sáng Tạo
Sau khi đọc xong
tác phẩm đầu tay của Lê Đắc Lực, tôi mới rõ phần nào nhiệm vụ
chính yếu của đơn vị đặc biệt này (dù tôi là một sĩ quan Không
Quân hiện dịch!). Điều thú vị nữa là, cũng qua Tàn Cơn Binh Lửa,
tôi mới biết được những “sáng tạo” về chiến thuật rất táo bạo và
khoa học do Cấp chỉ huy của Liên Đoàn nghĩ ra mà khi đem áp dụng
vào trận đánh đã đạt hiệu quả không lường. Sau đây là một vài
ghi nhận:
– Đó là “thả toán vào Mật khu, căn cứ của địch
để thám sát, thu lượm tin tức, bắt cóc tù binh, và trong vài
tình huống khẩn cấp, Liên Đoàn được tung vào để dứt điểm”.
(trang 228).
– Áp dụng chiến thuật “bất ngờ”, “gậy ông
đập lưng ông” nghĩa là dùng chiến thuật du kích của Việt cộng để
đánh Việt cộng qua các cuôc hành quân đêm, phục kích, nghi binh
lừa địch, dụ cho địch xuất hiện để quân ta nhổ chốt. (trang 176)
– “Đục tường”, hành quân trong thành phố, sử dụng dao găm,
lựu đạn, và võ thuật để diệt chốt địch. (trang 113, 164, 176).
– Mìn tự chế để chống chiến xa. “Dùng đạn không nổ 105ly hay
155ly, đút vào đầu viên đạn một thỏi thuốc nổ TNT, gắn ngòi nổ
mìn Claymore vào đấy, xong đặt trái mìn này trên các con đường,
trước tuyến phòng thủ, chờ xe tăng địch tới đúng vị trí, bấm vào
‘con cóc’. Sức công phá của loại mìn chống chiến xa tự chế này
đạt hiệu quả tối đa”. (trang 111).
– Áp dụng chiến thuật
pháo 7+3 để đánh lừa và nhân thể lúc địch núp để tránh pháo thì
phe ta áp sát diệt chốt địch. 7 quả đầu dùng đạn nổ, 3 quả tiếp
dùng đạn lép, chỉ có bắn đi mà không có đạn nổ. Vì đã biết
trước, bắt đầu quả pháo thứ 7 là phe ta nhanh chân tiến lên gần
các chốt, tung lựu đạn vào công sự của địch trong khi địch còn
cúi đầu (núp) để nghe tiếng đạn đi(trang 177).
Mỗi trận
đánh đều được kể lại trung thực chân thành. Cách đánh giặc của
Biệt Cách Dù mang tính mưu lược, độc đáo và gan dạ. Lời văn lại
giản dị trong sáng. Bao nhiêu điều đó đã làm hấp dẫn người đọc
từ trang đầu đến trang cuối!
III. Tâm Huyết Của LĐ81BCD
Những chiến sĩ của LĐ81BCD đều được huấn luyện chuyên môn kỹ
càng trước khi nhảy toán thám sát mục tiêu. Mỗi toán chỉ 6
người, nhất cử nhất động đều ăn ý với nhau, âm thầm len lỏi vào
Mật khu doanh trại của địch, xa hẳn tầm pháo yểm trợ của quân
bạn. Họ cùng thi hành “mission impossible” trong điều kiện như
vậy nên sinh tử không rời như một định mệnh!
Trong chiến
đấu, chỉ nhắm vào quân thù, tuyệt đối bảo vệ dân. QLVNCH nói
chung, đã thể hiện tính nhân bản này, trong đó có LĐ81BCD. “Tại
trận An Lộc, khi Đại Đội 2 BCD phát hiện một căn hầm, nghe vài
ba tiếng sột soạt phát ra, họ không vội ném lựu đạn mà kêu gọi
đầu hàng, đồng thời báo về thượng cấp. Trung tá Phan Văn Huấn
(bấy giờ), CHT Liên Đoàn, ra lệnh quan sát kỹ càng, có thể là
địch mà cũng có thể là dân, nhưng với hơn hai tháng chiến trận
xảy ra nơi đây, không lương thực không nước uống, thì đâu còn
sức chống cự, phải tìm cách đưa họ lên. Và thật không thể tưởng
tưởng được, vài ba phút sau, hai em bé gái chừng 6, 7 tuổi bò
ra...” (trang 114).
LĐ81BCD đã bảo bọc hai cháu từ đó.
Vào năm 1974, hai cháu được một người Mỹ nhận làm con nuôi, hiện
định cư tại Hoa kỳ. (trang 115)
Xin phép không đề cập đến
những lý tưởng thiêng liêng của một chiến sĩ như “Tổ Quốc, Danh
Dự, Trách Nhiệm”, mà chỉ nói đến những gì gần gũi hằng ngày của
một Biệt Cách Dù, là Toán, là Biệt Đội, là Liên Đoàn. Nôm na là
Đơn vị và Đồng đội.
Đơn vị là Gia Đình, Đồng đội là Anh
Em, sẵn sàng chia ngọt xẻ bùi!
Ngày 06 tháng 04 năm 1972,
Việt cộng tung đại quân gồm bộ binh, đặc công, pháo binh, xe
tăng, cố chiếm An Lộc để ra mắt cái gọi là Chính phủ Lâm thời
Miền Nam Việt Nam. Thượng cấp bèn điều động LĐ81BCD vào chiến
trường trong khi tác giả (Đại uý Lê Đắc Lực) đang thụ huấn khoá
Đại đội trưởng tại Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức: “Vừa suy tư
về tin tức nóng bỏng này, vừa lo âu cho đơn vị mình tham gia
trận đánh đang xảy ra ác liệt, tôi nôn nóng, băn khoăn vô
cùng...” “Toàn bộ các Đại Đội BCD đã vào chiến trường mà không
có tôi cùng chiến đấu, yên lòng sao được!” (trang 106).
Tình đơn vị là như vậy. Tình đồng đội là như vậy. Đơn giản như
hơi thở, như máu thịt. “Khi chưa kết hôn, 7 ngày phép với tôi là
quá dài. Tới ngày thứ tư đã thấy bồn chồn. Ngày thứ năm, tôi nhớ
Đồng Đội, nhớ Đơn Vị... Rồi không thể nghỉ phép hết ngày thứ
sáu. Tôi về Đơn Vị” (trang 121).
Hơi thở và máu thịt đó
được thể hiện qua quy định bất di bất dịch của LĐ81BCD: Nếu
chẳng may có một chiến sĩ bị thương hoặc tử thương, thì phải tản
thương họ, phải mang xác họ về hoặc phải chôn cất họ. Ban ngày
không thi hành được thì đợi ban đêm mà thi hành. Điều quy định
này giá trị như một quân lênh. (trang 117, 118, 119)
IV.
Tàn Cơn Binh Lửa
Suốt 20 năm chinh chiến (1955–1975),
QLVNCH nói chung và LĐ81BCD nói riêng, đã chiến đấu với mục tiêu
rõ ràng là Bảo Quốc An Dân. Chiến đấu để tự vệ. Trong khi đó,
mục đích của Việt cộng là xích hóa toàn Việt Nam theo lệnh của
quan thầy Nga Tàu, nhất là Tàu. Cuối cùng kẻ ác đã thắng, đưa cả
dân tộc vào bờ vực của Hán hóa.
QLVNCH dù bại trận, các
đơn vị đã rã ngũ, nhưng khí phách của các vị tuẫn Tướng vẫn sống
ngàn đời với hồn thiêng sông núi.
Riêng LĐ81BCD, vào giờ
thứ 25, vẫn là một đơn vị thiện chiến và kỷ luật. “Tất cả vẫn
giữ nguyên đội ngũ, từ Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đến các Biệt Đội,
bốn hàng dọc ngay hàng thẳng lối chậm rãi bước đi.” (trang
238)....
“Đoàn quân 81 Biệt Cách Dù vẫn hiên ngang tiếp
bước trên Xa lộ Đại Hàn. Đến gần trưa, khi qua khỏi Lăng Chú Hỏa
chừng 100 mét, trong khi đang dừng lại nghỉ ngơi gần Thủ Đức và
xa lộ Đại Hàn, thì một đơn vị Việt cộng đến gặp Đại tá Phan Văn
Huấn để nhận giao nạp vũ khí. Đại tá Huấn đã nói với họ: ‘Chúng
tôi đã ra đến nơi đây là chấp nhận đầu hàng. Chúng tôi sẽ bàn
giao vũ khí, nhưng mong các Ông không bắt buộc chúng tôi phải
cởi bỏ quân phục...’
Việt cộng chấp nhận yêu cầu này!”
(trang 238)
“Trước một Đơn vị Quân Đội hơn một ngàn
người, giữ kỷ luật, trật tự cho đến giây phút chót trong đời
quân ngũ, quân cộng sản không thể không tỏ lòng kính trọng và nể
phục” (trang 239).
Riêng tôi, tôi không thể cầm được ngấn
lệ khi viết đến dòng này. Tôi hãnh diện về quyết định sinh tử
của Đại tá Phan Văn Huấn trước cơn nguy biến, khi có trực thăng
đến đón Ông di tản: “Tôi có vợ và 8 con. Tôi có thể bỏ lại gia
đình nhưng không thể bỏ lại 2000 chiến sĩ của tôi để ra đi trong
hoàn cảnh như thế này được!” (trang 236)
Niên Trưởng của
chúng tôi, Cựu SVSQ Phan Văn Huấn, K10, đã ghi một Nét Son Hào
Hùng vào trang sử của Trường Mẹ, trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam!
Tôi hãnh diện về khí phách của Đại tá Huấn và tôi cũng cảm
thấy xấu hổ trước tinh thần kỷ luật và dũng khí của các chiến sĩ
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Xin cho phép tôi cúi đầu tri ân tất
cả chiến sĩ LĐ81BCD, dù đã hy sinh hay còn tại thế.
V.
Tâm Tình Riêng
Thân gởi Biệt Cách Dù Lê Đắc Lực,
Trước sau, chiến hữu vẫn là một Biệt Cách Dù xuất sắc và gương
mẫu, đã đóng góp thanh xuân của mình cho Quốc Gia Dân Tộc trên
chiến trường ngày xưa và tâm huyết của mình trên mặt trận Chiến
Tranh Chính Trị ngày nay, qua Chuyện Kể Tàn Cơn Binh Lửa.
Một Quân Đội tinh nhuệ như vậy, khí phách như vậy, nhân bản
như vậy, chính nghĩa như vậy, mà đành thua trận mất nước, hỏi
sao không uất hận ngút ngàn?
Dù Binh Lửa Tàn Cơn, nhưng
xét cho cùng, chiến hữu quả vô cùng may mắn và đầy hãnh diện, tự
hào vì đã phục vụ trong một đơn vị lẫy lừng: LĐ81BCD và được chỉ
huy bởi một Đơn vị trưởng tài ba, can trường và đức độ: cựu Đại
tá Phan Văn Huấn!
Xin chúc mừng và xin tỏ lòng ngưỡng mộ!
Bắc Đẩu Võ Ý
Thu 2016,
Westminster, CA
Kính gởi quý chiến hữu,
Muốn có tác phẩm Tàn Cơn Binh Lửa, xin liên lạc tác giả LÊ ĐẮC LỰC
Email: linhdu81@yahoo.com
Điện thoại: 832–443–7794
Trân trọng,
Cù Hanh
Cont’d: 01...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


01. Ngày ra đơn vị
“Khắp
bốn phương trời từng đoàn người trai về đây.
Dưới mái quân
trường hăng say gắng sức đua tài.
Dù ngàn hiểm nguy quyết
chí.
Một lòng thề luôn nêu danh
‘Sinh Viên Sĩ Quan Thủ
Đức’ hùng anh”.
–(Thủ Đức Hành Khúc)
Còn
khoảng một tháng trước khi tốt nghiệp, tình trạng Khoá 24 Sĩ
Quan Trừ Bị Thủ Đức của tôi khá vui, rộn rịp. Nó tương tự như
học sinh sắp nghỉ hè, “lòng nôn nao khó ngủ”. Quả thật, ở đây
không phải nghỉ hè mà ra trường. Ra trường? Đi đâu? Đơn vị nào?
Xa hay gần và xa bạn bè, bạn cùng khoá thì sao đây? Thời gian
Quân Trường 9 tháng, tuy ngắn ngủi mà tình cảm thì dài, “Từ Nam
Quan Cà Mau, từ sông sâu miền cao”. Đó là lời một bài hát của
mấy cô Cục Chính Huấn, nhưng cũng là con đường chúng tôi sắp đi
tới. Nam Quan thì không chắc, nhưng Cà Mau thì chắc chắn có
người sẽ không còn xa lạ gì!
Tôi thì nhất quyết rồi,
Không Quân Nhu, Không Quân Cụ nào hết, “thần tượng” đã có sẵn
trong tâm trí. Lính cho ra lính, không thể lính văn phòng, không
thể lính tuần tiễu, mà phải là lính đánh từ trên đầu giặc đánh
xuống. Đánh như thế chỉ là Không Quân, Nhảy Dù, nên trong đầu
tôi đã chọn Nhảy Dù, không phải vì người ta nói: “Thiên Thần Mũ
Đỏ” mà chỉ là vì đánh cho ra đánh, đánh cho địch phải chạy dài.
Đơn giản chỉ có vậy thôi.
Nhưng, cũng có những điều khó
ngờ trước được, còn khoảng một tuần là mãn khoá, tôi lại thay
đổi ý định...
Hôm đó, ở Hội Trường, bốn năm chiếc bàn của
các binh chủng: Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), Biệt Động Quân
(BĐQ), Nhảy Dù, Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) đang đón chào Sinh
Viên Sĩ Quan đến ghi danh tình nguyện. Bàn nào bàn nấy đông
người, đang chen chúc, hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Tôi đứng ở
bàn Nhảy Dù mà tôi đã ghi tên từ trước để tìm hiểu ít nhiều về
binh chủng hào hùng nổi danh này.
Bỗng chợt, tôi nhìn
thấy một “thần tượng mới” xuất hiện, mũ nồi xanh, ba bông mai
ngụy trang màu đen, áo bông rằn ri xanh đỏ màu huyết dụ, “cao
bồi” hai súng “ru–lô” hai bên hông, vai mang cây “six–trent
seize”, giày “bốt đờ–xô” cao cổ, nhưng từ đầu gối trở xuống còn
ướt mèm. Tôi ngạc nhiên bước đến cạnh hỏi:
– “Đại uý ở
Binh Chủng nào? Đi đâu mà ướt vậy?”
– “Tôi ở Binh Chủng
LLĐB, mới nhảy ở Mật khu Đồng Xoài, vừa triệt xuất; nghe tin
Khoá 24 Thủ Đức ra trường, vội lái xe đến đây để tuyển chọn các
tân sĩ quan về cho Binh Chủng”.
Tôi thấy tướng dáng ông
đại uý ngon lành quá, đúng là mẫu người lý tưởng của tôi, nên
tôi quyết định bỏ Dù chọn Lực Lượng Đặc Biệt. Tôi hỏi:
–
“Tôi chọn Dù rồi bây giờ chuyển qua bên này được không?”
– “Em cứ ký giấy đi, có người lo cho em”. Ông Đại uý giải thích.
Thế là tôi tình nguyện đầu quân về Binh Chủng LLĐB.
Giữa trung tuần tháng 7 năm 1967, lễ Mãn Khoá 24 Sĩ Quan Trừ Bị
Thủ Đức được tổ chức trọng thể tại Vũ Đình Trường, Thủ khoa là
nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan.
“Tang bồng hồ thỉ, phỉ
chí nam nhi” là từ đây.
Những chuẩn uý “măng sữa” chọn
Binh Chủng LLĐB nhận giấy nghỉ phép 10 ngày, cùng với Sự Vụ Lệnh
trình diện Bộ Tư Lệnh LLĐB ở thành phố biển Nha Trang.
Trình diện Bộ Tư Lệnh LLĐB xong, tôi và một số bạn đồng khoá
được bổ sung về phục vụ tại Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù (tên
cũ). Tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Lê Như Tú. Bộ Chỉ Huy đóng tại
Trại Hoàng Diệu, nằm sát Trại Tây Kết của Quân Chủng Hải Quân,
trên đường về Chụt, trước mặt là đại dương một màu xanh biếc,
ngày đêm vang vọng tiếng sóng vỗ rì rào. Từ Tiểu Đoàn, tôi được
bổ nhiệm tạm thời chức vụ Trung đội trưởng Trung Đội 3, Đại Đội
1. Đại đội trưởng là Trung uý Nguyễn Thanh Liêm, ông này tướng
cao to dềnh dàng. Nơi đồn trú Đại Đội 1 nằm chung với Đại Đội 2,
trong Trại Nguyễn Văn Tân, bản doanh của Trung Tâm Huấn Luyện
Hành Quân Delta, trên đường Phước Hải nối dài, đi về hướng Quân
Lao.
Khoảng ba tháng sau tôi theo học khoá Nhảy Dù ở
Trung Tâm Huấn Luyện Động Ba Thìn của Binh Chủng tại Cam Ranh.
Mãn khoá trở về đơn vị, thì nhận lệnh ba lô, áo giáp, súng đạn
đầy đủ cấp số, chuẩn bị lên đường quân hành xa.
Đây là
lần thứ tư, sau các cuộc hành quân truy lùng địch ở Mật khu Đồng
Bò, Tô Hạp, Plei Djereng, mà tôi đã và sẽ trực tiếp tham dự.
“Thao trường đổ mồ hôi, Chiến trường bớt đổ máu”.
Tôi
khởi sự đi vào trận chiến.
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d: 02...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


02. Mậu Thân Đợt 1
“Tình
người về giữa đêm xuân chưa dứt cuộc vui,
Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi...”
–(Chuyện một chiếc cầu
đã gãy –Trầm Tử Thiêng)

1. Giải tỏa Đài Phát Thanh Nha
Trang và Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận
Tết Mậu Thân (1968), tôi
không về phép ở Huế thăm gia đình, đang ở với đơn vị tại Nha
Trang. Tôi ra trường chưa được một năm; một năm là thời hạn để
thăng thiếu uý; còn mang lon chuẩn uý, “lon” trẻ nhất Quân Đội
Việt Nam Cộng Hòa, câu tôi thường nói đùa. Vả lại, tuổi tôi lúc
ấy mới quá 20, cũng còn là sĩ quan trẻ. Tôi đang làm Trung đội
trưởng Trung Đội 3 thuộc Đại Đội 1. Không về phép thì tôi... đi
chơi.
Không có lệnh cấm trại hay báo động gì cả. Những ai
trong đơn vị có nhiệm vụ trực gác thì cứ... “ở nhà”. Tôi rủ
Thiếu uý Nguyễn Ích Đoan, Thiếu uý Đặng Thiện Chẩn phóng xe
Honda đi uống càfé, nghe nhạc, một cái “gout” của đám sĩ quan
trẻ của chúng tôi thời kỳ ấy.
Chúng tôi đang ngồi trong
Quán Bar số 5, kế bờ biển Nha Trang, uống càfé vừa nghe nhạc,
mắt thì nhìn ra ngoài biển khơi. Đêm ba mươi, không trăng, biển
đen một màu buồn thăm thẳm.
Tới nửa đêm, ngay giờ Giao
Thừa, pháo nổ ran tứ phía. Nghe pháo, mọi người ai cũng vui, đón
mừng một Năm mới. Lòng tôi rạo rực như ngày nào của tuổi ấu thơ.
Tuy nhiên, tôi nghe tiếng pháo nổ hơi lạ, không phải là tiếng đì
đùng như tôi đã từng nghe. Pháo nổ hơi lâu, có ai đó trong quán
nhận xét:
– “Năm nay pháo nổ dữ, không chừng làm ăn khá!”
Anh ta vừa dứt câu thì tôi thấy trên đường trước Quán Bar,
đồng bào xôn xao, chạy lui chạy tới. Có tiếng la to:
–
“Việt cộng tấn công!”
Nghe thế, tôi đứng lên đi ra đường
thăm dò. Đồng Bào bây giờ chạy dáo dác đã đông lắm. Có tiếng la,
tiếng khóc. Tôi bực mình, nói thầm:
– “Mấy thằng Việt
cộng chó đẻ thật! Ngày vui của dân chúng mà nó cũng không tha.
Tổ Quốc đã không yên với chúng. Tổ Tiên cũng không yên với
chúng.”
Lúc đó, Đoan và Chẩn cũng rời quán ra đứng bên
tôi hốt hoảng nói:
– “Trở về Doanh Trại gấp! Về gấp!!!”
Mặc dù chưa có lệnh báo động, nhưng vì linh tính và trực
giác của những người lính tác chiến, chúng tôi vội vã lên xe
phóng nhanh. Huấn thị là mệnh lệnh chung, bất di bất dịch của
Đơn vị trưởng đã được ban hành. Quân Nhân thuộc cấp phải tuyệt
đối tuân hành:
– Phải tự động trở về ngay doanh trại mỗi
khi có biến động xảy ra chung quanh khu vực đơn vị trú phòng.
Trở lại đơn vị, tôi thấy hầu hết quân nhân các cấp tề tựu
đông đủ. Trung uý Nguyễn Thanh Liêm, Đại đội trưởng ra lệnh cho
các Trung đội trưởng kiểm điểm quân số, báo cáo binh lính đã về
đầy đủ chưa? Tôi tập họp, điểm danh, không thiếu một ai. Tôi
đoán biết với tình hình bất ổn này, Đại Đội phải ứng chiến hành
quân, tôi ra lệnh Trung đội phó Nồng A Si cho anh em chuẩn bị
nón sắt, vũ khí, và kiểm soát đạn dược. Và đúng như dự đoán,
lệnh cấm trại, túc trực chuẩn bị tác chiến được ban hành khẩn
cấp trong toàn bộ các đơn vị trú đóng tại thị xã Nha Trang.
Khoảng 3:00g sáng, Đại đội trưởng Liêm báo cho biết: Việt
cộng đã đánh chiếm Đài Phát Thanh Nha Trang và Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp
Vận. Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù và Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân
Delta có lệnh tái chiếm, ưu tiên là Đài Phát Thanh, không cho
địch dùng đài để tuyên truyền. Cũng may, mặc dù chiếm được Đài
Phát Thanh, nhưng, “mấy thằng mọi” này chẳng biết gì về máy móc
để mở ra mà dùng. Nhưng lỡ mà chúng nó chộp được một kỹ thuật
viên nào đó của đài, dí súng vào đầu anh ta, buộc anh ta mở đài
cho bọn chúng nói thì “mệt cầm canh” chớ chẳng chơi. Vì vậy, khi
Đại Đội 1 Biệt Cách Dù, được tăng cường cho Trung Tâm Hành Quân
Delta đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Phan Văn Huấn. Sau khi
được Thiếu tá Huấn phân phối nhiệm vụ và khu vực trách nhiệm,
Đại Đội 1 khai triển đội hình, di hành tiếp cận Đài Phát Thanh,
cách doanh trại chúng tôi khoảng chừng cây số, theo đội hình
hàng dọc, len lỏi hai bên phố và khu nhà dân chúng, cố tránh
không để địch phát hiện.
Trên đường không một bóng người.
Dân chúng phần đông trốn hết ở trong nhà, đóng cửa, tắt đèn, im
thin thít. Vậy là một Giao Thừa đầy súng đạn, làm mất đi niềm
vui sum họp mọi gia đình trong Lễ Tết Nguyên Đán năm nay. Bỗng
tôi tự nhủ thầm: “Yên tâm đi! Bà con ơi! Tôi đang trên đường đến
tiêu diệt chúng nó đây!” Rồi tôi lại chợt nghĩ tới thành phố Huế
của tôi: “Không biết bây giờ ngoài nớ ra răng? Có bị cùng chung
tình cảnh như Nha Trang bây giờ không?” Và một câu thơ, câu hò
nào đó mà thầy giáo đã đọc cho nghe từ thuở thiếu thời:
“Quê
hương chừng lạnh lắm!
Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi!
Mùa
Đông thiếu áo, lụt thời thiếu ăn”.
Tôi nghĩ tới cái lạnh của Huế. Tôi đâu có ngờ Huế của tôi
cũng chết chóc và tang thương như tôi biết sau này.
Đài
Phát Thanh nằm trên đường Phước Hải phía bên trái, trước mặt bên
kia đường là bức tường thành cao, kiên cố của Quân Lao Nha
Trang. Con đường này chạy dài đâm ngang đường rầy xe lửa, đường
Nhà Thờ và ngang qua trước mặt Đồn Quân Cảnh và Quân Vụ thị trấn
Nha Trang, rồi tiếp giáp đoạn cuối đường Độc Lập hướng đi lên
Diên Khánh. Phía sau lưng Đài Phát Thanh là một vùng trũng,
ruộng, và sình lầy, chạy kéo dài tới vùng núi Mật khu Đồng Bò.
Quân cộng sản đã chiếm hết toàn bộ Đài Phát Thanh, cả Trung
Tâm chính và các Trạm Phát Tuyến phụ nằm chung quanh, nhưng
chúng vẫn chưa sử dụng đài để phát thanh được.
Trung Tâm
Hành Quân Delta và Đại Đội 1 Biệt Cách Dù, được Thiếu tá Phan
Văn Huấn chia làm 2 mặt tấn công vào Đài Phát Thanh. Từ phía
trái của Đài, Đại đội trưởng Liêm đưa Trung Đội 1 của Thiếu uý
Đoan và Trung Đội 2 của Thiều uý Chẩn, tiến sâu theo đường Phước
Hải len qua trong một số nhà dân để bám sát tường thành Đài Phát
Thanh, Trung Đội 3 do tôi chỉ huy cùng Trung Đội 4 của Chuẩn uý
Tài, men theo các bờ ruộng, bò sát lên theo hướng Đông–Bắc để
tiếp cận hàng rào và bức tường đàng sau Đài.
Về mặt địa
hình, chúng tôi gặp phải những khó khăn, nhất là hàng rào quanh
Đài Phát Thanh, ngoài hai ba lớp rào kẽm gai là một bờ tường
cao. Việt cộng núp ở phía trong các cao điểm của trụ sở và các
lô cốt kiên cố có sẵn trong Đài để quan sát và bắn vào chúng
tôi. Trong khi chúng tôi thì quá trống trải, chỉ nhờ vào bóng
đêm và sử dụng các bờ ruộng để che chắn.
Đại Đội 1 Biệt
Cách Dù “quờn” với bọn chúng tới trời sáng. Bây giờ thì dễ quan
sát hơn. Ngoài những lợi thế như đã kể trên, bọn Việt cộng còn
núp trên các vọng gác tác xạ Trung Liên nồi và B40, gây trọng
thương nhiều binh sĩ trong đó có Chuẩn uý Tài Trung đội trưởng
Trung Đội 4, Thượng Sĩ Hoàng Thường Vụ, và 4 binh sĩ tử thương.
Mãi đến gần trưa, Tiểu Đội vũ khí nặng đã sử dụng một lượng khối
chất nổ để phá vỡ bức tường thành, các Trung Đội dùng Súng Cối,
Súng Phóng Lựu, Garant, Carbin, và Trung Liên Bar FM, tác xạ vào
các công sự, các ổ kháng cự của địch. Sau đó các Trung Đội, từ
hai hướng đã đồng loạt khai hỏa xung phong chiếm lại hầu hết các
Trụ sở, Văn phòng trong khu vực phía Nam của Đài, có 6 tên Việt
cộng buông súng đầu hàng, một số tháo chạy về hướng Mật khu Đồng
Bò, nhưng đã bị bắn chết trên đồng ruộng khô, cách bờ rào phía
sau Đài Phát Thanh chừng 50 mét. Trong lúc đó các Toán Thám Sát
Delta đã sử dụng sở trường, thâm nhập từ hướng Tây–Bắc men theo
tường sau của Quân Lao và nhà cửa của dân chúng để bò lên tiêu
diệt các ổ kháng cự nằm trong các Trạm Phát Tuyến phụ, hai tên
xạ thủ buông súng đầu hàng. Và ổ kháng cự ngoan cố cuối cùng của
Việt cộng ở trụ sở Trung Tâm Phát Thanh chính cũng đã bị các
Toán Thám Sát Delta triệt hạ, bắt sống thêm bốn tên khác.

Đến khoảng 3:00g chiều, Thám Sát Delta và Đại Đội
1 Biệt Cách Dù, dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Phan Văn Huấn, đã
hoàn toàn lấy lại Đài Phát Thanh. Chương trình phát thanh tái
hoạt động sau đó không lâu, để đồng bào được yên lòng.
Nằm trong thời điểm này, các Đại Đội 2, 3, 4, 5 của Tiểu Đoàn 91
Biệt Cách Dù cũng đang tấn công vào Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận đóng ở
cuối đường Độc Lập, bên trái hướng Đông Đông–Bắc là Chợ Đầm và
khu dân cư Phương Sài, bên phải hướng Đông Đông–Nam giáp Tiểu
Khu Khánh Hòa, và đàng sau chính Đông là biển Nha Trang.
Thiếu tá Lê Như Tú, Tiểu đoàn trưởng đã lệnh cho Trung uý Bùi
Ngọc Bích, Đại đội trưởng, đưa Đại Đội 5 đến giải tỏa áp lực
địch ở Khu Mã Vòng, và kế đến là Tòa Án Nha Trang. Nhưng khi
tiến đánh khu vực Tòa Án, vì tường thành ở đây cao và vững chắc,
địch ở bên trong có lợi thế, nên đã chống cự mãnh liệt, gây
thương tích nặng cho Trung uý Bùi Ngọc Bích. Sau đó Đại Đội 4 do
Trung uý Nguyễn Văn Tùng chỉ huy được điều động đến thay thế đã
thanh toán xong mục tiêu. Tờ mờ sáng Mồng 1 Tết, Thiếu tá Lê Như
Tú đưa Đại Đội 4 phối hợp với Đại Đội 3 do Trung uý Trần Hoạt
Thành chỉ huy làm nỗ lực chính, tấn công vào mặt cổng chính diện
của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, Đại Đội 2 của Trung uý Trần Duy Bình,
yểm trợ hỏa lực và Đại Đội 5 làm lực lượng trừ bị, án ngữ mặt
Tiểu Khu Khánh Hòa. Cuối cùng sau một ngày giao tranh khốc liệt,
Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù đã tái chiếm Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận,
tiêu diệt 50 tên giặc cộng, 30 tên bị trọng thương và bị bắt
sống. Riêng bên Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù cũng bị tổn thất nặng
nề. Thiếu tá Lê Như Tú, Tiểu đoàn trưởng, bị trọng thương phải
đưa đến Quân Y Viện Nguyễn Huệ cứu cấp, sau một tháng chữa trị
Thiếu tá Lê Như Tú đã vĩnh viễn ra đi, Trung uý Nguyễn Văn Tùng
Đại đội trưởng Đại Đội 4 đã bị tử thương, Đại uý Tiểu đoàn phó
Nguyễn Quang Vinh, Trung uý Trần Hoạt Thành, Đại đội trưởng Đại
Đội 3, Trung uý Nguyễn Văn Giỏi, Đại đội phó Đại Đội 2 và hơn 30
hạ sĩ quan, binh sĩ đã bị thương nặng. Tuy nhiên, đánh đổi lại
thành phố Nha Trang đã hoàn toàn an bình, mọi sinh hoạt đã trở
lại bình thường như trước đây.
2. Truy kích địch
tại “Mật khu Đồng Bò”
Việt cộng rút chạy rồi,
chúng tôi phải truy kích, phải tiêu diệt sạch bọn chúng, để cho
đồng bào được yên. Chúng không thể chạy ra biển, cũng không thể
ra Bắc hay vào Nam. Chỉ có một con đường: Mật khu Đồng Bò nằm
phía Tây Nha Trang, cách khoảng 5 cây số, tính theo đường chim
bay.
Thật ra, đây không phải là một Mật khu theo ý nghĩa
thông thường, mặc dù nơi này cây cối rậm rạp, núi cao, vách đá,
di chuyển rất khó khăn. Đây là nơi Việt cộng tập trung ém quân
sau khi chúng chuyển quân từ các khu vực Suối Dầu ven thị trấn
Thành (Diên Khánh) vào Mật khu Tô Hạp (Mật khu Tô Hạp nằm trong
dãy núi chạy dọc theo bên phải Quốc lộ 1 hướng vào Nha Trang,
nối liền với Mật khu Đồng Bò). Chưa bao giờ bọn Việt cộng đụng
độ với các Toán Thám Sát Delta hay các Đại Đội Biệt Cách Dù ở
Mật khu này. Bọn chúng biết thân, không chống nổi khi Quân Đội
ta phản công vào đây bằng hỏa tập phi pháo, nên chúng không đóng
quân ở đây, mà chỉ tận dụng núi non hiểm trở để chôn dấu vũ khí,
nghỉ chân hay thỉnh thoảng thiết lập những dàn phóng hỏa tiễn có
định giờ để pháo vào phi trường, các căn cứ Quân Sự của ta sau
khi bọn chúng đã cao bay xa chạy mà thôi.
Trong các cuộc
hành quân truy lùng địch cấp Đại Đội, hay nhảy Toán Thám sát
Delta, tôi đã vào ra Mật khu Đồng Bò không ít năm hay sáu lần,
mỗi lần một tuần lễ. Băng rừng, leo núi dãi dầu, đầm đìa mồ hôi,
mà chẳng thấy mặt mũi chúng nó ở đâu hết.
Tuy vậy, sau
khi Việt cộng tấn công vào Đài Phát Thanh và Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp
Vận thất bại, bọn chúng đã rút về ẩn náu trong Mật khu Đồng Bò.
Khi Đại Đội chúng tôi nhảy vào truy kích đã chạm trán đám tàn
quân này, đồng thời phát hiện trong một hốc đá, được lót bằng
nhiều lá cây rừng, một số tên bị thương tích được bọn chúng mang
về đây băng bó. Ngay ngày hôm đó, các thương binh Việt cộng đã
được trực thăng chúng ta đến bốc đưa về chữa trị tại Quân Y Viện
Nguyễn Huệ và tất cả về sau đều tự nguyện hồi chánh trở về với
chính nghĩa Quốc Gia.
Nghỉ ngơi, dưỡng quân khoảng chừng
hơn nửa tháng, Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù và Trung Tâm Hành Quân
Delta được không vận ra phi trường Phú Bài, Huế.
Lại được
về quê, nhưng có chắc gặp được Mẹ mình hay không nữa? Tôi ra đi
đã hơn hai năm rồi. Hẳn nhiên không mấy ai khi ăn trái chuối “ba
hương” mà không nhớ đến Người Mẹ thân yêu của mình!
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
03...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


03. Mật khu A–shau
“Ả
Sầu?” hay “Hổ huyệt?”
“Bất nhập hổ huyệt
An đắc hổ tử.”

Đại
uý Phan Văn Khánh, Tiểu đoàn trưởng (thay thế Thiếu tá Lê Như Tú
đã bị tử thương trong biến cố Tết Mậu Thân) sau khi bay một vòng
ở Trường Sơn để thám sát chọn bãi đổ quân, trở về đã họp tất cả
các Đại đội trưởng 1, 2, và 3 để phổ biến kế hoạch hành quân.
Ngày hôm sau, hai Phi Đội Trực thăng UH1B của Hoa Kỳ lần lượt
chuyển đổ ba Đại Đội Biệt Cách Nhảy Dù vào bãi đáp tại Mật khu
A–shau.
Ngồi trên trực thăng, nhìn núi rừng trùng điệp,
tôi bỗng miên man nhớ đến những thằng bạn cũ hồi còn đi học.
Phải chi có tụi nó cùng ở đây để được ngắm nhìn cái vẻ đẹp của
Quê Hương. Đẹp từ màu xanh của cây rừng, từ những đám sương mù
trắng đục bay là là bên sườn núi, đẹp từ những bãi rừng tranh
vàng mượt, sóng sánh theo từng cơn gió thổi qua.
Đoàn
trực thăng đảo nửa vòng rồi tuần tự đáp nhanh xuống một bãi
tranh trống, cách con đường khoảng 500 mét về hướng Nam. Tôi vội
vàng ra lệnh: “Go, Go, Go!”. Tất cả binh sĩ lao ra khỏi trực
thăng, ôm chặt súng phóng thẳng vào sát bìa rừng, bố trí phòng
thủ để cho cuộc đổ quân tiếp tục. Thượng sĩ già người Nùng Nồng
A Si, Trung đội phó đi kiểm điểm tuyến phòng thủ của binh lính
xong báo cáo đủ với tôi. Tôi cho lệnh Trung Đội nằm yên tại vị
trí, chú ý quan sát, lắng nghe mọi động tĩnh chung quanh.
Theo lệnh hành quân đã được ban hành, nhiệm vụ của Đai Đội
1, 2, 3 là tổ chức phục kích đoàn xe Molotova của địch, sẽ từ
phía Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh đi vào phía lãnh thổ của
ta, băng ngang qua thung lũng A–shau, và sẽ di chuyển ra đến gần
Lăng Minh Mạng để tiếp vận cho chiến trường Huế. Đoàn xe được
một Toán Thám Sát Delta phát hiện, đồng thời cũng được giải đoán
qua không ảnh do phòng Quân Báo Quân Đoàn I cung cấp.
Cuộc đổ quân hoàn tất. Đại uý Tiểu đoàn trưởng qua máy PRC25
lệnh cho các Đại Đội di chuyển thành ba cánh, tiến sâu lên hướng
Bắc, tiếp cận đường mòn, cùng phối hợp chặt chẽ với nhau, dàn
rộng đội hình, tổ chức phục kích, theo thứ tự Đại Đội 3, Đại Đội
2, và Đại Đội 1 nằm cuối cùng. Sau khi bố trí, giữ im lặng vô
tuyến chờ lệnh khai hỏa tấn công.
Rừng nhiệt đới, cây đại
thụ cao ngất, ít nhất cũng hai ba tầng lá ở trên, phi cơ rất khó
nhìn thấy. Trên mặt đất, không phải chỉ có một đường mòn mà hai
ba đường mòn nhỏ kế cận nhau. Xe địch di chuyển đã nhiều, trên
mặt đường trải dày đất đá hay các phên tre lót đường để tránh
lầy còn hằn in dấu các vết xe lăn. Hai bên lối mòn, các loại cây
thấp vẫn um tùm, xen lẫn với dây leo, dây mây chằng chịt, khó di
chuyển. Trung Đội tôi được lệnh trải rộng phục kích dọc theo
đường mòn, trong những lùm cây rậm rạp đó, địch không tài nào
phát hiện được!
Có tiếng máy “Đại Bàng” truyền lệnh cho
biết:
– “Đoàn xe địch đang di chuyển gần đến chúng ta, có
khoảng tám chiếc”.
Đúng như tin tức của các Toán Thám Sát
Delta cung cấp và giải đoán của Trung Tâm Không Ảnh Quân Đoàn I.
Trong phạm vi phòng tuyến phục kích của ba Đại Đội, kéo dài
khoảng chừng ba đến bốn trăm mét, khi toàn bộ đoàn xe đã vào
trọn tuyến phục kích, các Đại Đội phải dồn hết hỏa lực, tấn công
tiêu diệt tất cả, khi nghe phát lệnh khai hỏa.
Địch có vẻ
chủ quan, ngồi vắt vẻo trên thành xe, chẳng quan sát, đề phòng
gì cả. Tôi nghĩ thầm:
– “Bọn chúng nó lầm tưởng rằng đây
là vùng cấm địa của chúng, quân lính Miền Nam chẳng ai dám vào
đây chăng?”
Trời bắt đầu tối dần, đoàn Molotova đang từ
từ lọt hết vào đúng vị trí phục kích, sau khi Đại uý Tiểu đoàn
trưởng Phan Văn Khánh, phát lệnh khai hỏa. Các Đại Đội đồng lọat
nổ súng, kèm theo tiếng hô xung phong ầm ĩ vang rền cả một góc
trời, phá tan cái âm u, trừ tịch của khu rừng. Trung Đội tôi
cùng lúc tác xạ xối xả, nào Đại Liên, Trung Liên, Garant,
Carbine, bắn liên tục như pháo Giao Thừa vào chiếc xe chạy dẫn
đầu, làm nó nằm im, lửa bừng cháy bao trùm cả chiếc xe. Tiếng la
hét hỗn loạn chen lẫn với tiếng súng nổ phản công của bọn cộng
phỉ, tiếng đì đùng của mìn pháo trên các xe kế tiếp đang bốc
cháy, tạo nên một âm thanh rùng rợn và hỗn độn. Vài tên địch rơi
sầm xuống đất, nằm bất động tại chỗ “chắc không sống nổi”, tôi
chợt nghĩ như thế. Lựu đạn quăng tới tấp, những chiếc Molotova
nối đuôi, cùng chịu chung số phận, cũng đã bị các Trung Đội của
các Đại Đội 3, 2, 1 xơi tái, hạ gục, hết chiếc này đến chiếc
khác, lửa hừng hực lan rộng dọc theo con đường, lửa khói bốc cao
dữ dội, làm rực sáng và nóng bức cả một khu vực trong rừng đêm.
Sáng hôm sau, kiểm điểm tổng quát trận địa: Bên địch tám
chiếc Molotova bị bắn cháy cùng với rất nhiều vũ khí, đạn dược,
chiếc chạy dẫn đầu chứa đầy lương thực gạo, muối, lương khô, và
quân trang quân dụng của bọn chúng cũng bị thiêu rụi hầu hết.
Lục soát dọc theo khu vực đã tìm thấy 20 xác Cộng phỉ nằm
ngổn ngang dọc hai bên sườn núi, bên ta Đại đội trưởng Đại Đội 3
Trung uý Huỳnh Văn Thanh đã bị bắn một viên đạn AK, còn ghim
trong lồng ngực đã được bốc khẩn cấp đến Bệnh Viện Dã Chiến Hoa
Kỳ giải phẫu. Trung đội trưởng Chuẩn uý Nguyễn Hiền, Thiếu uý
Trương Út, và một số hạ sĩ quan, binh sĩ các Đại Đội 1, 2, 3 bị
trúng thương, tất cả đều đã được Trực thăng vận chuyển về hậu
trạm chữa trị.
Báo cáo tổng kết tình hình chiến trận cho
Đại Bàng xong, các Đại Đội được lệnh nhanh chóng rút quân về lại
bãi đáp để triệt xuất, đề phòng địch quân ẩn trú quanh đây chắc
không phải là ít, chúng sẽ tập trung lực lượng phản kích.
Trên trực thăng đang bay về lại căn cứ Hành quân Phú Bài.
Thắng trận, tôi vừa vui vừa ngậm ngùi. Tôi không ưa sự chém
giết. Đó là bản tính tôi. Tinh thần của một Phật Tử, truyền
thống của dân tộc còn nặng trong tâm tư tôi. Tôi không biện
minh. Đó chỉ là một điều tất nhiên mãi mãi tồn tại trong con
người của tôi.
A–shau là tiếng Thượng, tiếng của dân tộc
Vân Kiều hay Stiêng? Ả Sầu là tiếng A–shau được Việt hóa! Ả là
“cô ả”, là “cô nàng” nào đó. Có cô ả nào sầu vì thương những
người lính xông pha núi rừng như chúng tôi trong trận đánh vừa
qua??? Tôi thầm nghĩ:
“Đời
còn có người thương thì đời còn vui chán!
Thế nhưng ‘Nam nhi
cổ lai chinh chiến hề’”.
Không bao lâu sau đó. Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù, trong đó có
Đại Đội 1 chúng tôi do Đại uý Bùi Cao Thăng chỉ huy, lại lần nữa
nhảy vào Mật khu A–shau lần thứ hai.
Trong trận chiến này
Tiểu Đoàn đã quần thảo suốt hai ngày đêm với một Trung Đoàn
chính qui của cộng quân. Đại Đội 1 trong chiều tối đầu tiên đã
bị địch tấn công, vây hãm bất ngờ trên đường di chuyển. Trung
đội trưởng Trung Đội 2 Thiếu uý Đặng Thiện Chẩn, Khoá 22A Võ Bị
Đà Lạt đã bị tử thương bởi đạn B40, Hạ sĩ I Dục mang máy truyền
tin cũng cùng chung số phận, còn tôi bị một mảnh vỏ đạn súng cối
cắt vào bắp chân trái. Nhưng không vì thế mà làm sút giảm sức
kháng cự, chống trả của đơn vi. Trung uý Nguyễn Ích Đoan, Đại
đội phó đã tả xông hữu đột, sát cánh cùng tôi điều động binh sĩ
phản công, chận đứng các đợt xung phong biển người của địch
quân. Cuối cùng cũng nhờ được sự tiếp ứng kịp thời của các Đại
Đội 2, 4, và 5 cùng sự oanh kích chính xác của các chiến đấu cơ
A37 cộng quân đã phải tháo chạy, bỏ lại hơn 30 xác chết, lăn lóc
nhầy nhụa bên những chiếc hố đào vội vã, thoai thoải quanh dốc
đồi.
Cuộc đời của một con người đều có số phận. Trong
cuộc chiến tranh, đối diện với đầu tên mũi đạn, thập tử nhất
sinh, biết ai còn ai mất.
Và với riêng tôi, trong trận
chiến này, đây là lần đầu tiên tôi được nhận lãnh một “Chiến
thương Bội tinh” và một Anh Dũng Bội tinh ngôi sao đồng.
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
04...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


04. Mậu Thân Đợt 2
(Chợ Cây Quéo và Chợ Cây Thị)
“Thị
ơi, rụng xuống bị bà,
Bà đem bà ngửi,
chớ bà không ăn.”
Quả tình tôi quen với Sài
Gòn là quen với Mai Hương, Kim Sơn trên đường Lê Lợi, với La
Pagode trên đường Nguyễn Huệ, còn với những cái tên nôm na như
Chợ Cây Quéo, Chợ Cây Thị ở Gia Định, Gò Vấp thì tôi mù tịt. Cây
Thị thì còn biết, trong truyện cổ tích Tấm Cám, còn Cây Quéo là
“cây ra răng?”. Tôi hỏi đùa.
Không biết thì bây giờ phải
biết, mà biết thật kỹ nữa. Sinh mạng của tôi, sinh mạng của binh
lính tôi, tùy thuộc vào cái biết ấy.
Có lẽ ngày xưa vùng
này là đất hoang, có nhiều nghĩa địa nhỏ, và một vài Ông Thầy
“tránh miền trần tục đến tu đây”. Đến tu nơi đây, nên phải dựng
Chùa. Vùng này có mấy Ngôi Chùa.
Vì chiến tranh, đồng bào
tập trung về đây mà sống, được an toàn hơn. Sau 1954, đồng bào
miền Bắc di cư vào rất đông, vùng đồng hoang này được biến thành
khu nhà ở, chen chúc bên cạnh các mồ mả, trở thành khu bình dân,
lao động, nhà tôn, vách lá, nhiều hơn vách gạch.
Việt
cộng chia thành từng tổ nhỏ, ba bốn tên, núp trong nhà dân, núp
sau các ngôi mộ xây, hay các bia mộ. Vũ khí của chúng là AK47,
CKC, Trung, Đại Liên, B40, B41, khá mạnh. Chúng là một bộ phận,
cấp Tiểu Đoàn của Trung Đoàn Đồng Nai.
Các đơn vị của
Quân Lực VNCH tấn công Trung Đoàn này nhiều trận, nhưng chúng
vẫn còn mạnh. Lần này, đợt 2, Trung Đoàn Đồng Nai có nhiệm vụ
tiến chiếm vùng này để làm bàn đạp uy hiếp quận Gò Vấp, tiến lên
đường Võ Di Nguy nồi dài, tấn công vào cổng sau Bộ Tổng Tham
Mưu, địa điểm sân “Gôn” cũ, phi trường Tân Sơn Nhất hay mục tiêu
của chúng có thể Cổng số 2 Bộ Tổng Tham Mưu trên đường Võ Tánh
(cũ). Tuy nhiên, tới đây thì chúng bị khựng lại, không tiến thêm
được nữa, đang bị Quân Đội của ta bao vây.
Con đường xâm
nhập của chúng là từ An Phú Đông qua ngã Bình Lợi, không đi qua
Xóm Mới, Ngã Năm Chuồng Chó hay Ngã Ba Chú Ía, những nơi chúng
đã thất bại trong đợt 1.
Có hai cái khó khăn cho Quân Đội
VNCH khi tái chiếm khu vực này:
1. Chỉ có một số đồng bào
chạy thoát, một số bị chúng giữ lại, làm bia đỡ đạn. Điều này là
sở trường vô nhân đạo, tàn ác của cộng sản.
2. Tránh tối
đa việc tác xạ vũ khí nặng, làm hư hại nhà cửa của dân. Đó là
lệnh của Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô.
Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù dưới quyền Chỉ Huy của Thiếu tá Tiểu đoàn
trưởng Nhã, đánh nhau với giặc cộng hơn hai tuần nay ở Ngã Ba
Cây Quéo này. Tới hôm nay Tiểu Đoàn được lệnh bàn giao chiến
trường cho Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách
Dù. Không phải ai đánh giỏi hơn ai, nhưng vấn đề chính yếu là
chiến thuật. Với hai khó khăn nêu dẫn ở trên, các đơn vị Nhảy
Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân không thể tấn công
Việt cộng bằng một lực lượng lớn, qui mô, và hùng mạnh.
Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù sở trường đánh giặc
bằng du kích chiến, bằng những Toán nhỏ 6 người. Các Đại Đội
cũng được sử dụng đánh cấp Tiểu Đội hay Tiểu Đội cộng, có nghĩa
là quân số nhiều hơn cấp Tiểu Đội một chút.
Chiến thuật
trên, đã được Thiếu tá Phan Văn Huấn Chỉ huy trưởng Trung Tâm
Hành Quân Delta và Thiếu tá Trần Phương Quế vừa thay thế Đại uý
Phan Văn Khánh trong chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 91 Biệt
Cách Dù. Sau khi bay thám sát vùng trách nhiệm trở về, các vị
phổ biến, căn dặn kỹ càng trước khi chúng tôi khởi sự xuất phát
từ Ngã Ba Võ Tánh, Ngô Tùng Châu (tên cũ), tiến dần tới ngã ba
vô Chợ Cây Quéo, bên trái đường Ngô Tùng Châu, rồi tuần tự nhận
bàn giao phòng tuyến từ Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù.
Bàn giao
xong, chờ màn đêm sập xuống, các Toán Thám Sát Delta, các Tiểu
Đội khinh binh lặng lẽ khai triển đội hình, tiến lên theo hướng
vùng đã được phân định.
Việt cộng từ trong bắn ra từng
loạt đạn AK, CKC cầm chừng, các Toán Thám Sát Delta, theo dõi,
quan sát hướng chúng tác xạ, từ từ mò mẫm tiến gần chỗ chúng ẩn
núp, tung lựu đạn tiêu diệt. Riêng các vị trí đặt Đại và Trung
Liên của chúng, các Tiểu Đội, Trung Đội Biệt Cách Dù sau khi xác
định chính xác tọa độ mục tiêu, đã gọi điện báo cáo về Bộ Chỉ
Huy Tiểu Đoàn để xin yểm trợ hỏa lực. Trung uý Trần Duy Bình,
Đại đội trưởng Đại Đội 2 là “thiên tài súng cối 60ly”. Được các
Toán Thám Sát Delta cung cấp tọa độ vị trí địch, Trung uý Bình
điều chỉnh hướng, tầm bắn và tác xạ chính xác mười quả y chục,
đó là nhận xét của hầu hết các sĩ quan về tài thiện xạ của ông.
Nhờ vậy mà các Đại Đội Biệt Cách Dù xông lên chiếm lại lần
lượt các vùng cư dân đã bị Việt cộng chiếm đóng trước đây, đẩy
lùi bọn chúng ra khỏi vùng Ngã Ba Cây Quéo. Các trận đụng độ này
gây trọng thương cho Chuẩn uý Trần Anh Phong, Trung đội trưởng
và 12 hạ sĩ quan, binh sĩ.
Việt cộng mất dần trận địa,
cuối cùng “chém vè” rút quân, băng qua khu dân cư gần Xóm Gà
(Ngã Ba Ngô Tùng Châu – Lê Quang Định) về nhập chung với Trung
Đoàn Phú Lợi để cố thủ tại khu vực ngã ba Chợ Cây Thị.
Thừa thắng xông lên!
Sau khi tạm thời nghỉ dưỡng quân và
trang bị các loại súng XM16, M79, Đại Liên 60 cùng đạn dược tại
Bệnh Viện Ung Thư, Gia Định, hôm sau Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn
91 được lệnh đến thay Thủy Quân Lục Chiến do Trung tá Hoàng Tích
Thông chỉ huy, ở vùng Ngã Ba Cây Thị. Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục
Chiến rút ra làm phòng tuyến án ngữ chận hậu.
Tại mặt
trận Ngã Ba Cây Thị, Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù
trong đó có Trung Đội 3 Đại Đội 1 do tôi chỉ huy chiến đấu rất
khó khăn, cam go, vất vả hơn. Việt cộng tập trung toàn bộ lực
lượng của hai Trung Đoàn quyết một mất một còn. Trong khu vực
nghĩa địa, trong các Chùa chiền, chúng đào giao thông hào, hầm
hố, đắp các công sự ở các góc vườn, các ngã tư đường để chận
đường tiến công của ta. Các Toán Thám Sát Delta, các Đại Đội
Biệt Cách Dù cũng từng bước từng bước tiêu diệt các chốt chặn
bằng lựu đạn, bằng kỹ năng tác xạ súng cối điêu luyện của Trung
uý Trần Duy Bình. Rốt cuộc, trước lối đánh đêm “xuất quỷ nhập
thần” này, kèm theo ban ngày có các Chiến Xa M113 và Trực thăng
Gunship ồ ạt truy kích, để rồi sau suốt một ngày quần thảo, Việt
cộng tháo chạy, rút lui về hướng Cầu Bình Lợi, tìm đường trở lại
An Phú Đông. Quá xui xẻo cho chúng, chúng gặp ngay Tiểu Đoàn
TQLC đang chờ sẵn. Toàn bộ 200 tên giặc cộng không đường thoát,
phải buông súng đầu hàng, khoảng 100 tên bỏ xác rải rác trong cả
hai khu vực Cây Quéo và Cây Thị. Bên Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn
91 Biệt Cách Dù có hơn 20 binh sĩ bị thương và một sĩ quan:
Thiếu uý Trần Phụng Tiễn, Khoá 22A Võ Bị Đà Lạt, Trung đội
trưởng, Đại Đội 2 tử thương vì hỏa tiễn B40 của địch.
Tên
Thượng tá Hoàng Văn Xướng, chỉ huy mặt trận này, giả dạng thường
dân trà trộn trong quần chúng để đào thoát bị nhận diện, bắt
sống tại chỗ.
Cũng trong thời gian này, một đơn vị Biệt
Động Quân tiến đánh một ổ đặc công đang chiếm giữ phía đầu Cầu
Băng–Ky trên Quốc lộ 1 cũ, đường lên Thủ Đức và hạ sát toàn bộ 8
tên.
Sau hơn tuần lễ, nhờ áp dụng chiến thuật đánh đêm
theo lệnh của Thiếu tá Phan Văn Huấn, Chỉ huy trưởng Trung Tâm
Hành Quân Delta, mà các Toán Thám Sát Delta và các Đại Đội 91
Biệt Cách Dù đã nhanh chóng giải tỏa áp lực địch và tái chiếm
toàn diện Ngã Ba Cây Quéo và Cây Thị, xóa sổ hoàn toàn Trung
Đoàn Đồng Nai và Trung Đoàn Phú Lợi.
Đây là một chiến
công hiển hách, vang dội làm nức danh Thám Sát Delta và Tiểu
Đoàn 91 Biệt Cách Dù. Đồng Bào đứng chật dọc theo hai bên đường
để chào đón, hoan nghênh đoàn quân chiến thắng Biệt Cách Dù trên
đường lui binh để tiếp tục nhận lãnh nhiệm vụ mới ở khu vực Bình
Hưng Hòa, Bà Điểm.
“Đường trường xa, ta quyết đi cho đến
cùng... hai... ba...”
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
05...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


05. Đồng Xoài
“Em
hỏi anh bao giờ trở lại.
Xin trả lời mai
mốt anh về
Anh trở về...
có thể bằng chiến thắng Pleime
hay Đức
Cơ, Đồng Xoài – Bình Giã”
–(Linh Phương)

Trận
Đồng Xoài xảy ra vào tháng 6 năm 1965, với rất nhiều thương vong
cho cả hai bên hay chỉ về phía Quân Đội VNCH mà thôi, tôi không
biết rõ. Tôi cũng không quan tâm về việc người ta phê phán các
ông tướng lo họp hành đảo chánh, làm chính trị, không phản ứng
kịp nên trận Đồng Xoài mới có kết quả đau thương như thế.
Vào khoảng trung tuần tháng 5 năm 1968, theo nhu cầu của Bộ
Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 91
Biệt Cách Dù, được điều động đến thị xã Đồng Xoài để tổ chức
hành quân truy tìm, phát hiện mọi hoạt động của các đơn vị địch
vùng ngoại vi của thị xã Đồng Xoài. Tên địa danh này thì tôi đã
nghe, nhưng Đồng Xoài nằm ở đâu? Dấu hỏi đó không rời trí tôi.
Nhìn vào bản đồ, từ thành phố Bình Dương, Thủ Dầu Một theo
Quốc lộ 13 đi về hướng Bắc, khi gần đến thị trấn Chơn Thành sẽ
là chỗ gặp nhau của Quốc lộ 13 và 14. Quốc lộ 13, tiếp tục theo
hướng Bắc, ngang qua thị trấn Chơn Thành, rồi đến thị xã Bình
Long và xa nữa là Lộc Ninh. Quốc lộ 14 đi về hướng Đông
Đông–Bắc, qua Cầu Suối Ngang, rồi đến thị xã Đồng Xoài. Từ thị
xã Đồng Xoài về hướng Tây–Bắc là thị xã Bình Long, hướng
Đông–Bắc là thị xã Phước Long. Hai bên Quốc lộ là những khu rừng
dày đặc bao phủ. Bao nhiêu xương máu đổ ra nơi này? Thế hệ sau,
người đời sau có ai khi đi qua nơi này sẽ thấy “Kẻ hành nhân qua
đó chạnh thương!”
Tôi không thể quên Bình Long, nơi tôi
đã tham dự một trận đánh “long trời lở đất”, nhưng điều tôi vẫn
nhớ hoài là Nghĩa Trang 81 Biệt Cách Dù, nơi tôi đã góp công xây
dựng, chiến hữu của tôi vẫn còn nằm lại đó.
Nhìn chung,
trong cả hai trận chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt
(1945–1954), và lần thứ hai (1960–1975), Miền Đông Nam phần là
một chiến trường đẫm máu vì vùng này bao gồm: Bình Long, Phước
Long, Phước Thành (một tỉnh đã bãi bỏ) có một vị trí chiến lược
quan trọng. Vùng này cách Sài Gòn không xa, khoảng 100 cây số,
tiếp cận với biên giới Việt–Miên là con đường xâm nhập bộ đội và
vũ khí của cộng sản từ xứ Chùa Tháp qua Việt Nam. Ngay sát trên
biên giới này là Mật khu Bùi Gia Mập.
Vì tính cách chiến
lược đó, khoảng đầu năm 1965, một căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt:
Trại Đồng Xoài được thiết lập ở đây. Đây là một nút chặn quan
trọng, có nhiệm vụ phát hiện hoạt động của cộng quân. Từ Đồng
Xoài, chúng sẽ tấn công Bình Long? Sẽ tấn công Phước Long? Sẽ
tiến xuống Trị An? Từ nơi này, chúng vượt qua Rừng Lá. Ngay phía
Đông Rừng Lá là Mật khu Mây Tàu, vùng Xuân Lộc, Long Giao, Phước
Tuy, Đất Đỏ, có yên được không?
Quân Đoàn III, với ba Sư
Đoàn 5, 18, và 25, không đủ sức “bao giàn” một vùng đất rộng lớn
này, rừng núi trùng điệp bao phủ. Đằng sau nó, là vùng tiếp vận
của ông Hoàng Xứ Miên.
Mặc dù, ngay từ đầu, Việt cộng phá
rối, pháo kích, tấn công, cố nhổ cho được Trại Lực Lượng Đặc
Biệt Đồng Xoài, nhưng căn cứ này vẫn đứng vững. Đồng Xoài đóng
một vai trò quan trọng trong trận chiến giải tỏa An Lộc, tồn tại
đến tháng 4/1975.
Việt cộng thường chuyển quân, xuất phát
từ Cambodia theo Tỉnh lộ 748 ngang qua Bù Đốp và Tỉnh lộ 741
ngang qua Bùi Gia Mập để vào lập căn cứ địa trong Khu Tam Giác
của ba thị xã: Phước Long, Bình Long, và Đồng Xoài. Bọn chúng
thường tránh đụng độ với bất cứ đơn vị Quân Đội VNCH nào hoạt
động ở đây. Về mặt chiến thuật, không lợi ích cho chúng, dù có
thắng lợi chăng nữa. Bọn chúng dùng nơi đây để tăng gia sản
xuất, ém quân, điều nghiên chiến trường và đắp mô trên các trục
lộ để khủng bố, sát hại đồng bào, cùng ngăn chận sự chuyển vận
binh sĩ của các đơn vị trú đóng tại địa phương.
Bốn Đại
Đội 1, 2, 3, và 4 của Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù và Trung Tâm
Hành Quân Delta được C130 của Quân Đội Hoa Kỳ chuyển vận đến
Đồng Xoài. Từ căn cứ hành quân đóng cạnh một bìa rừng bên trái
Quốc lộ 13 và Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Xoài, các Toán Thám
Sát Delta được Trực thăng UH1B bốc thả vào hoạt động trong khu
vực nằm giữa ba thị xã này.
Khi các Toán Thám Sát Delta
phát hiện các khu vực trồng sắn, bắp ở dưới các trũng đồi chạy
dọc theo các con suối, và một khu nhà ở, nhà kho, thì Tiểu Đoàn
91 Biệt Cách Dù đã đưa Đại Đội 1 và 2 nhảy vào khai thác mục
tiêu. Ở đây, Việt cộng đã dựng lên những ngôi nhà dưỡng quân,
nuôi quân để chuẩn bị cho chiến trường ở Bình Long, Lộc Ninh hay
Phước Long, v.v. Bên cạnh các trại dưỡng quân là các nhà kho
chứa ngô, khoai, sắn, và phần nhiều là gạo. Gạo của Tàu cộng. Và
dọc theo vài đường mòn lớn, cứ khoảng vài ba cây số đường rừng
thì có một ụ muối, tựa như những gò mối, được lợp và bao phủ
chung quanh bằng một loại lá giống như lá cây cọ, gọi là “Lá
Trống Quân” để ngụy trang và che mưa rất kín đáo.
Quân
Việt cộng ở đây là thành phần thương binh, có nhiệm vụ dưỡng
thương và tăng gia sản xuất, cùng một số liên lạc viên trên
đường đi đã dừng lại nghỉ quân, bọn chúng cố gắng phản công, bảo
vệ kho tàng, nhưng làm sao có thể chống trả lại Biệt Cách Dù?
Ngoài một số tên bỏ mạng bị thương và bị bắt, số còn lại rút
về hướng Tây trong vùng rừng núi Long Tân, Phú Riềng.
Nhìn những “tên lính sữa” mới thôi bú mẹ, tôi thấy xúc động. Hỡi
các Bà Mẹ phía Bắc vĩ tuyến 17, các Mẹ có đau lòng chăng khi
những đứa con chưa đủ lớn, đã bị bọn lãnh đạo ở Bắc Bộ Phủ đưa
vào miền Nam làm bia đỡ đạn. Không ít những tên bị bắt là thương
binh loại nhẹ. Còn những tên bất khiển dụng thì ở đâu? Chỉ một
viên đạn AK, bọn lãnh đạo cộng sản bớt đi những vướng bận chiến
trường. Tàn bạo như thế là cùng!!!

Khoảng hai tuần sau đó, Đại Đội 3
và 4 đổ quân xuống mạn Bắc thị xã Đồng Xoài, kế cận khu Lương
Võ, cũng phát hiện một căn cứ địa có hầm trú ẩn và trạm xá. Tấn
công vào đây, sát hại 10 tên địch, và hướng dẫn phi cơ oanh
kích, hủy diệt toàn bộ căn cứ này.
Trong thời gian hành
quân tại thị xã Đồng Xoài, sau lần cùng Đại Đội 4 nhảy vào khai
thác mục tiêu, tôi tình nguyện về Trung Tâm Hành Quân Delta do
Thiếu tá Phan Văn Huấn là Chỉ huy trưởng. Tại nơi đây, tôi nhảy
“thử gió” cùng Toán 1 Thám Sát Delta, Toán trưởng là Thiếu uý
Phạm Phan Anh, bạn cùng Khoá 24 sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức với tôi.
Nhảy thử gió là chuyến thâm nhập Toán lần đầu tiên khi về
phục vụ Trung Tâm Hành Quân Delta.
Sĩ quan mới về đơn vị
sẽ đi theo thực tập (học nghề) với một cựu Toán trưởng từng
trải. Toán gồm 6 người, 02 là quân nhân Hoa Kỳ và 04 là Việt
Nam. Thời gian hoạt động là 7 ngày, nhưng cũng tùy theo nhu cầu,
nhiệm vụ, thời gian hoạt động cũng có thể rút ngắn hay gia tăng.
Thông thường chuyến thâm nhập thử gió may ít rủi nhiều, nên
trước khi Toán lên đường xâm nhập, thường được các đồng đội tiễn
ra tận trực thăng, siết chặt tay cùng với lời nhắn nhủ rất kinh
dị mà chân tình:
– “Đi nhớ trở về nghe mày!”
Và
tiếp nối là những vẫy tay từ giã, hoặc cũng có thể là vĩnh biệt,
cho đến khi trực thăng mất hút trong không gian mờ nhạt của trời
chiều.
Sau lần thử gió, tôi đảm nhận Trưởng Toán 3 Thám
Sát Delta, và cũng từ đó, trên bước đường quân hành vạn nẻo qua
các chức vụ, tôi đã thâm nhập vào các Mật khu của giặc cộng khắp
03 Vùng Chiến Thuật I, II, III như: Khe Sanh, Ba Lòng, A–shau,
Khâm Đức, Ba Tơ, An Lão, Dakto, Tam Biên, Đồng Bò, Tô Hạp, Mõm
Chó (Krek), Mây Tào, Đồng Xoài, và Chiến khu D, và cũng đã lập
được ít nhiều chiến tích cho Đơn Vị.
Về sau, khi trở
thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù (Ngày 01 Tháng 8, Năm
1970), sau khi Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, như là
một truyền thống cố hữu, bất cứ một sĩ quan trong Liên Đoàn,
được Đại tá Phan Văn Huấn Chỉ huy trưởng, cất nhắc đảm nhận chức
vụ Biệt đội trưởng, ngoài các chiến công, thì phải, đã, từng đảm
nhận các chức vụ Trưởng Toán Thám Sát, Trung đội trưởng, Đại đội
phó, Biệt đội phó các Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù. Và cũng xuất
phát từ truyền thống này mà hiệu năng tác chiến của Liên Đoàn
được nâng cao, mang lại nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng,
tạo nên uy danh cho Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trong Quân Sử Quân
Lực VNCH và lưu truyền cho hậu thế.
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
06...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


06. Chiến khu Ba Lòng
“Đường đi khó, không khó...”
Bài
học mạo hiểm ấy ám ảnh tôi không ít kể từ khi Ông Thầy dạy Việt
Văn giảng bài học đó năm tôi học lớp Đệ Tứ, tại trường Bồ Đề,
Huế.
Thật vậy, ra trường tôi đã chọn Nhảy Dù. Vậy mà thấy
ông Đại uý Lực Lượng Đặc Biệt trông ngon lành quá, tôi lại chọn
đơn vị ấy. Từ ngày về Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù, cùng phối
hợp hành quân với các Toán Thám Sát của Trung Tâm Hành Quân
Delta, tôi lại muốn chuyển qua Delta. Là người tháo vát, năng
động, mà lại còn ưa thích mạo hiểm, tôi nghĩ ý định này thật quá
phù hợp.
Hành quân với Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù,
thông thường mỗi cánh quân là cấp Đại Đội. Khi tấn công vào các
mục tiêu, Đại Đội mới phân ra cấp Trung Đội để đảm trách vùng
trách nhiệm nào đó. Không mấy khi hành quân cấp Tiểu Đội. Ngoại
trừ trong biến cố Tết Mậu Thân, tại mặt trận Ngã Ba Cây Quéo,
Cây Thị.
Nhảy Toán Delta thì khác, mà lại khác hẳn
Mỗi Toán Delta chỉ có sáu “ngoe”, tiếng tôi thường nói đùa.
Đó cũng là hình ảnh ngo ngoe mấy cái cẳng chân của con cua hay
con kiến, con nhện. Sáu người trong Toán, hoạt động hỗ tương
cùng với nhau: thâm nhập, di chuyển, yểm trợ, cứu cấp khi có
biến cố hữu sự, canh gác, đóng quân, phục kích, và triệt xuất,
v.v. nhưng mỗi cá nhân là một sở trường chuyên môn, đã được huấn
luyện thuần thục, để dễ dàng thực hiện mọi công tác, nhiệm vụ
được giao phó...
Tất cả là một sự phối hợp nhịp nhàng,
đồng bộ, hoàn chỉnh. Không có một sự phối hợp nào hoàn hảo hơn,
chẳng qua là vì tính mạng. Tính mạng của mỗi người dính chặt với
tính mạng của cả sáu người, kể cả 2 anh chàng Mẽo kềnh càng. Mỗi
Toán 6 người, Toán nào cũng có 2 chàng là “Biệt Cách Mỹ”
(Special Force).
Tôi làm Trưởng Toán 3 Delta. Lệnh lạt
trong Toán phải thi hành nghiêm chỉnh, kể cả 2 anh bạn Đồng
Minh. Tôi ra lệnh sao, họ làm y vậy.
Hành quân có 2 anh
bạn Mỹ có nhiều cái lợi, nhất là mặt yểm trợ, cần thiết để tải
thương, rút lui, oanh tạc địch, phá hủy mục tiêu: kho tàng, căn
cứ địa, v.v. Họ gọi máy bay tới là có ngay. Nhưng anh nào cũng
to lớn dềnh dàng, nên di chuyển trong rừng khó khăn, khó che
giấu, dễ bị địch phát hiện. Khi nổ súng họ hay la to, bất lợi.
Âm thanh có thể làm cho địch dễ suy đoán “phe ta” đông hay ít.
Thỉnh thoảng tôi lưu ý về cá tính này, mấy “ổng” nói “OK! OK!”
rồi nhe bộ răng trắng ra cười trừ, nhất là mấy anh đen, mặt thì
đen mà răng lại trắng nõn. Tuy nhiên về cá tính tinh thần họ
không thua kém gì đồng đội đồng bào của tôi. Không những nhiệt
tình mà tận tình với mọi người trong Toán.
Toán 3 Thám
Sát của tôi nhận lệnh hành quân, địa điểm nhảy Toán là Mật khu
Ba Lòng
Mật khu Ba Lòng nằm về hướng Tây–Nam của tỉnh
Quảng Trị. Hình như tôi nhớ không lầm Ba Lòng, nằm thu gọn giữa
hai con sông Thạch Hãn và Đa–Krong, giao nhau ở hướng Tây
Tây–Nam của xã Bông–Kho, hướng Tây Tây–Bắc là Quốc lộ số 9. Mật
khu Ba Lòng trải dài từ hướng Tây–Bắc xuống hướng Đông–Nam. Ba
Lòng! Sông cạn sâu như thế nào mà gọi là Ba Lòng, một tên gọi
nôm na cụ thể hay có ý nghĩa gì khác?
Thời Đệ Nhất Cộng
Hòa, Ba Lòng là một quận thuộc tỉnh Quảng Trị. Sau năm 1960,
thực hiện ý đồ “chiếu cố miền Nam”, tức là đưa quân xâm lược
Miền Nam Việt Nam, Ba Lòng trở thành một trở ngại chiến lược
trên con đường xâm nhập vào Nam của cộng sản Bắc Việt. Vì vậy,
Việt cộng cố nhổ cho được khúc xương Ba Lòng này. Bấy giờ, sau
khi chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ, tình hình chính trị tại Sài
Gòn bất ổn, lợi dụng cơ hội đó, Việt cộng tấn công dữ dội vào
quận Ba Lòng, khiến quận phải di tản, rồi xóa sổ, xem như giao
quận miền núi này cho cộng sản tự do hoạt động. Phía Chính Quyền
Miền Nam, chỉ còn giữ được quận Hương Hóa, nhờ quận nằm hai bên
Quốc lộ 9, con đường chiến lược, chúng ta không thể bỏ đi được.
Toàn bộ Trung Tâm Hành Quân Delta được bốc từ Nha Trang ra
phi trường Ái Tử (Đông Hà). Từ đó, di chuyển lên quận Hương Hóa
ở phía Cùa, hay còn gọi là Tân Sở, căn cứ kháng chiến của Vua
Hàm Nghi ngày trước, khi Nhà Vua chuẩn bị chống nhau với Pháp,
mở đầu cuộc kháng chiến lâu dài...
Tin tức từ Phòng 2 Bộ
Tư Lệnh Quân Đoàn I cho biết có nhiều dấu hiệu hoạt động của
Việt cộng trong khu vực Mật khu Ba Lòng, Khe Sanh, Lao Bảo. Quân
Đoàn cần biết đích xác đơn vị, quân số, mục đích của địch ở các
vùng này. Đây là những khu vực chuyển quân, khí tài, lương thực
của địch cho chiến trường miền Nam của chúng. Dĩ nhiên là trên
đường mòn Hồ Chí Minh. Con đường này gặp khó khăn khi chúng phải
vượt qua Quốc lộ 9, là con đường nối từ Đông Hà, qua Cam Lộ, Khe
Sanh, Lao Bảo, Pha–Lan, Chépone, và chấm dứt ở Savanakhet.
Địch không có cách nào khác, dù sinh tử, Việt cộng phải cố
sống cố chết vượt qua Đường số 9 để vào chiến trường Miền Nam.
Nhận lệnh từ Trung Tâm Hành Quân xong, cầm trong tay tấm bản
đồ, tôi lên trực thăng bay một vòng, quan sát để chọn bãi xâm
nhập và triệt xuất trong khu vực Ba Lòng, nơi Toán sẽ hoạt động.
Chiều hôm sau, Toán 3 tôi trở lại Trung Tâm Hành Quân, trong
một cái nhà tăng [tent] bằng vải dầu, dựng trên một khu đồi
trọc, trong phạm vi Chi Khu Hương Hóa. Trước mặt là Trung tá
Phan Văn Huấn Chỉ huy trưởng, Trưởng phòng 2, Trưởng phòng 3, và
các Toán viên, tôi trình bày kế hoạch hành quân với đầy đủ các
chi tiết diễn tiến, thâm nhập, lộ trình, đối phó, mật lệnh, liên
lạc, triệt xuất, v.v. Theo đúng chỉ thị đã được đề ra trong Lệnh
Hành Quân và từ Đơn vị trưởng. Để thi hành nhiệm vụ, sau khi
Toán được Trực thăng UH1B thả xuống bãi ở phía Nam vùng hành
quân, Toán di chuyển thám sát về hướng Bắc, xong chuyển hướng
Tây–Bắc, trong chu vi 5x10 cây số mỗi bề của vùng mà Toán 3 đảm
nhận.
Chỉ huy trưởng, các Trưởng Phòng đặt cho tôi một số
câu hỏi, để nắm chắc mọi tình huống xảy ra mà Toán 3 có thể ứng
phó được, v.v.
Buổi trình bày kế hoạch chấm dứt, Toán 3
trở về nghỉ ngơi, kiểm soát lại lương thực, vũ khí, đạn dược để
chuẩn bị lên đường ngay chiều tối hôm nay.
Nhu cầu thám
sát trong rừng phía Tây của tỉnh Quảng Trị, không chỉ một mình
Toán của tôi đảm nhiệm. Khu vực núi non trùng điệp bên này
Trường Sơn, bên kia là lãnh thổ Lào, sẽ có các Toán Thám Sát
Delta khác nữa, hoạt động ở một số khu vực như: Lao Bảo, Làng
Vây, Khe Sanh, với những nhiệm vụ nguy hiểm và hấp dẫn hơn, đó
là phục kích bắt sống các cán bộ Việt cộng, không được gây
thương vong, để mang về khai thác tin tức. Chúng sẽ cho những
tin tức nóng hổi và hấp dẫn về tình hình địch hiện tại, hay địch
sẽ thực hiện trong thời gian tới.
Những Toán Thám Sát
Delta được giao nhiệm vụ bắt sống địch quân, sau khi phục kích
tóm được một tên Việt cộng nào, thì ngay tức khắc, Toán sẽ được
trực thăng nhanh chóng vào vùng bốc đưa trở về căn cứ hành quân.
Thời gian hoạt động các Toán Thám Sát, vẫn luôn là 7 ngày, nhưng
có thể kéo dài hơn hay thu ngắn, tất cả tùy thuộc vào tình hình
trận địa, chạm địch, thương vong hay bắt được tù binh.
Với đầy đủ súng đạn, khí tài cần thiết, và 7 ngày lương khô,
ngay trong chiều nay, Toán tôi được đổ xuống bãi đáp mà tôi đã
chọn. Thời điểm đổ quân phải là lúc chiều tàn, khi sương lên
nhiều, và màn đêm đang từ từ phủ xuống, thời gian đó địch khó
quan sát và theo dõi. Bên cạnh đó, lại có mấy trực thăng khác
đáp nghi trang thêm một vài nơi, khiến địch, dù có nghi ngờ,
cũng không thể phát hiện được nơi chúng tôi đổ bãi.

Đổ bộ xuống bãi, Toán cấp tốc di chuyển theo phương hướng,
lộ trình đã được trình bày kế hoạch. Toán tuyệt đối không bao
giờ di chuyển trên các con đường mòn, vì để lại nhiều dấu vết,
rất dễ bị phục kích và gặp phải nhiều mìn, bẫy. Rừng nhiệt đới,
cây rừng to cao, tàn che kín trời. Mặt đất rậm rạp, cây nhỏ, cây
mây, cây cọ, cây nứa, che kín, mịt mùng rất khó di chuyển. Toán
len lỏi, chậm rãi, vạch lá, men theo sườn rừng, từng bước, từng
bước để tránh gây tiếng động.
Sau khi rời xa vị trí xâm
nhập, Toán dừng lại tìm chỗ nghỉ quân bên một gốc cổ thụ. Toán
bố trí thành một vòng tròn, đầu hướng vào gốc cây, phòng khi đêm
tối, bị địch bất ngờ tấn công, thì Toán sẽ phản ứng nhanh chóng
về phía trước mà không tác xạ lầm nhau.
Tờ mờ sáng hôm
sau, Toán tiếp tục vạch rừng theo hướng đã định mà đi. Cũng
chẳng phát hiện được gì. Gần xế chiều, khi đổ xuống một triền
núi, thì Toán gặp một con đường mòn chạy từ Tây sang Đông. Dấu
tích để lại trên đường cho thấy địch đã có sử dụng. Men theo con
đường mòn về hướng Đông, dĩ nhiên vẫn phải đi trong rừng, thêm
một đoạn khá dài nữa, Toán lại gặp một con đường mòn lớn rộng
khoảng 2 mét, chạy từ hướng Tây–Bắc xuống Đông–Nam cặp theo sông
Đa–Krông. Trên đường cũng thấy dấu tích cũ của xe hơi, hình như
đã lâu bọn địch không còn đi trên con đường này. Vậy thì chúng
sử dụng đường nào? Đường này sát biên giới Việt–Lào. Hay chúng
vạch một đường mới bên phía Lào, khi thấy con đường bên phía này
đã bị lộ, bị máy bay oanh kích nhiều lần?
Báo cáo mọi
phát hiện về Bộ Chỉ Huy, Toán được lệnh tiếp tục di chuyển theo
hướng đường mòn nhỏ đi về hướng Đông Đông–Bắc. Khu vực hoạt động
của Toán, trên phóng đồ hành quân là ở mạn Nam Ba Lòng. Chuyển
theo hướng mới, nhìn trên tọa độ bản dồ, Toán tiến gần đến
thượng nguồn sông Thạch Hãn và xa hơn là các thôn Hải Lệ, Tân
Lệ, và Như Lệ.
Đêm đó, Toán dừng trú quân giữa rừng, lại
quay vòng tròn, chia nhau ngủ và canh chờ địch. Sáng dậy, không
thấy mặt trời, nhưng hướng Đông trời sáng hơn, chúng tôi lại đi
theo hướng cũ. Khoảng trưa, Toán nghe tiếng người nói lao xao,
nhưng không rõ âm thanh từng tiếng để biết họ nói gì. Tuy vậy,
chúng tôi cũng đoán được đó là tiếng Bắc. Vậy là rõ, Bộ đội cộng
sản miền Bắc xâm lược. Toán dừng lại, núp kín trong rừng, im
lặng tuyệt đối, nghe ngóng và quan sát. Không thấy được địch,
chỉ nghe tiếng nói của nhiều người, phỏng chừng ít nhất là cấp
Trung Đội đến Đại Đội. Tôi vội chuyển công điện báo cáo về Trung
Tâm Hành Quân. Lệnh truyền cho Toán bám sát theo dõi địch quân.
Toán lại lên đường, di chuyển theo hướng đi của bọn chúng,
đến gần chiều, nắng chưa tắt hẳn, thì Toán thấy địch đang đóng
quân giữa rừng. Bọn chúng đang chuẩn bị ăn uống, tôi ngửi được
mùi củi cháy. Quan sát kỹ hơn nữa qua ống nhòm, họ có làm bếp.
Bếp của họ, có lò nấu đắp kín đất, có ba bốn ống khói mở ra như
hình nan quạt. Đầu mỗi nan quạt, khói đang bay lên, nhẹ và
loãng. Cách làm bếp như thế này là chia khói ra nhiều ngã, làm
cho khói loãng đi, tan trong sương, trong không khí, máy bay
Trinh sát của ta khó phát hiện được. Đây đúng là một căn cứ tập
trung quân của địch.
Tôi khẩn cấp báo cáo tình hình và
tọa độ chính xác của địch về Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Ngay sau đó,
chúng tôi được lệnh rút xa ra khỏi vị trí địch ít nhất là 1/2
cây số. Trực thăng và Chiến Đấu Cơ sẽ tới oanh kích địch.
Nửa giờ sau, Toán tôi nghe rõ từng loạt đạn rocket bắn ra từ
các trực thăng võ trang, rồi tiếp sau không lâu là những tiếng
nổ kinh hoàng do các oanh tạc cơ Skyraider thả bom xuống đầu
giặc. Trước bom rơi đạn nổ như vậy, tôi nghĩ khó hy vọng còn một
tên Việt cộng nào sống sót. Và đúng như tiên đoán, sáng ngày hôm
sau Toán tôi được lệnh trở vào vùng địch đóng quân để quan sát
và báo cáo kết quả.
Thật là thảm khốc, cả một khoảng rừng
trở thành bình địa, một vài nơi lửa còn bốc cháy âm ỉ, xác địch
đếm được khoảng 15 tên, nằm chết ngổn ngang bên những bếp lửa,
dưới những gốc cây hay rải rác trong những hố sâu do bom cày
xới. Có thể một số đã chạy thoát vì các dấu vết và các vật dụng
rơi rớt của chúng đã để lại trên các lối mòn dẫn vào các hốc núi
hay đổ xuống các bờ suối ven rừng.
Trưa hôm đó, Toán được
phi cơ quan sát L19 bay lên vùng liên lạc, Toán đã sử dụng pano,
kính chiếu để phi cơ xác định tọa độ và hướng dẫn đi đến bãi
triệt xuất.
Theo hướng máy bay chỉ điểm, Toán đến một bãi
tranh trống nằm trên sườn núi, chung quanh dày đặc rừng cây bao
phủ. Toán bố trí đội hình và chờ đợi. Và chỉ một khoảng thời
gian ngắn sau, một Trực thăng UH1B được sự yểm trợ của hai trực
thăng võ trang khác đáp xuống chính xác giữa khoảng trống bãi
tranh để bốc Toán đưa trở về lại căn cứ Hành Quân, chấm dứt 7
ngày hoạt động trong rừng sâu của Mật khu Ba Lòng.
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
07...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


07. Đức Cơ, Đường đi chưa dứt

“...
Trời thấp thật buồn,
Anh khách lạ. Đi lên đi xuống...”
–(Còn chút gì để nhớ)
Hướng Đông Đông–Bắc Đức Cơ
là Pleiku, khoảng cách chừng 60 cây số, tính theo đường chim
bay. Hướng Bắc Đức Cơ khoảng 30 cây số là Trại Lực Lượng Đặc
Biệt Plei–Djereng.
Toán 3 Thám Sát của tôi nhận nhiệm vụ
xâm nhập hoạt động trong vùng dọc theo biên giới Việt–Miên này.
Đây là khu vực Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II quan tâm, và có nhu cầu
nắm vững tình hình địch trong vùng lãnh thổ của Quân Đoàn.
Sau các trận đánh năm Mậu Thân, quân cộng sản bị thương vong
quá lớn, gần 60 ngàn, gồm binh lính, cán bộ. Bây giờ, mùa Hè năm
1969, quân cộng sản đang bổ sung, tái trang bị, chuẩn bị cho một
chiến dịch mới, có thể là Thu Đông 1969–1970.
Trung Tâm
Huấn Luyện Hành Quân Delta cùng Toán B52 cố vấn Lực Lượng Đặc
Biệt và Phi Đội 281 Trực thăng Hoa Kỳ, được đưa tới Pleiku. Bộ
Chỉ Huy đóng bên ngoài khu vực phi trường Pleiku, trên một bãi
đổ trực thăng, cách Biển Hồ về hướng Bắc 9 cây số.
Bây
giờ không có thì giờ để đi thăm cái thành phố nhỏ, dù chỉ “đi
dăm phút đã về chốn cũ”. Trung tá Phan Văn Huấn, Chỉ huy trưởng,
cùng các Trưởng Ban 2, Ban 3 đã đi bay tìm hiểu thực địa. Ngày
hôm sau, các Toán trưởng Delta được gọi lên Trung Tâm Hành Quân,
để nghe thuyết trình về tình hình địch, bạn, và nhận lãnh sứ
mệnh, tức là nhận vùng trách nhiệm của mình.
Khu vực Toán
3 nằm sát cạnh biên giới, có thể “vượt biên” nếu cần, dù bất hợp
pháp vì vi phạm lãnh thổ nước bạn. Việc ấy không cần quan tâm.
Chính Phủ Miên dung dưỡng Việt cộng, để địch dùng lãnh thổ Miên
xâm nhập Miền Nam Việt Nam thì sao?
Cũng như thông lệ,
sau khi nhận lệnh và phóng đồ Hành Quân xong, tôi lên trực thăng
đi quan sát vùng hoạt động. Vùng này, việc đổ quân không khó,
không phải vì thiên nhiên mà nhờ nhân tạo. Rất nhiều hố bom B52,
bom Napalm, và rải rác các vùng cây trơ trụi vì thuốc khai
hoang, nên việc chọn bãi xâm nhập và triệt xuất chẳng mấy khó
khăn...
Buổi chiều, cả Toán 3 lên Trung Tâm Hành Quân
trình bày kế hoạch, nhận thêm các chỉ thị, hiệu lệnh, và đặc
lệnh truyền tin. Đặc lệnh thay đổi mỗi ngày nhằm bảo mật và dự
phòng các trở ngại, bất trắc, nếu có, v.v.
Trời tuy đã về
chiều, nhưng ánh tà dương vẫn còn tỏ sáng, chiếc Trực thăng UH1B
chở Toán hạ thấp trên mép bãi hố bom B52 giữa rừng già. Nhanh
như những con sóc, từ hai bên cửa, hai ông bạn Mỹ và bốn chúng
tôi nhảy xuống lẩn khuất vào rừng. Máy bay lên cao, không một
dấu vết còn lại, địch không thể ngờ.
Nhìn trên bản đồ, từ
bãi đổ quân đến biên giới Việt–Miên khoảng 2 cây số. Toán đi về
hướng Tây. Núi rừng cao nguyên giống nhau, khe suối sâu, sườn
núi dựng đứng. Toán cứ phải len lỏi giữa cây rừng mà đi. Đêm đó,
Toán dừng chân nghỉ đêm trong một hốc núi đá, bên phần đất nước
ta.
Tờ mờ sáng, Toán thức dậy sớm, tiếp tục di chuyển về
hướng Tây. Chưa được bao lâu là vào lãnh thổ Ông Hoàng Xứ Chùa
Tháp.
Đi thêm một quãng, lội qua con suối cạn, Toán dừng
lại lót dạ, hai bạn đồng minh trèo vượt qua mấy rừng cây, dốc
núi coi bộ đã thấm mệt, ngồi bệt xuống đám lá khô, tựa lưng vào
các gốc cây, mở bình đông uống nước ừng ực, mặt mũi dầm dề mồ
hôi.
Đã hai ngày trôi qua, Toán đi dọc theo biên giới về
hướng Bắc 360˚, đúng theo lộ trình qui định suốt cả ngày, vượt
qua hơn 2 cây số đường rừng, không phát hiện được gì. Trời càng
về chiều, trong rừng càng tối om, Toán tìm chỗ kín đáo, đóng
quân, một đêm nữa lại trôi đi...
Qua ngày mai, theo lệnh
truyền đạt của Bộ Chỉ Huy Hành Quân, Toán đi về hướng Đông, trở
lại phần đất của nước ta. Vùng trên này, núi cao, rừng rậm hơn,
lại gặp phải cơn mưa dông đổ xuống dài giờ, nên đường dốc, ướt,
đã khó trèo lại càng khó hơn, thêm phần bị đám vắt tung hoành,
cứ đeo bám lên tay, đầu, cổ, phải lấy thuốc bôi để trừ khử bọn
chúng, nên quãng đường đi cũng chỉ mới vượt qua biên giới chừng
trên một cây số thì trời đã tối, Toán rẽ vào một đám rừng âm u,
bố trí dừng quân qua đêm.
Sáng kế tiếp, trên lãnh thổ
nước ta. Toán vẫn di chuyển theo hướng Đông. Chừng hai giờ sau,
vừa đổ xuống một trũng rừng, lội qua một con suối, nước chảy róc
rách, Toán đi xuôi theo dòng nước khoảng 200 mét, thì trông thấy
một căn cứ địch, nằm gọn lỏn trong một rừng cây cao, cũng không
cách xa bờ suối.
Căn cứ là mấy ngôi nhà dài, bọn Việt
cộng thường gọi là “lán trại”. Nhà lợp lá, dưới những tàn cây
lớn và cao, máy bay Trinh sát khó phát hiện. Tiến đến gần hơn,
quan sát kỹ địch tình như thế nào?
Té ra, căn cứ đã bị bỏ
hoang! Tại sao địch bỏ hoang? Tôi tự hỏi.
Bị ta phát hiện
hay nhu cầu không còn nữa. Tết Mậu Thân, chết biết bao nhiêu
mạng, lán trại cho ai ở nữa? Nhìn qua phía trái, tôi chợt thấy
có mấy ngôi mộ, chôn cất sơ sài trên con đường từ căn cứ đi
xuống hướng suối.
Chuyện mồ mả trong rừng không lạ gì với
tôi. Nhưng mấy trận đụng độ gần đây, bắt một số tù binh địch,
chúng tôi thấy lính tráng cộng sản còn con nít quá, nghĩa là
chúng chưa tới 18 tuổi. Tuổi chúng 15, 16 là nhiều. Nghe lời
khai của chúng tôi thấy tội nghiệp hơn là tức giận.
Hao
hụt quá lớn ở chiến trường Miền Nam, cộng sản phải tăng quân
nhưng hạ tuổi. Trước Mậu Thân, thanh niên miền Bắc đủ 18 tuổi
mới bị bắt thi hành cái gọi là “nghĩa vụ quân sự”. Gọi là nghĩa
vụ nhưng lại bắt buộc thi hành. Sau Tết Mậu Thân, để đủ quân số
chi viện cho Miền Nam, “đảng và nhà nước” cộng sản Hà Nội phải
“vay tuổi thanh niên”. Vay 2 tuổi, (tức 16 tuổi là đủ để thi
hành “nghĩa vụ”), có nơi vay 3 tuổi (tức là mới 15 tuổi).
Đã vay thì phải trả. Đảng và Nhà Nước vay thì bao giờ trả?
Hay vay mà không trả! Trả bằng gì? Chữ nghĩa cộng sản hay thật.
Nói càng hay thì lường gạt càng dễ.
Trên đường rút lui xa
căn cứ, tôi cứ vẩn vơ suy nghĩ về mấy tên lính con nít cộng sản
xâm nhập này. Biết đâu những ngôi mộ kia là nơi bỏ xác của những
thằng lính con nít ấy.
“Mẹ già lên núi, tìm xương con
mình!” Đúng là Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chẳng biết gì cả, ngồi ở
thành phố mà nói mò. Đây là Vùng Tam Biên, Mẹ già lên tới
Pleiku, Kontum thì Mẹ không còn hơi mà đi nữa, làm sao tới được
chỗ hùm beo này. Con của Mẹ chết ở đó thì nằm lại đó, nơi khỉ ho
cò gáy này muôn đời đó Mẹ ơi!!!
Toán vẫn hướng Đông thẳng
tiến! Chưa tới một cây số, lại gặp đường mòn, không phải một
đường mòn từ Đông sang Tây mà còn có một con đường mòn khác, bắt
đầu từ con đường mòn này đi lên hướng Bắc, hướng Trại Lực Lượng
Đặc Biệt Plei–Djereng.
Tới quá trưa, đang mò ra quan sát
đường mòn, thì súng nổ. Địch bên kia đường trông thấy chúng tôi
nên chúng nổ súng. May mắn không ai bị thương tích gì, Toán
nhanh chóng rút vào sâu trong rừng ẩn núp nghe ngóng. Một lúc
lâu, không thấy động tĩnh gì, Toán đi chếch lên hướng Bắc một
khoảng xa, xong lần ra lại con đường mòn thì rõ mồn một, các dấu
vết xe hơi, dấu chân người di chuyển còn hằn rõ nét trên mặt
đường. Toán cấp báo về Trung Tâm Hành Quân và nhận được lệnh
tiếp tục theo dõi.
Đêm ấy lại ngủ trong rừng già
Con đường mòn chạy từ Nam lên Bắc, Toán lần theo hướng Bắc mà
đi. Mới vừa cho Toán dừng lại, mở tấm bản đồ để xác định tọa độ
điểm đứng, thì bất thần tao ngộ chiến một lần nữa. Địch từ trên
dốc cao đang đi xuống, không ngờ lại đi ngay vào chỗ Toán dừng
quân. Không chần chờ, hai ông Mỹ theo phản ứng tự nhiên hô to:
– “Beaucoup vi–xi” và bắn xối xả, một hai tên địch ngã
xuống, đám còn lại tản ra núp vào các gốc cây, gò mối, chống trả
lại.
Quân số địch phỏng chừng một Trung Đội. Phía chúng
tôi có sáu người, Hạ sĩ Bông Toán viên vừa bị trúng thương ở cổ
tay, nhưng vẫn còn chiến đấu được.
Địch không ngưng tiếng
súng, vừa bắn, vừa hô bằng giọng Bắc kỳ:
– “Hàng sống,
chống chết. Hàng sống chống chết”.
Tôi nghĩ thầm:
– “Đ. Mẹ! Chống chết, hàng cũng chết”.
Trước tình thế
này, Toán theo ám lệnh của tôi, tuần tự tháo lui, leo lên một
đồi thấp kế cận bố trí ẩn núp, án binh bất động, đồng thời cùng
hai bạn Mỹ, liên lạc về BCH/Hành Quân để báo cáo sự tình và xin
không yểm.
Trên bầu trời, không bao lâu sau đó, đã thấy
hai Trực thăng UH1B vần vũ. Trung Tâm Hành Quân nắm rõ được tình
hình. Qua máy truyền tin, Trung tá Phan Văn Huấn, lệnh cho Toán
chiếu kính và pano để xác định vị trí, rồi hướng dẫn Toán phải
nhanh chóng triệt thối về hướng Đông Đông–Bắc, khoảng 200 mét, ở
đó có một bãi tranh, nằm yên đó, chờ để triệt xuất.
Toán
đi được một chặng đường thì thấy hai chiếc Trực thăng Gunship
bay đến, đảo vòng vòng rồi thay nhau xả súng liên tục, dữ dội
từng tràng đạn đại liên xuống vị trí Toán chạm địch vừa qua.
Gunship vừa đi thì một Phi Tuần Skyraider lại sà xuống oanh
kích, từng khối lửa bùng lên, sáng rực cả trời chiều. Chắc hẳn
là chẳng còn một mống vẹm nào có thể sống sót được.
Chiếc
Trực thăng UH1B tròng trành đôi ba lần, rồi đáp xuống bãi tranh.
Toán ùa ra, lao nhanh lên phi cơ. Chiếc trực thăng cất cánh bay
vút lên trời cao, xa dần, xa dần hướng mặt trời lặn, còn le lói
vài tia sáng yếu ớt, đang từ từ mờ nhạt trong buổi chiều tà.
Trên đường về, đúng là vui như Tết. Hai lần “tao ngộ” mà
chúng tôi vẫn bình an!
Cảm ơn Trời Phật!
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
08...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


08. Mật khu An Lão

“Tiếng già nhưng núi vẫn là non”
–(Chơi núi An Lão Nguyễn
Khuyến)
Khoảng tháng 9 năm 1969,
các Toán Thám Sát của Trung Tâm Hành Quân Delta được đưa từ Nha
Trang ra phi trường Đệ Đức. Đây là phi trường dã chiến của Quân
Đội Hoa Kỳ. Đang mang các trang bị cá nhân vào lều bạt thì tôi
đã nghe Thiếu uý Thạch Thon, Trưởng Toán 6 Thám Sát rỉ tai:
– “kỳ này sẽ hoạt động vùng Mật khu An Lão, theo nhu cầu của
Quân Đoàn II”.
Mật khu An Lão là chỗ nào?
Nhớ mang máng hồi còn học Trung học, Ông Thầy dạy Việt Văn
có giảng bài “Chơi Núi An Lão” của Nguyễn Khuyến, bọn học sinh
chúng tôi gọi đùa tác giả là Ông già gân, bởi vì câu cuối bài
thơ là:
“Dẫu già mà
đã hơn ta chửa?
Chống gậy lên non bước chẳng chồn”.
An Lão của Nguyễn Khuyến ở đâu ngoài Bắc, còn An Lão ở đây
là An Lão Bình Định. Dĩ nhiên, Ông Lão còn chịu chơi, huống chi
bọn tôi còn trẻ, sá chi cái An Lão này.
Nhưng trước sau
gì cũng phải xem lại Bản Đồ một chút cho chắc ăn. Thói quen của
những người Chỉ Huy là ưa xem Bản Đồ, mà phải xem kỹ Bản Đồ Quân
Sự. Binh thư dạy rồi:
“Thiên
thời, Địa lợi, Nhân hòa”.
Xem Bản Đồ để biết địa lợi, khai thác địa lợi là điều cần
thiết của Cấp chỉ huy.
Hôm sau, vào Trung Tâm Hành Quân,
nhìn vào tấm Bản Đồ trải rộng trên cái giá gỗ, tôi quan sát thấy
Mật khu An Lão nằm về hướng Tây của thị trấn An Lão, Hưng Long,
và Xuân Phong; cách ngăn bởi một con suối chạy từ hướng Bắc đổ
ra biển ở miệt xã Hoài Hương, thuộc quận An Nhơn. Đây là các thị
trấn nhỏ miền thượng du tỉnh Bình Định. Đường bộ vào đây nối
liền từ Quốc lộ 1 bằng Tỉnh lộ 629 tại thị xã Bồng Sơn. Địch
thường đưa quân từ Mật khu An Lão để bao vây tấn công vào các
thị trấn này rất gắt gao, có lẽ chúng muốn nhổ sạch hết toàn bộ
mà không nhổ được.
Hướng Tây–Bắc Mật khu An Lão là quận
Ba Tơ, nơi đây cũng có một Trại Ba Tơ của Binh Chủng Lực Lượng
Đặc Biệt đồn trú. Quận Ba Tơ nằm về hướng Tây Tây–Nam thị trấn
Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Về hướng Tây Tây–Nam An Lão là
tỉnh Kontum. Hướng chính Nam là Quốc lộ 19, con đường nối liền
Qui Nhơn–Pleiku, có Đèo An Khê là nơi từ cuộc chiến tranh trước,
Việt Minh đánh Tây nhiều trận xiểng liểng. Trong thời điểm này
tại An Khê, Việt cộng chưa làm được gì suy suyển phe ta. Hướng
Đông–Nam là quận Hoài Nhơn có hai thị trấn Bồng Sơn và Tam Quan
nằm trên Quốc lộ 1. Tam Quan gần Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Về hướng Tây Tây–Bắc Kontum, tôi thấy địa danh Attapeu một
cao nguyên của Nam Lào, và vùng Tam Biên: Việt–Miên–Lào. Đích
thị là chúng nó đây rồi. Đường mòn Hồ Chí Minh đưa Việt cộng đến
cao nguyên này của Xứ Lèo. Từ đó chúng đổ xuống hướng Đông là
vào Mật khu Đỗ Xá, phía Tây Quảng Ngãi và hướng Đông–Nam vào Tân
Cảnh, Dakto. Hồi học lớp Đệ Tứ tôi có nghe Ông Thầy dạy Địa Lý
nói tới Mọi Đá Vách ở vùng này, được Ông Quan Nguyễn Thân cho ăn
đường phèn mà tưởng là đá, nên xin hàng. Mấy năm nay không nghe
nói gì tới tình hình chiến sự ở Đỗ Xá. Về phía Nam Đỗ Xá là Mật
khu An Lão.
Căn cứ trên Bản Đồ cho thấy, Mật khu An Lão
là một vị trí chiến lược quan trọng. Chúng có thể rút về phía
Tam Biên, nếu bị tấn công dữ dội. Chúng có thể uy hiếp Kontum
hay Quốc lộ 14 nối Kontum và Pleiku, uy hiếp An Khê, gây áp lực
trên Quốc lộ 19, hoặc tấn công Sa Huỳnh, cắt đứt Quốc lộ 1. Quân
Đoàn II quan tâm vào vùng này là chí lý, chí lý vô cùng.
Tôi rời khỏi Trung Tâm Hành Quân, ngẫm nghĩ càng thấy cái vô
cùng chí lý của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II.
Và rồi, một cuộc
hành trình vào Mật khu Việt cộng khá hào hứng, và cũng không
thiếu nguy hiểm, đổi mạng như chơi. Nghĩ tới đó, tôi không sợ mà
lại tự cười thầm tự tin.
Theo đúng thủ tục thường lệ, sau
khi Toán nhận lệnh, tôi cầm tấm Bản Đồ đã được khoanh vùng hoạt
động, leo lên trực thăng đi bay để quan sát khu vực và tìm chọn
bãi đáp cho Toán. Hôm sau, mọi chuẩn bị lương khô, súng đạn,
thuốc men đã hoàn tất đầy đủ, trước khi lên đường Toán đã đến
Trung Tâm Hành Quân để trình bày kế hoạch trước Chỉ huy trưởng
và các Trưởng Ban 2, Ban 3. Dĩ nhiên, ngoài bốn chinh nhân da
vàng mũi tẹt còn có hai bạn đồng minh chổng mỏ ngồi nghe, bên
cạnh có Thông dịch viên cùng ngồi với họ.
Một số Toán
Thám Sát Delta của Thiếu uý Cao Kỳ Sơn, Trần Bá Lễ, Phan Anh đã
vào trận mấy hôm nay rồi. Toán tôi đang chuẩn bị tiếp nối.
Trực thăng đưa Toán thâm nhập vào mạn Nam, trong vùng trách
nhiệm ở Mật khu An Lão vào khoảng xế chiều Toán di chuyển về
hướng Tây–Bắc chừng tiếng đồng hồ thì dừng lại bố trí nghỉ qua
đêm. Địa thế ở đây thật hiểm trở, rừng rậm xen lẫn vách đá cheo
leo cao nghệu. Di chuyển phải hết sức thận trọng, dò dẫm từng
bước, lần theo các bậc đá, vịn vào các thân cây non hay kéo đẩy
giúp nhau mới đi được. Một ngày, hai ngày chầm chậm, lặng lẽ
trôi qua, Toán chưa tìm thấy hay phát hiện được gì cả về mọi
họat động của địch.
Rạng sáng hai hôm sau, Toán tiếp tục
di chuyển theo hướng Tây–Bắc, cũng đi thật chậm, chú ý quan sát
kỹ các dấu vết trên lộ trình, qua từng đồi cây, con suối.
Có một điều Toán tin chắc là Quân Đội VNCH chưa từng vào Mật
khu này hành quân, thành ra Việt cộng thường huyênh hoang, tự
phụ, cho rằng Mật khu An Lão là vùng bất khả xâm phạm và cũng
chính vì thế mà tình báo của ta không nắm rõ tình hình quân số,
đơn vị địch hoạt động trong Mật khu này. Do vậy mà hôm nay mới
có sự hiện diện của các Toán Thám Sát Delta.
Gần cuối
ngày, khi Toán đang đi lần xuống một trũng rừng thì Toán đã phát
hiện hai con đường mòn chạy theo hướng Tây–Bắc – Đông–Nam. Những
con đường mòn còn tươi rói, có nghĩa là địch đang sử dụng. Toán
men theo một trong hai con đường mòn, sau đó không lâu, thì lại
thấy một con đường lớn, có dấu vết chạy của xe Molotova.
Tôi suy nghĩ không ít về những con đường xe này. Xe về tới đây
là coi như đã tiến sâu vào lãnh thổ nước ta, nó đâu còn chỉ di
chuyển trên vùng biên giới Việt–Lào. Từ chỗ có đường xe này tính
ra tới bờ biển chưa tới 25 dặm. Bọn chúng lộng hành đến thế hay
sao?
Sau khi báo cáo cấp tốc mọi chi tiết về Trung Tâm
Hành Quân, Toán được lệnh dừng chân qua đêm, chọn chỗ an toàn,
kín đáo, trong tầm quan sát để theo dõi mọi hoạt động địch.
Có lẽ Trung Tâm Hành Quân đã thu thập một số tin tức do các
Toán Thám Sát Delta hoạt động trong các khu vực kế cận gởi về,
phối kiểm và đúc kết đã xác định được lực lượng địch quân ở đây
không phải là ít. Vì vậy, rạng sáng hôm sau, Toán nhận được công
điện phải bám sát đường mòn, tìm chỗ thuận lợi tổ chức phục kích
bắt sống tù binh để khai thác tin tức, nhất là danh tánh, quân
số, và các kho tàng, căn cứ địa của bọn chúng...
Nhận
lệnh xong, xem Bản Đồ, đối chiếu thực địa, tôi bàn thảo sơ lược
kế hoạch phục kích cùng hai bạn Đồng Minh. Có ba điểm căn bản:
– Phải là con đường địch đang sử dụng.
– Vị trí phục
kích thuận lợi, có hiệu quả, dễ dàng bắt sống được địch.
– Cuối cùng, khi nổ súng rồi là coi như Toán đã bị lộ, phải rút
nhanh. Cần biết rõ con đường rút và bãi triệt xuất, nơi trực
thăng sẽ đón Toán.
Khu này là rừng già, phục kích trong
rừng già thì tốt, nhưng khi nổ súng rồi, phải triệt thoái nhanh
tới chỗ khoảng trống, bãi tranh để trực thăng có thể đáp xuống
bốc về dễ dàng.
Toán chọn lựa địa điểm phục kích gần một
con suối. Bên kia con suối, hướng chính Đông, cách khoảng 200
đến 300 mét, tính theo đường chim bay có một hai khoảng trống,
có thể là đồi tranh hay rẫy bỏ hoang của người Thượng. Các bộ
lạc ở đây thuộc giống người H’rê, sống đời sống du canh, phá
rừng làm rẫy một vài mùa lại bỏ đi nơi khác. Đoạn đường di
chuyển từ nơi phục kích đến đó không xa lắm, kịp cho Toán bôn
tập tới đó.
Nắm chắc địa thế, lập xong kế hoạch phục
kích, và rút lui, tôi báo cáo tất cả cho Trung Tâm Hành Quân để
theo dõi và yểm trợ khi cần.
Toán nằm trải dài chừng 50
mét, dọc theo đường mòn, núp sau các tảng đá, gò mối, gốc cây
rừng, cách khoảng năm mét, đạn đã lên nòng, tất cả hướng mắt về
trước mặt, đúng tầm sát thương của vũ khí.
Chờ địch chừng
2 giờ đồng hồ thì chúng xuất hiện, ngang nhiên đi trên con đường
mòn. Đi đầu là một Toán khoảng mười tên, cứ mỗi hai tên gồng
gánh một bao gì đó gói trong tấm bạt dầu, chúng tôi không rõ là
hàng gì, có thể lương thực hay vũ khí, đạn dược? Gánh hàng không
nặng lắm vì chúng vừa đi vừa nói chuyện. Có thể chúng rất chủ
quan, coi như đây là vùng đất thánh của chúng, như chưa từng bị
tấn công, phục kích bao giờ.
Khi chúng vừa tới ngay tầm
xạ kích của Toán thì bỗng dừng lại. Tôi nghĩ thầm:
– “Ồ!
không lý mình hên vậy?”
Và, chỉ mới dự định cho nổ súng
thì thấy có một tên phía sau đang khó nhọc đi tới. Tôi cười thầm
trong trí:
– “một con vịt đẹt”, tiếng gọi đùa như khi tôi
còn sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử hay Hướng Đạo, mỗi khi đi
Cắm Trại, thường gọi những người đi chậm, lẹt đẹt phía sau.
Vậy thì không phải chúng nghỉ mệt mà chỉ dừng lại chờ tên đi
sau.
Chờ con vịt đẹt tới gần bọn chúng, Toán bắt đầu khai
hỏa. Bốn cây XM16, hai cây XM18 nổ ran. Bốn tên gục tại chỗ, mấy
tên khác vừa nổ súng phản công vừa lủi vô rừng chạy mất. Con vịt
đẹt quay đầu tháo lui, nhưng không kịp rồi! Hai ông bạn đồng
minh đã nhanh chóng xông ra, vật cổ, đè “con vịt đẹt” xuống,
còng tay, kéo nó đứng lên chạy lẩn vào rừng để cùng theo Toán
rút lui về hướng đã định.
Khoảng nửa giờ sau, khi Toán đi
quá nửa con đường đến bãi triệt xuất, thì nghe có nhiều tiếng
súng nổ ở chỗ Toán đã phục kích. Tôi yên tâm. Bấy giờ phía trên
đầu Toán, chiếc L19 hướng dẫn chúng tôi tới Bãi, và 4 chiếc Trực
thăng UH1B đang vần vũ. Thông lệ thì luôn có một chiếc CNC của
Chỉ huy trưởng, hai chiếc Gunship bao vùng, yểm trợ, sẵn sàng xạ
kích bằng Hỏa tiễn, Đại liên để an toàn bãi và một chiếc có
nhiệm vụ bốc Toán.
Toán đến bãi an toàn, không phải chờ
đợi, một chiếc trực thăng sà xuống đón Toán trở về.
Đẩy
tên tù binh đang bị trói nằm xuống sàn, chúng tôi ngồi dựa lưng
vào nhau, muốn cười mà không cười nổi. Mệt quá!
Về đến
căn cứ Hành Quân, giao xong tù binh cho Ban 2 để tạm thời khai
thác, trước khi chuyển đến Trung Tâm Thẩm Vấn Tù Binh của Quân
Đoàn II, tôi đi thẳng xuống căn lều Câu Lạc Bộ để kiếm món gì ăn
và uống một lon RootBeer cho đã thèm, vì mấy ngày nay chỉ dùng
toàn lương khô, nước lạnh. Chán chết được.
Ngày hôm sau,
Trung Tâm Hành Quân Ban 2 cho biết tên tù binh do Toán bắt được
là Bí Thư Huyện Ủy Huyện Xuân Phong, vừa đi B trên đường trở về.
Y khai, hiện có 2 Tiểu Đoàn của Công Trường 7 đang ẩn trú tại
Mật khu An Lão, và trong tương lai Công Trường 9 từ Dakto, Tân
Cảnh cũng sẽ di chuyển về đây để lập mặt trận tấn công các thị
trấn Tam Quan, Bồng Sơn, Đức Phổ.
Dĩ nhiên, trước mọi tin
tức nóng hổi đã được cung cấp thì đã có cấp trên lo liệu. Còn
tôi sau khi hoàn thành “mission imposible” ngày ngày đón xe Lam
ra Quán tranh, ở đầu thị trấn Bồng Sơn trên Quốc lộ 1 để uống cà
phê, nghe nhạc. Cà phê ở đây uống cũng tạm, còn nhạc thì máy móc
ở các Quán quê này chỉ nghe cho nó vui vui, đỡ buồn, đâu có thể
đòi hỏi âm thanh phải như ở Nha Trang, Sài Gòn.
Nếu không
có nhu cầu Toán 3 nhảy vào một khu vực khác thêm lần nữa, thì
chờ khoảng hơn tuần lễ, khi các Toán Thám Sát Delta, hiện đang
hoạt động ở những vùng kế cận, rút ra hết, thì Trung Tâm Hành
Quân Delta sẽ cuốn gói trở về lại Nha Trang, chấm dứt những ngày
thâm nhập, phục kích, bắt sống địch, triệt xuất đem về khai thác
tin tức... như trong phim ciné...
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
09...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


09. Chiến trường Tam Biên

“mong
manh cánh lan rừng xanh
bên thác uốn
quanh”
–(Chiều lên Bản Thượng)
Đâu phải lần này đơn vị
tôi mới lên rừng. Dù ở Tiểu Đoàn hay Thám Sát Delta, “lên rừng”
là những cuộc hành quân thông thường và sở trường của chúng tôi.
Ba Lòng, A–shau, An Lão, Dakto... nơi nào không là núi rừng? Chỉ
có thời gian Tết Năm Mậu Thân mới đánh nhau với địch ở thành phố
Nha Trang, Gia Định, Sài Gòn.
Địch ở trên rừng, chúng tôi
lên rừng, địch về thành phố, chúng tôi về thành phố. Nơi nào có
địch, cấp trên điều là chúng tôi tới.
Phía Tây Quê Hương
Việt Nam, núi rừng xanh ngát trùng điệp, nhìn màu xanh Quê
Hương, vừa thấy đẹp, vừa thấy buồn, vừa thấy thương...
Chuyến đi này thì thấy thương hơn, lên tới vùng Tây–Bắc Kontum,
qua khỏi những cái tên mà người thành phố đã nghe tới nhiều,
nhưng vẫn còn thấy lạ lẫm: Dakto, Dak–Bla, Ban–Het, Tân Cảnh,
Tu–Mo–rông, hay các Trại Lực Lượng Đặc Biệt Polei–Kleng,
Plei–Djereng kế cận vùng Tam Biên. Tam Biên là khu vực giáp ranh
của ba biên giới: Việt, Miên, Lào.
Vào khoảng tháng 2 năm
1971, gần tới Tết con Heo, năm Hợi. Trước ý đồ xảo trá của bọn
giặc cộng, chúng muốn tái diễn cái trò lấn đất giành dân, nên đã
chuyển quân tràn qua biên giới ngõ hầu mở ra các cuộc tấn công
xâm chiếm thị xã Kontum hay một vài quận lỵ lân cận để làm áp
lực trong cuộc Hội Đàm 4 bên tại Paris.
Việt cộng đã đưa
quân theo con đường mòn Hồ Chí Minh, từ Lào, từ Cambodia qua ẩn
trú sát nách biên giới trong vùng rừng rú lãnh thổ trách nhiệm
của Quân Đoàn II. Để xác định chính xác về đơn vị, cấp số và
vùng trú quân của lực lượng địch, ngõ hầu lập kế hoạch tấn công,
tiêu diệt hay phòng thủ. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đã trình xin Bộ
Tổng Tham Mưu đưa Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù tăng phái cho Sư
Đoàn 22 Bộ Binh để hành quân thám sát kiểm chứng, xác minh.
Toàn bộ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được không vận đến phi
trường Kontum, và lập căn cứ Hành Quân ở mạn Tây sát bên hông
phi đạo.
Vào những ngày cận Tết, Kontum trời se lạnh,
thỉnh thoảng có những trận mưa rào, làm cho những chiến binh
đang buồn vì phải xa Sài Gòn như chúng tôi lại càng buồn hơn. Từ
căn cứ hành quân, lội bộ gần cả cây số mới tới khu phố Hàng Keo,
nằm cạnh bờ sông Dak–Bla, để uống một ly cà–phê đen nóng và nghe
vài ba bản nhạc giải khuây, ngoài ra chẳng có gì làm vui trên
cái xứ cao nguyên hẻo lánh này.

Đêm Giao
Thừa, nằm trải dài trên chiếc ghế bố, thỉnh thoảng tôi nghe từng
tràng đạn pháo nổ giòn bên tai, ngoài trời thì liên tục được
thắp sáng bởi những trái hỏa châu, đầu óc tôi cứ bị đè nặng
trong không khí chiến tranh. Chẳng biết đến bao giờ Đất Nước tôi
mới không còn bom rơi đạn nổ. Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không
hay.
Sáng vừa thức dậy, Thượng sĩ Mai Xuân Hùng, Thường
Vụ Đại Đội, báo tin cho hay hôm nay sẽ có Biệt Đoàn 5 Văn Nghệ
Trung Ương ở Sài Gòn lên trình diễn ủy lạo. Tin thật vui mà lại
quá buồn cười. Đơn vị tôi đóng ở ngã tư An Sương, Hốc Môn, Sài
Gòn. Biệt Đoàn 5 Văn Nghệ Trung Ương cũng ở Sài Gòn, sao không
cho nghe hát ở dưới đó mà kéo nhau lên rừng, bên hát, bên nghe?
Mấy ngày qua, một hai Toán Thám Sát đã xâm nhập hoạt động
trong các vùng gần Tam Biên, nằm về hướng Tây–Nam Dakto, cách
Trại Polei–Kleng về hướng Tây–Bắc khoảng 20 cây số. Các Đại Đội
thì đang túc trực ứng chiến tại căn cứ Hành Quân.
Tối
lại, ngoài các sĩ quan, binh sĩ trực hành quân và canh gác, bốn
Đại Đội tập trung ngồi phía trước cái sân khấu dã chiến, được kê
cao bằng những tấm palette nhôm của Quân Đội Mỹ, đặt trên các
thùng “phuy” chứa đầy nước, phía sau là căn lều bạt để các Ca
Nghệ Sĩ làm chỗ trang điểm, thay đổi y phục. Ban Nhạc đánh trống
thổi kèn trên ấy, Ca sĩ hát trên ấy, chúng tôi ngồi dưới đất,
ngẩng cổ hào hứng vừa nghe vừa nhìn.
Các ca sĩ lần lượt
xuất hiện: Phương Hồng Quế, Phương Hoài Tâm, Phương Dung, Thanh
Mai, Chế Linh, Hùng Cường, Duy Khánh, v.v. Các nữ ca sĩ cũng mặc
đồ trận, quần áo rằn ri Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Biệt Cách Dù.
Mà có gì lạ đâu, các Cô là binh 1, hạ sĩ danh dự của các Quân
Binh Chủng mà. Phó Tổng thống Trần Văn Hương cũng là hạ sĩ danh
dự đấy. Nghe giới thiệu lon lá như thế, chúng tôi rất vui và vỗ
tay hoan hô liên tục, không dứt.
Duy Khánh xuất hiện trên
sân khấu. Rất ít người Huế không biết Duy Khánh. Chúng tôi thì
rành sáu câu bởi vì khó có ai hát hay hơn Duy Khánh với bài
“Xuân này con không về!”
Hồi chưa nhập ngũ, gần Tết, tôi
cũng bắt chước Duy Khánh:
“Con biết bây giờ Mẹ chờ em
trông,
nhưng nếu con về bạn bè thương mong”.
Ông anh
con ông cậu tôi, giáo sư, nghe tôi hát, phán một câu:
–
“Thằng ni bất hiếu. Cha mẹ phải hơn bạn bè chớ!”.
Có lẽ
ông anh tôi ngoài tuổi nhập ngũ, chưa từng đi lính, nên không rõ
tình đồng đội như thế nào. Sinh ra ta là Cha Mẹ, cứu mạng ta
giữa chiến trường là Đồng Đội. Chưa từng đi đánh giặc, chưa từng
gặp gian nguy, thập phần sinh tử nên khó biết cái tình đồng đội
ấy thiêng liêng, cao quí như thế nào. Càng xông pha trận mạc,
vào sinh ra tử, tôi hiểu tâm trạng người lính trong bài hát hơn
ông anh của tôi.
Sau đêm trình diễn, Biệt Đoàn Văn Nghệ
Trung Ương trở về Sài Gòn ngay sáng hôm sau. Chúng tôi đón Xuân
không có “thịt mỡ dưa hành, câu đối đỏ”, thiếu cả tiếng pháo đì
đùng. Vì Tết Mậu Thân mà bây giờ có lệnh cấm pháo. Đồng bào cũng
nản “quân giải phóng” nên không ai còn muốn đốt pháo làm chi để
Việt cộng lợi dụng vào thành phố mà giết Đồng Bào.
Ba
ngày Tết lặng lẽ trôi qua. Buổi sáng Mồng 4, Trung uý Thứ, sĩ
quan phụ tá Ban 3 Hành Quân thông báo: Đại Đội 4 có lệnh chuẩn
bị hành quân.
Toán 5 Thám Sát Delta, đã chuyển công điện
báo cáo là vừa khám phá trên đường mòn Hồ Chí Minh, ở gần ngã ba
biên giới, ban đêm có nhiều đoàn xe Molotova và bộ đội Việt cộng
từ Lào và Cambodia di chuyển về hướng Đông Đông–Nam, trên phần
lãnh thổ của Nước ta, dẫn đến gần các Căn cứ 5 và 6 trong vùng
trách nhiệm của Sư Đoàn 22 trú đóng tại Tân Cảnh.
Theo
yêu cầu của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù
có nhiệm vụ tổ chức phục kích tiêu diệt đoàn xe, bắt sống tù
binh để khai thác tin tức.
Đại Đội 4 Biệt Cách Dù được
giao trách vụ này. Đại đội trưởng là Đại uý Đào Minh Hùng, còn
tôi là Đại đội phó.
Chiều hôm sau, Đại Đội được Trực
thăng vận vào vùng hành quân. Bãi đổ bộ nằm ở hướng Nam khu vực
Tam Biên, cách đường biên giới Cambodia về hướng Tây chừng 1km.
Hai Trung Đội 3 và 4 do tôi chỉ huy được đổ xuống trước để an
ninh bãi, không lâu sau đó là Ban Chỉ Huy Đại Đội và hai Trung
Đội 1 và 2. Đại Đội di chuyển chừng cây số thì trời bắt đầu tối
nên dừng quân nghỉ đêm.
Sáng dậy, Đại Đội chia ra hai
cánh quân, tiến song hành về hướng Đông–Bắc để tiếp cận con
đường mòn do Toán 5 Thám Sát phát hiện.
Nơi đây chắc hẳn
là chốn an toàn của địch, vì trên đường di chuyển Đại Đội đã
nhìn thấy có rất nhiều đường dây điện thoại của chúng giăng đầy
chằng chịt dọc theo các cành cây, thỉnh thoảng bắt gặp những căn
lều trại và bếp núc đã bị bỏ hoang bên những khe suối, dưới
những cụm rừng âm u, hoang lạnh.

Đi gần nửa
ngày đường, vừa tiếp cận con đường mòn, đang dàn quân bố trí,
thì Tổ khinh binh tiền đạo trông thấy một tốp bộ đội Việt cộng
đang di chuyển ngược hướng, nên đã nổ súng tác xạ. Bọn địch dạt
qua mé rừng bên phải phản công mãnh liệt, nhưng cuối cùng bọn
chúng tháo chạy, để lại 05 xác chết tại hiện trường. Có thể đây
cũng là đám tiền sát viên của chúng.
Sợ lộ mục tiêu sau
khi chạm địch, Đại uý Hùng cho lệnh Đại Đội di chuyển lên hướng
Bắc chừng 500 mét thì dừng lại. Sau khi quan sát địa thế, Đại
Đội dàn trải đội hình dọc theo con đường mòn chạy từ Tây sang
Đông. Tôi ra lệnh Thiếu uý Nguyễn Kim Long Trung đội trưởng
Trung Đội 3 đưa 2 khinh binh bò ra giữa mặt đường để chôn các
trái mìn chống chiến xa M15 dưới các vết xe lăn cũ.
Màn
đêm xuống dần, rừng êm ắng, lặng yên, và mù mịt tối. Tất cả binh
sĩ ghìm súng nằm chờ đợi. Ở một vài khoảng trống trong khu vực,
thỉnh thoảng được những trái hỏa châu trên bầu trời tỏa sáng lờ
mờ rồi dần dần tối hẳn.
Ba tiếng đồng hồ đã trôi qua,
không một động tĩnh, nhưng không vì thế làm nản lòng các chiến
sĩ Đại Đội 4 Biệt Cách Dù, tất cả vẫn ghìm súng trong tư thế sẵn
sàng đối phó với địch quân.
Tôi nhìn đồng hồ, đã 12:30g
khuya, vừa định lấy bi đông uống một ngụm nước cho tỉnh táo, thì
ầm, ầm, ầm, những tiếng nổ vang dội và chuyển động cả một khu
rừng. Ba chiếc xe Molotova của địch đã bị trúng mìn, nằm lật
nghiêng, choáng hết cả mặt đường. Tiếng la hét của đám Việt
cộng, tiếng súng Đại liên, XM16, M79, xen lẫn tiếng đạn AK47,
CKC đã làm cho sự tịch mịch của khu rừng trở nên náo động, ầm ĩ.
Đêm trôi qua rất nhanh. Trời vừa hừng sáng, sau khi kiểm
chứng và báo cáo kết quả tổn thất của địch bao gồm: 15 cán binh
cộng sản bị sát hại, 03 xe molotova và rất nhiều quân dụng,
lương thực đã bị phá hủy hoàn toàn, phía ta 5 chiến sĩ bị
thương, trong đó có tôi bị một mảnh tạc đạn cắt vào cổ tay và 1
hạ sĩ quan tử thương về Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Đại Đội khởi sự di
chuyển trở lại hướng Tây–Nam, vừa băng ngược qua con đường mòn,
di chuyển lên hướng ngọn đồi trước mặt để đến bãi triệt xuất,
thì bất ngờ đạn địch từ trên bắn xuống xối xả, nhưng may nhờ
sườn đồi có nhiều đá tảng và cây rừng lớn che chắn, nên chỉ làm
bị thương 2 hạ sĩ quan Tiểu đội trưởng và 5 binh sĩ.
Đại
Đội ở vị thế bất lợi hơn địch, Việt cộng ở trên cao. Đại Đội tấn
công lên đồi nhiều đợt mà không lên được, hao hụt không ít.
Chuẩn uý Lương Hữu Yên, Trung đội trưởng Trung Đội 2, đã bị tử
thương, xác còn nằm trên sườn đồi, và không lâu sau đó Chuẩn uý
Trần Thanh Đồng đang tiến quân lên đỉnh đồi ở cánh phải, thì
cũng cùng chung số phận, tôi đã hai lần điều động binh sĩ cố bò
lên lấy xác, nhưng vì bị hỏa lực địch bắn càn quét dữ dội, nên
không thể, Đại uý Hùng bảo tôi báo cáo tình hình chạm địch và
tổn thất về Bộ Chỉ Huy, đồng thời khẩn cấp xin máy bay oanh kích
đến dội bom vào vị trí địch ở trên đồi cao.
Tiếng động
trực thăng bay vòng trên khu vực, qua máy truyền tin PRC25, tôi
nghe rõ tiếng Trung tá Chỉ huy trưởng Phan Văn Huấn, đang liên
lạc hướng dẫn các Phi Tuần Skyraider, A37, trên đường bay đến để
oanh kích chính xác vào tọa độ mục tiêu của địch.
Sau các
Phi Tuần oanh tạc thì Phi Đội Trực thăng võ trang xuất hiện, bay
vòng quanh, bắn xối xả, liên hồi xuống trên đầu địch. Vừa chấm
dứt các đợt oanh kích, tác xạ, hai cánh quân hai mặt của Đại
Đội, theo lệnh của Đại uý Hùng, đã đồng loạt xung phong, tràn
lên chiếm lĩnh đỉnh đồi. Xác Chuẩn uý Yên và một số binh sĩ đã
được Thiếu uý Long đưa một Tiểu Đội khiêng vác mang theo. Riêng
thi thể Chuẩn uý Đồng, vì nằm gần vị trí địch, nên đã không còn
tìm thấy xác sau khi các chiến đấu cơ đã dội bom yểm trợ khốc
liệt.
Quân địch hoàn toàn tan rã, bỏ thây rải rác chung
quanh đồi, 20 xác đếm được, còn một số “chém vè” cao bay xa
chạy, tịch thu rất nhiều loại vũ khí, máy móc, và quân dụng.
Vậy rồi, ngay chiều hôm đó, Đại Đội vừa tải thương vừa di
chuyển đến bãi triệt xuất. Tới điểm hẹn, chờ không bao lâu thì
một Đoàn trực thăng đáp xuống thấp. Từng Trung Đội đưa xác tử sĩ
và thương binh lên trước, xong thay nhau nhảy lên các chiếc kế
tiếp. Lần lượt Đại Đội đã được bốc đưa về lại căn cứ Hành Quân ở
phi trường Kontum.
Cách hành quân của Liên Đoàn 81 Biệt
Cách Dù thường như thế. Thả các Toán Thám Sát vào các Mật khu
của địch, thông thường là ở những vùng dọc theo biên giới, núi
non hiểm trở, ngoài tầm tác xạ, yểm trợ của Pháo Binh, để khám
phá các căn cứ, kho tàng, địa đạo, và lực lượng của Việt cộng.
Nhưng, nếu cần thiết thanh toán mục tiêu, hành quân tiêu diệt,
phục kích, thì các Đại Đội xung kích sẽ đảm nhận trách nhiệm.
Đây cũng là một trong hai cuộc phục kích hiếm hoi trong lòng
địch, nơi các Mật khu bất khả xâm phạm của bọn chúng, trước đây
vào năm 1968 tại thung lũng A–shau, mà chỉ có lực lượng duy nhất
là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù mới có thể lập nên thành tích, công
trạng lịch sử này.
Kontum là đây! Tam Biên là đây!
Lòng chúng tôi vui. Và trong niềm vui trở về, tôi bỗng nhớ
một bài hát: “Đường lên núi rừng! Sao hãi hùng”.
Hãi hùng
là tự người khác đem đến cho ta, từ con người, không phải từ
thiên nhiên.
Người yêu Quê Hương thì không thấy Quê Hương
mình hãi hùng bao giờ!
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
10...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


10. An Lộc Địa
(Bình Long Anh Dũng!)
“An
Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị
Quốc vong thân”
Nhị thức Bộ binh, Thiết giáp
Với ý đồ cưỡng chiếm Miền
Nam của tập đoàn cộng sản Hà Nội. Mùa Hè năm 1972 cộng sản Bắc
Việt đưa hai Binh Đoàn, đồng lúc tấn công Tây Nguyên (Kontum) và
Khu Phi Quân Sự (Vùng Giới Tuyến). Trước tình thế này, Bộ Tổng
Tham Mưu đã phải sử dụng đến lực lượng tổng trừ bị: Nhảy Dù và
Thủy Quân Lục Chiến cho hai chiến trường này.
Bất ngờ, tại Quân Khu III, trong đêm 06
tháng 4 năm 1972, từ bên kia biên giới Campuchia, một Binh Đoàn
50 ngàn quân Việt cộng, bao gồm: 4 Sư Đoàn Bộ Binh, 1 Trung Đoàn
Chiến Xa, 1 Trung Đoàn Pháo, và Phòng Không hiện đại, bất thần
tấn công cường tập, tràn ngập quận Lỵ Lộc Ninh do Trung Đoàn 9
Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh trấn giữ.
Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh Sư
Đoàn 5 Bộ Binh gom tất cả các lực lượng cơ hữu còn lại là Trung
Đoàn 7 và 8 Bộ Binh, tăng cường thêm Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân
lập tuyến phòng thủ mới tại thị xã An Lộc để ngăn chận địch.
Ngày 13 tháng 4 năm 1972, Việt cộng
siết chặt vòng vây, bắt đầu tấn công bộ chiến với nhị thức bộ
binh và chiến xa vào An Lộc. Lực lượng phòng thủ tại đây đã
quyết chiến, chống trả mãnh liệt, tổn thất nặng nề, không phận
đã bị địch quân khống chế, trực thăng tiếp tế và tản thương
không thể vào An Lộc được, tình thế vô cùng nguy nan.
Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và Bộ Tổng
Tham Mưu nhận định tình hình, cần phải tăng cường gấp cho lực
lượng phòng thủ, nếu chậm trễ thì An Lộc sẽ thất thủ, và nếu
tiền đồn An Lộc lọt vào tay địch thì hai tiếng đồng hồ sau đó
chiến xa địch sẽ tới Bình Dương và Thủ Đô Sài Gòn sẽ bị đe dọa.
Bộ Tổng Tham Mưu cuối cùng quyết định tung Liên Đoàn 81 Biệt
Cách Dù và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù vào tiếp viện.
Trong thời gian này tôi đang theo học
Khoá Đại đội trưởng tại Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức, thì được
tin trong ngày 16 tháng 4, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã nhảy vào
tiếp viện, tăng cường cho mặt trận An Lộc và đã bắt tay được với
các lực lượng bạn cố thủ, đang trong tình huống hết sức nguy
ngập, các tuyến phòng thủ đang bị “thủng” dần.
Theo tin tình báo cho biết, Việt cộng
đã cố tình tung 4 Sư Đoàn 5, 7, 9, và Sư Đoàn Bình Long, ngoài
ra còn tăng cường một Trung Đoàn Đặc Công, hai Trung Đoàn Pháo
và Phòng Không, hai Trung Đoàn Xe Tăng, đây là lần đầu tiên
chúng sử dụng xe tăng trên chiến trường Miền Nam, cố chiếm An
Lộc trong vòng 5 đến 10 ngày, để ra mắt cái gọi là Chính Phủ
Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam của chúng.
Vừa suy tư về tin tức nóng bỏng này,
vừa lo âu cho đơn vị của mình tham gia trận đánh đang xảy ra ác
liệt, tôi nôn nóng, băn khoăn vô cùng... Cũng may, một tháng qua
mau thì mãn khoá, tôi vội vàng về trình diện Bộ Chỉ Huy hậu cứ
đơn vị tại Ngã tư An Sương, Hốc Môn. Toàn bộ các Đại Đội Biệt
Cách Dù đã vào chiến trường đã nửa tháng nay rồi, mà không có
tôi cùng chiến đấu, cùng chia sẻ gian khổ, nguy nan cùng đồng
đội. Yên lòng sao được.
Tôi cùng Thượng sĩ Phạm Văn Cứ cũng vừa
đi tập huấn Taekwondo trở về, nhận lệnh vào chiến trường ngay
ngày hôm sau. Xe Jeep của Liên Đoàn đưa chúng tôi đến Lai Khê
nơi Bản Doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, từ đó Trực thăng
UH1B đã bốc thả chúng tôi xuống bên ngoài thị xã, vùng Xa Cam.
Để tránh phòng không của địch, bây giờ chúng sử dụng cao xạ 37ly
(đạn nổ lần hai sau khi trúng mục tiêu), không còn dùng 12.7ly
như trước kia, phi công Việt Nam phải bay thật thấp, sát ngọn
cây. Vừa tới bãi đáp ngay giữa Quốc lộ 13, chúng tôi nhảy liền
xuống, cả hai men theo rừng cao su tìm đường vào đơn vị, đang
trú đóng ở giữa lòng thành phố. Lúc ấy trời vừa quá trưa.
Trên đường tiến vào thành phố Bình
Long, nhà cửa cây cối điêu tàn, xơ xác, một vài nơi lác đác
những cột cháy đen còn đang bốc khói. Rải rác xác địch nằm ngổn
ngang, những khuôn mặt măng sữa, chừng độ 14, 15 tuổi. Vượt qua
tuyến phòng thủ của Trung Đoàn 8, Sư Đoàn 5 của Đại tá Mạch Văn
Trường, rồi băng qua Công Viên Hoàng Hôn, chúng tôi đã đến Bộ
Chỉ Huy Hành Quân của Liên Đoàn đóng tại một căn phố lầu, bên
cạnh Cửa Hàng Tân Hoài Sương, trên Khu Phố đối diện Khu Chợ Bình
Long.
Trình
diện Trung tá Phan Văn Huấn Chỉ huy trưởng xong, tôi nhận lệnh
làm phụ tá Đại đội trưởng Đại Đội 1, Đại đội trưởng là Đại uý
Nguyễn Ích Đoan, đang phòng thủ hướng Đông Đông–Bắc, bên trái
trục lộ chính Quốc lộ 13, cửa ngõ thành phố, hướng đi Lộc Ninh.
Bấy giờ thì Lộc Ninh đã bị Việt cộng chiếm giữ mất rồi.
Bọn giặc cộng không thể tiên liệu được
là đơn vị Biệt Cách Dù đã nhảy vào thị xã An Lộc và đang mở các
cuộc đột kích sở trường, thiện chiến để giành lại các phần đất
đã lọt vào tay chúng.

Các Đại Đội Biệt Cách Dù, phòng ngự ba hướng chính của thành
phố. Đại Đội 1 giữ hướng Đông Đông–Bắc, Đại Đội 3 và 4 bố trí
quân dọc theo Khu Nhà Thờ ở hướng Tây và Tây–Bắc, Đại Đội 2 là
lực lương trừ bị, rải quân phòng thủ ở khu vực chợ về hướng Nam
cùng các dãy phố lầu kế cận Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Liên Đoàn.
Tình hình bấy giờ là quân Việt cộng vẫn
còn chiếm giữ một số khu vực trong thành phố. Chúng đặt chốt
trên các đường chính, trong các cao ốc còn sót lại ở hướng
Đông–Bắc và Tây–Bắc, phân chia từng Tổ 3 người để bắn sẻ, hay
tác xạ B40, B41 ngăn chận các cuộc chuyển quân, tấn công của các
đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Mặc dù các khu vực hướng Bắc đã lần
lượt tái chiếm, nhưng lực lượng địch tại Đồn Cảnh Sát Dã Chiến
vẫn cố thủ, chúng dùng đại bác 57 và 75ly trực xạ, nhưng cuối
cùng với sự yểm trợ hỏa lực của Không Quân Hoa Kỳ và kỹ năng tác
xạ súng cối 81ly chính xác, hiệu quả của Trung uý Cao Kỳ Sơn và
Trung sĩ Đỗ Đức Thịnh, cùng với lối tác chiến chuyên nghiệp, gan
dạ, Biệt Cách Dù đã tiêu diệt toàn bộ bọn chúng ngay trong chiều
ngày 18/4/1972. Tuy nhiên Biệt Cách Dù cũng đã phải ngậm ngùi
trước sự hy sinh của Chuẩn uý Nguyễn Quang Khánh và một số đồng
đội.
Một phần
lớn dân chúng đã thoát ra khỏi thành phố, theo QL13 chạy về
hướng Sài Gòn, nhưng đồng bào bị Việt cộng pháo kích sát hại,
một số bị chận lại ở Chơn Thành không cho chạy nữa. Đồng bào
chết giữa lửa đạn hay sao? Cộng sản không quan tâm. Không lý
chúng làm Lễ ra mắt “Chính Phủ ma” ở một “thành phố ma”, thành
phố không còn dân, dân chúng đã bỏ chạy hay sao?
Ngày 19 tháng 4 năm 1972, Việt cộng bắt
đầu mở cuộc tấn công mới, với ý muốn dứt điểm thành phố, kết
thúc trận đánh, thực hiện tham vọng giải phóng toàn bộ thị xã An
Lộc. Chúng đưa Trung Đoàn 141, Trung Đoàn 275 với Đặc công và
Chiến xa T54 yểm trợ tấn công Đồi Gió, chúng áp dụng chiến thuật
biển người, nhưng chúng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của
Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù do Trung tá Nguyễn văn Đỉnh chỉ huy, ngoài
ra chúng còn pháo kích dồn dập vào ngay thị xã và sau đó ào ạt
tấn công từ hai hướng Tây và Tây–Bắc, nhưng chúng cũng đã bị các
chiến sĩ 81 Biệt Cách Dù Đại Đội 3, Đại Đội 4, và các Đại Đội
Biệt Động Quân phản công triệt hạ nhiều địch quân, thiêu hủy một
số chiến xa, gây thảm bại cho bọn chúng.
Đến Ngày 4 tháng 5, một lực lượng địch,
không rõ quân số, lợi dụng đêm tối, tấn công vào phòng tuyến của
Đại Đội 3 và 4 hầu mong giành lại những khu vực đã bị Biệt Cách
Dù tấn chiếm. Suốt một đêm giao tranh, chúng đã bỏ lại nhiều xác
chết nằm vương vãi bên ngoài giao thông hào. Đại đội trưởng Đại
Đội 4 Đại uý Đào Minh Hùng, bị trọng thương và sau đó không lâu
Đại đội phó Trung uý Nguyễn Khoát Hải, bị mảnh đạn súng cối
trúng vào mắt, Trung tá Phan Văn Huấn đã đưa tôi về đảm nhận
chức vụ Đại đội trưởng Đại Đội 4 Biệt Cách Dù.
Quân cộng sản áp dụng đúng chiến thuật
của Napoléon: “tiền pháo hậu xung”. Trong nửa đêm ngày 10, rạng
sáng ngày 11 tháng 5 năm 1972, bọn chúng rót xuống thành phố 8
ngàn quả đạn pháo. Với hỏa lực đó không những thành phố An Lộc
nhỏ xíu thành bình địa, mà tất cả các đơn vị Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa sẽ bị tiêu diệt. Không một sức đối kháng nào có thể tồn
tại.
Mặc dù
địch đã pháo xối xả, ác liệt vào thành phố chỉ trên 1 cây số
vuông, nhằm hủy diệt hoàn toàn binh lực của chúng ta, nhưng bọn
chúng đã hoài công, chẳng mang lại được kết quả hay tổn thất gì
đáng kể.
Các
lực lượng cố thủ và tăng cường giải tỏa thị xã Bình Long, không
phòng thủ tập trung trong một khu vực tại trung tâm thành phố,
mà đóng rải rác trên một chu vi rộng lớn, với các công sự, hầm
hố kiên cố, vững chắc; hơn nửa lực lượng địch và ta lúc đó cũng
đang bố trí cận kề, nên địch không thể liều lĩnh hỏa tập để sát
thương, gây tổn thất nặng nề luôn cho bọn chúng.
Dứt các đợt pháo, theo hướng dẫn của
của du kích địa phương, có cả đặc công và bộ binh tùng thiết,
theo đúng chiến thuật “nhị thức bộ binh, thiết giáp”, khoảng hơn
20 xe tăng T54 của địch tiến vào thành phố, theo ba hướng khác
nhau. Hướng phòng thủ của các Đại Đội Biệt Cách Dù đã tiên đoán
và sẵn sàng chờ địch. Bộ binh, đặc công Việt cộng tiến song song
theo xe tăng, chúng vừa đi vừa bắn phá dữ dội.
Bấy giờ, về phía các Đại Đội Biệt Cách
Dù phòng ngự, mìn chống tăng thiếu hụt. Một số lớn đã được sử
dụng trong các trận đánh trước, công việc tiếp liệu chưa cung
ứng kịp. Vả lại, loại mìn chống tăng hiện có, sức công phá còn
yếu, chưa đủ để phá hủy toàn bộ xe tăng địch. Trung tá Phan Văn
Huấn đã sáng chế ra một loại mìn chống tăng “thần kỳ”.
Theo lệnh của Ông, các Đại Đội đã sử
dụng đạn đại bác 105ly hay 155ly không nổ, đút vào đầu viên đạn
một thỏi chất nổ TNT, gắn ngòi nổ mìn Claymore vào đấy, xong đặt
mìn trên các con đường trước tuyến phòng thủ, chờ xe tăng địch
tới đúng vị trí, bấm vào “con cóc”. Sức công phá của loại mìn
chống chiến xa tự chế này đạt hiệu quả tối đa. Không những xe
tăng bất động, bị cháy, mà bộ binh tùng thiết cũng gánh chung số
phận và trên đường tạo ra một hố sâu rộng lớn đã làm cản trở
đường chuyển vận của các xe tăng bọn chúng.
Nhờ vào sáng kiến này mà hơn 10 chiến
xa T54 của địch đã bị các đơn vị Biệt Cách Dù phá hủy, số chiến
xa còn lại đã bị các đơn vị Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Trung Đoàn
8 Bộ Binh, và Địa Phương Quân tác xạ tiêu hủy bằng hỏa tiễn M72
và XM202, thây địch chết, bị thương nằm ngổn ngang, la liệt bên
các xe tăng địch, trên khắp các ngã đường trong thị xã Bình
Long, An Lộc.
Trên hướng phòng ngự của Đại Đội 2, hai chiếc T54 trúng mìn tan
xác tại chỗ, hai chiếc còn lại đằng sau, quay mũi xe bỏ chạy lạc
hướng, cũng đã bị các đơn vị Bộ Binh của Trung Đoàn 8, Sư Đoàn 5
triệt hạ. Trước thất bại này, khả năng chiến đấu của chúng không
còn, các chiến sĩ Biệt Cách dù đã leo lên đứng trên chiến hào,
trên các xe tăng địch hoan hô chiến thắng của mình vang dội cả
một vùng trời mù mịt khói lửa, đạn bom.

Đuổi chuột...
(Đánh chiếm từng nhà)
Địch sau các cuộc tấn công qui mô, áp
đảo, chúng không còn khả năng tấn công lớn nữa, vì thế các Đại
Đội Biệt Cách Nhảy Dù được lệnh “đuổi chuột từng nhà”, quét sạch
địch khỏi thành phố. Việt cộng tháo lui, đang ẩn núp trong các
nhà dân bỏ hoang, chúng chiếm cứ một vài cao điểm để bắn sẻ vào
binh lính chúng ta. Ngoài ra, không ít cán binh Việt cộng, sau
khi đơn vị chúng bị đánh tan tác, bị đánh đuổi ra khỏi thành
phố, chúng bị kẹt lại nên cũng lẩn trốn trong nhà dân, chưa biết
cách tấn thối như thế nào. Tuy nhiên, vũ khí chúng vẫn còn trong
tay, còn có thể gây nguy hiểm cho binh sĩ của chúng ta.
Trung tá Chỉ huy trưởng Phan Văn Huấn
lệnh cho các Đại đội trưởng phải nhanh chóng trừ khử toàn bộ bọn
chúng. Sở trường chuyên nghiệp của Biệt Cách Dù bắt đầu đem ra
tái sử dụng. Các Toán, chờ trời vừa sụp tối là triển khai đội
hình, “đục tường” tiến từ nhà này qua nhà khác, tiêu diệt địch
từng tên một bằng vũ khí cá nhân là dao găm, lựu đạn. Trong
trường hợp này, lựu đạn là loại vũ khí đắc dụng nhất, “đục
tường” chỉ là một cách nói. Việt cộng bắn phá thành phố một cách
bừa bãi, không phân biệt mục tiêu quân sự hay nhà ở của dân
chúng, nên hầu hết nhà cửa đều bị sập hoặc hư nát. Nhờ vậy, các
chiến sĩ Biệt Cách Dù đã lợi dụng những bức tường nứt đổ, những
vách tôn, vách lá rách nát, để tiến từ nhà này qua nhà khác. Lần
hồi, nội vi thành phố không còn bóng dáng địch. Chúng chỉ còn
cầm cự vòng ngoài, thỉnh thoảng pháo kích đạn cối vu vơ vào
thành phố để cầm chừng.
Mục tiêu còn lại cuối cùng là Đồi Đồng
Long. Để chuẩn bị cho cuộc tấn công tái chiếm Đồi Đồn Long,
trong lúc khai triển đội hình khi đến gần chân đồi với đầy dẫy
cây rừng hoang dại, các chiến sĩ Đại Đội 2 Biệt Cách Dù đã phát
hiện một căn hầm, nằm khuất lấp dưới những tấm ván gỗ và những
cỏ cây xác xơ vì bom đạn. Các binh sĩ áp sát đến miệng hầm, họ
nghe vài ba tiếng động sột soạt nhỏ phát ra từ bên trong. Rất
thận trọng, họ chưa vội nổ súng hay tung lựu đạn mà chỉ phát lời
kêu gọi đầu hàng, đồng thời cấp báo ngay về Bộ Chỉ Huy Hành
Quân, Trung tá Chỉ huy trưởng Phan Văn Huấn ra lệnh Đại uý Sơn
cho binh sĩ quan sát kỹ càng, có thể là địch quân mà cũng có thể
là đồng bào, nhưng bất kể họ là ai, với hơn hai tháng chiến trận
xảy ra nơi đây, không lương thực, nước uống, thì đâu còn sức đề
kháng để chống cự, phải tìm mọi cách đưa họ ra khỏi căn hầm đó.
Và thật không thể tưởng tượng được, chỉ vài ba phút sau đó, có
hai em bé gái khoảng chừng 6, 7 tuổi bò ra, trên người chỉ còn
những mảnh vải rách nát, tả tơi che thân, đất bùn, ghét bẩn bám
đen xì trên thân thể khô cằn, còm cõi, chỉ còn da bọc xương, hai
mắt sâu hoắm trên một khuôn mặt hốc hác, ngây dại, thờ thẫn,
giọng nói khàn đục, thiểu não, nhìn hai bé chẳng khác gì hai bộ
xương biết đi, thật quá đỗi thương tâm, đau lòng, không ai có
thể cầm được nước mắt.
Trung tá Chỉ huy trưởng đã mang hai bé
về Bộ Chỉ Huy Hành Quân và giao cho Ban Quân Y của Bác sĩ Nguyễn
Thành Châu khám nghiệm, chữa trị, chăm sóc cho đến khi hai bé
tạm bình phục và hai bé đã kể lại mọi sự việc như sau:
– “Hai
cháu tên là Hà Thị Loan và Hà Thị Nở, con của Trung sĩ Hà Văn
Hiến, phục vụ tại Tiểu Khu. Khi Việt cộng tấn công, pháo kích
vào An Lộc, mẹ cõng em trai 4 tuổi và đắt hai cháu chạy giặc,
thì bất ngờ mẹ bị trúng đạn pháo chết ngay tại chỗ, em trai bị
thương nặng ở chân. Chúng cháu liền cõng em trai chạy xuống ẩn
trú trong một cái hầm kế cận chân đồi Đồng Long, trong đêm hôm
đó em trai cháu chết, quá khó khăn để chôn cất, nên chúng cháu
để xác em trai nằm bên cạnh cho đến thối rữa chỉ còn bộ xương.
Chúng cháu trốn ở đó suốt hơn hai tháng, lúc đầu may nhờ có một
số cơm gạo sấy của ai bỏ lại đã ăn dần, về sau ăn sống luôn mấy
con gà con lạc mẹ đang trốn chung trong hầm. Cạn kiệt lương
thực, đói quá ban đêm khi không còn nghe tiếng đạn pháo kích,
thì mò ra khỏi hầm kiếm rau cỏ mà ăn. May nhờ đến ngày hôm nay
được các bác tìm thấy mà cứu sống các cháu.”
Trong năm 1973, Tổng Cục Chiến Tranh
Chính Trị đã đưa hai Cháu Loan và Nở lên Đài Truyền hình Sài
Gòn, để kể lại bao nỗi gian khổ, đói khát hãi hùng, kinh hoàng
trong hơn hai tháng ẩn trốn ở An Lộc. Đến năm 1974, hai Cháu đã
được một người Mỹ nhận làm con nuôi, và hiện nay đang định cư
tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Tái Chiếm Đồi Đồng Long
Đến ngày 12 tháng 6 năm 1972. Liên Đoàn
81 Biệt Cách Dù được lệnh tái chiếm Đồi Đồng Long. Đây là một
trận đánh sinh tử, quyết liệt cuối cùng mà Liên Đoàn 81 Biệt
Cách Dù đã được cấp trên tin tưởng giao phó. Vận mạng của An Lộc
cũng sẽ tùy thuộc vào sự thành bại trong trận huyết chiến này.
Đích thân Trung tá Chỉ huy trưởng Phan
Văn Huấn đã điều động Đại Đội 2 và Đại Đội 3 chia làm hai cánh,
Đại Đội 3 do Đại uý Phạm Châu Tài chỉ huy, sẽ tiến quân từ hướng
Đông và Đại Đội 2 do Đại uý Nguyễn Sơn chỉ huy, phối hợp cùng
hai Toán Thám Sát do Thiếu uý Lê Văn Lợi chỉ huy, sẽ tiến quân
từ hướng Nam, tất cả lợi dụng vào nửa đêm trời tối, âm thầm, kín
đáo bò sát lên đỉnh đồi, nằm ém quân tại chỗ, đợi cho đến khi
trời vừa hừng sáng, sau khẩu lệnh xung phong của Đại uý Sơn, tất
cả đã đồng loạt nổ súng xối xả, tấn công vào các pháo tháp, hầm
trú ẩn của địch quân, bọn địch dù đông, công sự phòng thủ vững
chắc, nhưng quá bất ngờ, không kịp trở tay trước lối đánh thần
tốc, táo bạo của Biệt Cách Dù, nên một số đã bị sát hại, số còn
lại vừa định thần đã phản ứng chống trả, nhưng không ngăn cản
được quyết tâm tái chiếm đồi Đồng Long của các chiến sĩ Biệt
Cách Dù, cuối cùng chúng cũng đã bị tiêu diệt, hay đã phải buông
súng đầu hàng.
Hai Toán Thám Sát đã không chậm trễ, khai triển đội hình công
hãm và thanh toán cứ điểm cuối cùng của địch trên chóp đỉnh, bốn
tên địch quân ngoan cố cầm cự trong tuyệt vọng, để rồi phải phơi
thây thảm khốc. Thiếu uý Lợi và các Toán viên đã mừng rơi nước
mắt, cùng cầm Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa cắm xuống ngay trên đỉnh
Đồi Đồng Long.
Lá Cờ Vàng ba sọc đỏ lại bắt đầu ngạo nghễ tung bay trước gió,
giữa bầu trời một màu trong xanh pha trộn những tia sáng rực rỡ
của ánh bình minh, đánh dấu cho một ngày mới, một ngày mà An
Lộc, Bình Long đã sạch bóng quân thù, một ngày mà Trung tướng
Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Quân Đoàn III đã ra tuyên bố:
– “thành phố Bình Long, An
Lộc đã hoàn toàn được giải tỏa”.
Trước chiến thắng vang dội, hiển hách
của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Trung tướng Nguyễn Văn Minh khi
đến thị sát chiến trường An Lộc, đã thừa lệnh Tổng thống và Đại
tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, gắn cấp bậc đại tá đặc
cách tại mặt trận cho Trung tá Phan Văn Huấn, Chỉ huy trưởng
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Cùng lúc đó, Tướng tử thủ Lê Văn Hưng
đã không tiếc lời khen ngợi và hầu hết các đơn vị tham chiến tại
Bình Long đều vui mừng, bày tỏ lòng cảm phục đối với các chiến
sĩ 81 Biệt Cách Dù đã anh dũng chiến đấu tiêu diệt quân thù,
giành lại những phần đất đã lọt vào tay bọn chúng.
Nghĩa Trang
Dĩ nhiên, trong một trận đánh dữ dội
nhất nhì trong Lịch sử Chiến tranh Đông Dương, Việt cộng tung
hết lực lượng sẵn có ở miền Đông Nam Bộ và các Sư Đoàn thiện
chiến của chúng từ Miền Bắc xâm nhập vào chiến trường An Lộc.
Bên phía Chính Quyền và Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa quyết tử
chiến, giữ không cho giặc chiếm một tấc đất nào, nên đã đưa vào
mặt trận những Đơn vị Quân Đội nổi danh, thiện chiến, thì sự hy
sinh, tổn thất của hầu hết các đơn vị này không phải là ít,
trong đó có Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù của chúng tôi.

Với các chiến sĩ tử vong tại mặt trận,
ban ngày chết bất cứ ở đâu, thì ban đêm đều được đồng đội mang
về tập trung chôn cất ở khu đất cạnh Chợ An Lộc, như nghiêm lệnh
của Trung tá Chỉ huy trưởng Phan Văn Huấn. Không thể chôn cất ở
một địa điểm nào xa thành phố vì tình hình chiến sự bấy giờ
không cho phép, Liên Đoàn sử dụng khu đất trống phía trước Chợ
An Lộc để an táng những chiến sĩ Biệt Cách Dù đã nằm xuống. Việc
chôn cất khẩn cấp, giữa lúc giao tranh vẫn đang còn tiếp diễn,
dù vậy chúng tôi thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Mộ có hàng
lối, có đắp nấm và có bia gỗ khắc tạm tên tuổi, v.v.
Về sau này, đích thân tôi được Trung tá
Chỉ huy trưởng Phan Văn Huấn chỉ thị phác thảo họa đồ, điều động
một Toán 4 binh sĩ, gồm có Hạ sĩ Sang, Hạ sĩ Trúc (Đại Đội 4),
Hạ sĩ 1 Diệp, Binh 1 Ngà (Đại Đội 1) bắt tay vào sửa sang 68
phần mộ, dựng các bia đá có khắc ghi đầy đủ Danh Tánh, Cấp Bậc,
Ngày, Tháng tử trận, và xây dựng khuôn viên bao quanh Nghĩa
Trang, mặt chính diện ghi khắc hai câu thơ:
“Tuý
ngọa sa trường quân mạc tiếu.
Cổ lai
chinh chiến kỷ nhân hồi”
Và dựng lập một Đài Tử Sĩ “Tổ Quốc Tri
Ơn” bằng gạch, tô ciment, cao 10ft, bên dưới bệ khắc nổi hai câu
thơ:
“An
Lộc Địa sử ghi chiến tích.
Biệt Cách Dù
vị Quốc vong thân”
Vật liệu cần thiết cho công việc này là
xi măng, gạch cát phần lớn là do các Hiệu Buôn trong khu vực
Liên Đoàn phòng thủ ủng hộ. Tôi phải kể đến sự đóng góp cao quí
của cửa hiệu Tân Hoài Sương đã hết lòng hỗ trợ. Ngoài ra, chúng
tôi sử dụng một số xi măng của các Cửa Hiệu đã bị đạn pháo kích
của Việt cộng tàn phá, chủ nhân đã di tản.
Về sau chính quyền tỉnh, theo sự đề
nghị của Trung tá Huấn, đã đền bù cho chủ nhân các thương hiệu
này, theo chính sách gọi là “bồi thường chiến tranh” của Bộ Xã
Hội, Chính Phủ VNCH.

Về hai câu đối ghi ở Đài Tử Sĩ Tổ Quốc
Tri Ơn, phát xuất từ hai Câu Thơ của Cô Giáo Pha dạy ở Trường
Tiểu Học thị xã Bình Long. Cô Pha trúng đạn pháo kích bị thương
ở chân, không di chuyển được. Biệt Cách Dù đưa Cô về Trạm Xá Dã
Chiến ở cạnh Bộ Chỉ Huy chăm sóc. Khi thương tích đã bớt, đi lại
được bằng đôi nạng gỗ do các chiến sĩ Biệt Cách Dù tự chế, hằng
ngày cô nhìn qua cửa sổ, thấy chúng tôi dưới làn mưa đạn, mịt mù
khói lửa đang cặm cụi chôn cất, đắp mộ, dựng bia cho các đồng
đội đã hy sinh. Xúc cảm trước những tử vong cao cả này và với
lòng cảm mến, đội ơn sâu xa của một người dân với Quân Đội VNCH
nói chung và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù nói riêng, cô đã sáng tác
hai câu thơ:
“An
Lộc Địa Sử ghi chiến tích,
Biệt Cách Dù
vị Quốc vong thân”
Khi tình hình thị xã tạm yên. Vào ngày
7 tháng 7 năm 1972, trong chuyến viếng thăm chiến trường An Lộc,
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao
Văn Viên, Tổng trưởng Dân Vận Hoàng Đức Nhã, và Tướng tử thủ Lê
Văn Hưng đã đến kính cẩn quỳ lạy, niệm hương cầu nguyện, và rơi
nước mắt trước Đài Tử Sĩ của Nghĩa Trang 81 Biệt Cách Dù.
Sau sự kiện này, thị xã An Lộc đã hoàn
toàn nằm trong vòng kiểm soát của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù chúng tôi sau
68 ngày chiến đấu đã hy sinh 68 Chiến sĩ và hơn 300 Quân Nhân bị
thương tích. Đến ngày 24 tháng 6 năm 1972, Liên Đoàn được lệnh
rút khỏi An Lộc, về nghỉ dưỡng quân 2 ngày tại Bộ Chỉ Huy đơn vị
ở ngã tư An Sương để bổ sung quân số, trang bị lại đầy đủ vũ
khí, quân trang, quân dụng, và 48 tiếng đồng hồ sau đó, ngày 28
tháng 6 năm 1972 lại khăn gói lên đường ra Vùng I hỏa tuyến để
tham gia tái chiếm Cổ Thành, Quảng Trị.
Hết “Bình Long Anh Dũng”,
bây giờ là “Trị Thiên Vùng Dậy”.
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d: 11...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


11. Cổ Thành Quảng Trị
Trị–Thiên vùng dậy!

“Miền
thùy dương...
... bóng dừa, ngàn thông...”
48 giờ dưỡng quân tại hậu
cứ, ở Ngã Tư An Sương, Hốc Môn, đối với tôi, ra Sài Gòn làm một
chầu cà phê ở Mai Hương, Pagode thế là đủ!
Khi chưa kết hôn, 7 ngày phép với tôi
là... quá dài. Tới ngày thứ tư, tôi đã bồn chồn, ngày thứ năm,
tôi nhớ đồng đội, nhớ đơn vị... Rồi tôi không thể nghỉ phép hết
ngày thứ sáu. Tôi về Đơn Vị. Không khí ở đó mặn nồng hơn, vui vẻ
hơn. So với những ngày phép ở ngoài, sao nó nhạt nhẽo, đôi khi
vô vị. Đúng vậy! Chẳng có mùi vị gì hết.
Vì vậy, khi người bạn học cũ hỏi tôi:
– “Mày mới từ tử địa An Lộc về, bây giờ
lại ra Miền Trung, bộ không ngán súng đạn sao?”
– “Bây chừ thì chưa. Bây chừ tao còn
thấy đi hành quân với đơn vị, Anh Em, mà lại về Huế nữa, là...
vui lắm.”
Với
cái vui ấy, tôi cùng Anh Em 81 Biệt Cách Dù lên mấy chiếc C130
của Quân Đội Mỹ, bay ra phi trường Phú Bài ngày 28 tháng 6 năm
1972.
Chúng tôi phải đi gấp vì Lệnh của Tổng thống đấy.
Hôm Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Quân Lực 19
tháng 6 năm 1972, Tổng thống đọc diễn văn và ra lệnh cho Quân
Đội Việt Nam Cộng Hòa, trong vòng 3 tháng, phải chiếm lại Cổ
Thành Quảng Trị. Kể từ hôm Tổng thống ra lệnh, đến ngày chúng
tôi lên máy bay, chỉ mới 9 ngày. Ngoài ấy, Tướng Ngô Quang
Trưởng đang là Tư lệnh Chiến Trường, ngoài các đơn vị của Quân
Đoàn I, thì các Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến cũng đã
có mặt rồi. Không những chúng ta giữ được phòng tuyến sông Mỹ
Chánh, mà lại còn đang phản công ra phía Bắc con sông này.
Xuống ở phi trường Phú Bài, chúng tôi
được đưa thẳng ra PK 17, tức là Đồn Cây Số 17, như dân chúng
thường gọi. Đây là căn cứ của Trung Đoàn 3, Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
Trung Đoàn đã ra trận, chỉ còn một ít binh sĩ ở lại phòng thủ
doanh trại.
Đêm
đó, như thường lệ, trước mỗi cuộc hành quân, chúng tôi nhận 7
ngày lương khô, và được Đại tá Chỉ huy trưởng Phan Văn Huấn, chỉ
thị nhiệm vụ cho từng Đại Đội. Ông đã được vinh thăng đặc cách
đại tá tại mặt trận Bình Long, An Lộc, cũng như về sau này tất
cả quân nhân khác trong đơn vị có tham dự tại chiến trường An
Lộc, mỗi người đều được thăng một cấp.
Tôi, Đại đội trưởng Đại Đội 4, cùng Đại
uý Nguyễn Ích Đoan, Đại đội trưởng Đại Đội 1 được lệnh đưa hai
Đại Đội ngày mai lên đường tăng phái cho Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù
của Thiếu tá Lê Văn Mễ. Đơn vị này, mới từ Charlie về, bổ sung,
tái huấn luyện, ra Quảng Trị hồi đầu tháng 5, ngay sau khi thành
phố Quảng Trị bị mất, nay đang hành quân từ phòng tuyến Mỹ
Chánh, tiến dọc theo các ngọn đồi sát chân núi Trường Sơn, phía
Tây Quốc lộ 1. Mục tiêu của Tiểu Đoàn 11 Dù là Nhà Thờ La Vang.
Tiểu Đoàn 11 Dù đã hoàn thành nhiệm vụ.
Đại Đội tôi được quân xa vận chuyển đến
gần ngã ba đường vào xã Ưu Điềm, từ đây chúng tôi men theo hai
bên Hương lộ, để di chuyển về hướng Mỹ Chánh, vượt qua cầu Mỹ
Chánh vào khoảng trưa, Đại Đội phân làm 2 cánh, tiến ra hướng
Bắc, ở hai bên Quốc lộ mới do Công Binh Mỹ vừa xây xong. Con
đường này không đi qua Diên Sanh, Phủ Lỵ Hải Lăng cũ. Trong suốt
một ngày đường là chúng tôi tới khu vực Đại Lộ kinh hoàng.
Một khung cảnh quá khủng khiếp hiện ra
trước mắt, đã làm cho máu tôi ứa trào lên. Tại sao Việt cộng tàn
ác đến như vậy?
Đó là câu hỏi đầu tiên hiện ra trong
trí tôi. Những cái ác mà tôi không thể tưởng tượng nổi, không
thể chịu đựng nổi, không thể chấp nhận được. Tôi vốn là một Phật
Tử mà. Nhưng dù là một Phật Tử, máu tôi không thể không sôi sục
dâng trào trước cảnh tượng bất nhân, tàn ác đó.
Trên mặt đường nhựa, xác người nằm la
liệt, ngổn ngang. Thây người chết ở mọi tư thế khác nhau, nằm
sấp, nằm ngữa, nghiêng. Xác thì chân tay giang ra, xác thì chân
hay tay co lại. Xác này chồng lên xác kia, dồn đống, có xác một
mình co quắp bên lề đường... Cái mất đầu, cái mất tay, mất chân.
Có xác đàn ông, có xác đàn bà, có xác trẻ em, có xác không còn
nhìn ra là đàn ông hay đàn bà nữa. Không thể nào tả hết được!!!
Đoạn đường Việt cộng giết người này,
xảy ra ngay ngày Việt cộng chiếm thành phố Quảng Trị, ngày 1
tháng 5 năm 1972 và những ngày sau đó.
Vậy là đồng bào nằm đây đã gần hai
tháng. Da thịt đã rữa. Có nơi xương trắng đã bày ra, sọ, tay
chân hay xương sườn. Dù quân nhân mặc đồ trận hay thường dân,
thì đồ trận, áo quần cũng đã phai màu, mục nát. Mái tóc dài của
mấy Mẹ, mấy Chị, mấy Cháu đã tróc khỏi sọ não, bay là đà theo
từng cơn gió thoảng, trên mặt cát còn xông đầy mùi tử khí.
Họ là những người trốn chạy, dù họ là
dân sự hay quân nhân. Họ trốn chạy cộng sản. Họ trốn chạy chiến
tranh. Họ trốn chạy tên bay đạn lạc, dù không biết rõ của phe
bên nào. Giết chết những người trốn chạy. Vậy là vô nhân đạo, là
vô lương tri. Là kẻ giết người, họ đã đi tới chỗ tận cùng của
lương tâm.
Trên
mặt đường và cả hai bên vệ đường, bên cạnh xác người là lỗ chỗ
các hố sâu của đạn súng cối, đại bác, hỏa tiễn mà giặc cộng đã
nhẫn tâm rót xuống để giết hại đồng bào, trẻ thơ vô tội.

Xe cộ nằm dọc theo đường đi, mũi xe
hướng về Nam. Xe Quân Đội, xe Dân Sự, xe Hàng, xe đò chở khách.
Xe lớn nhỏ đủ các loại. Nhiều chiếc bị cháy, sạm đen, nhiều
chiếc bị đạn pháo bắn hư hại một phần hay hoàn toàn. Rải rác đây
đó là các loại xe gắn máy, Vespa, Lambretta, Honda, Mobilette,
và khá nhiều xe đạp. Hầu hết, bị hư, cong vành, bể lốp chỉ còn
là đồ phế thải.
Dù là một người lính trận, từng vào
sinh ra tử, tôi không dám nhìn kỹ những cái xác ấy. Kinh hoàng
quá! Kinh hoàng quá! Tàn ác quá! tàn ác vô cùng tận!!!
Chúng tôi lặng yên di chuyển trong đau
buồn và tức giận, vừa sẵn sàng súng đạn để phản công, nếu địch
phục kích, lại cũng vừa để tránh địch phát hiện. Chúng sẽ pháo,
pháo dồn dập, nếu thấy chúng tôi.
Đêm mùa hè, trời tối chậm. Chúng tôi
được lệnh dừng quân, nghỉ qua đêm. Tôi cho lệnh các Trung Đội
đào hố cá nhân phòng thủ ở cả bốn hướng, trải rộng dọc theo hai
bên Quốc lộ 1, để tránh tổn thất khi bị địch pháo kích, đồng
thời là để phản ứng ngay nếu bị địch tấn công. Tôi và Ban Chỉ
Huy Đại Đội đóng cạnh một chiếc xe GMC của phe ta bỏ lại.
Đêm trôi đi trong bóng tối tĩnh mịch,
thỉnh thoảng có ngọn gió thổi qua, tôi thấy dễ chịu đôi chút.
Nhưng suốt đêm, tôi chỉ chợp mắt từng chặp. Tôi không sợ chết.
Nếu thần chết có đến, tôi sẽ chống lại, như cái bản năng sinh
tồn của muôn loài muôn vật. Chính tôi đã viết trên tường Đài Tử
Sĩ ở An Lộc:
“Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”.
Nói câu đó, và khắc viết lại câu nói đó
của người xưa, tức là tôi đã chấp nhận cái kỷ kiến ấy rồi. Có
chi mà tôi phải thắc mắc.
Nhưng những thây người ngổn ngang, đang
rữa mục, trên đoạn đường đi qua hồi chiều ám ảnh tôi, làm tôi
không ngủ được. Chiến tranh là tàn ác. Những người đi đánh trận
như tôi, vì Tổ Quốc, vì Đồng Bào, tôi chấp nhận nó. Nhưng với
những người nằm chết kia, tôi thấy tội nghiệp cho họ, hay như
câu Mẹ tôi thường nói:
– “tội vô cùng”.
Tội cho họ quá, không làm sao một con
người còn có lương tâm, có thể chấp nhận được.
Sáng hôm sau thức dậy, nhìn vô thùng
xe, nhìn chung quanh lại đầy rẫy xác người chết khô, nằm co
quắp, nằm dọc dài trên thảm cát, bên vệ đường. Thật là quá
thương tâm, não ruột. Tôi không kềm chế được nỗi xúc động, hai
dòng nước mắt ứa trào.
Đại Đội tiếp tục tiến ra hướng Bắc. Tới
một cây cầu, có phải là Cầu Dài như tên dân chúng thường gọi đã
bị sụp đổ, chúng tôi phải trầm mình lội nước vượt qua sông.
Tôi xem lại bản đồ, bên cạnh Quốc lộ 1,
phía trái hướng Tây, song song với Quốc lộ là đường Xe Lửa Sài
Gòn–Đông Hà. Bên kia đường Xe Lửa là khu đồi hoang, lúp xúp cây
dại, cây mua, và cây sim. Có lẽ vùng này tới mùa hoa nở, hoa mua
và hoa sim phủ kín ngọn đồi. Nó giống như những ngọn đồi miền
Trung, Bình Trị Thiên hay Thanh Nghệ Tĩnh vậy. Đây là “Những đồi
hoa sim, màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt”. Tiếc
rằng, tôi là người chiến binh, không có thì giờ lang thang qua
những đồi sim này để thấy màu tím của Quê Hương.
Di chuyển thêm chừng cây số nữa, bên
trái là một căn cứ Pháo Binh của Sư Đoàn Dù, tình cờ tôi gặp
Chuẩn uý Hoàng Công Thức, Khoá 25 sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, là em
một người bạn học cùng xóm, con trai Thầy Hoàng Văn Ngũ, Giáo Sư
Sinh Ngữ Trường Trung Học Công Lập Nguyễn Tri Phương, Huế. Anh
là Tiền Sát Viên Pháo Binh của Sư Đoàn Nhảy Dù, đang hoạt động
vùng này.
Sau
cùng, Đại Đội tôi cũng đã tiếp cận tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn
11 Nhảy Dù, tôi trình diện Mê Linh, tức là Thiếu tá Lê Văn Mễ,
Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù. Cùng gặp Mê Linh với tôi sau
đó là Đại uý Nguyễn Ích Đoan, Đại đội trưởng Đại Đội 1 Biệt Cách
Dù.
Mê Linh
giao nhiệm vụ cho hai Đại Đội Biệt Cách Dù là tái chiếm Nhà Thờ
La Vang, tên mới là Vương Cung Thánh Đường La Vang:
– “Đại Đội các anh phải chiếm lại Nhà
Thờ này, và giữ nó, không cho địch chiếm lại”.
Có nghĩa là Dù đã chiếm nó. Đó là công
lao của “Hùng móm”. Nhưng Hùng phải bỏ nó lại đi tiếp xuống để
đánh vào thành phố Quảng Trị. Thừa cơ hội đó, Việt cộng chiếm
lại mục tiêu này.
Con đường tiến quân của cộng sản đánh
vào Quảng Trị là con đường từ Ba Lòng xuống Như Lệ, Phước Môn,
bên hữu ngạn sông Thạch Hãn, theo một con đường bỏ hoang đã lâu,
có cái tên cũ là “Đường Bảo Đại”. Nó không giống như “Đường Trần
Lệ Xuân” ở Phước Long, con đường đi lấy gỗ rừng, của dân xe be,
khai thác gỗ.

Ở đây,
“Đường Bảo Đại” là đường đi săn của Nhà Vua trước năm 1945, khi
Ông Vua ham săn bắn này còn ngồi trên Ngai Vàng.
Quân cộng sản, theo con đường này, đưa
quân chiếm lại Nhà Thờ La Vang. Nó cũng có nghĩa là khi Tiểu
Đoàn 11 Dù từ hướng Tây đánh vào thành phố, thì coi như Tiểu
Đoàn đưa lưng ra cho địch từ sau đánh tới. Trong ý nghĩa đó, hai
Đại Đội Biệt Cách Dù có nhiệm vụ lấy lại Nhà Thờ La Vang, và giữ
nó là nhằm mục đích bẻ gãy ý đồ của địch.

Bây giờ chúng tôi lại phải áp dụng
chiến thuật sở trường: đánh đêm.
Vị trí giữa địch và ta đã thay đổi.
Trước kia, chúng ta ở trong đồn Việt cộng công đồn. Chúng phải
đánh ta vào ban đêm, chúng ta khó phát hiện địch. Bây giờ thì
chúng ta phải công đồn. Chúng ta cũng đánh đêm, địch không thể
phát hiện được ta.
Nhà Thờ La Vang mặt quay về hướng Đông.
Đại Đội 1 đánh từ hướng Tây Tây–Nam, phía có Hang Đá Đức Mẹ. Đại
Đội tôi cũng đánh từ hướng Tây Tây–Bắc, phía có con đường đi lên
Nhà Thờ Phước Môn ở phía Tây Nhà Thờ La Vang, gần chân núi
Trường Sơn hơn.
Vào nửa đêm, chúng tôi âm thầm hai cánh
quân tiến sát vòng đai Nhà Thờ La Vang, vừa dàn quân lại gặp một
trận mưa lớn. Chúng tôi án binh bất động.
Trời vừa sáng, dứt cơn mưa, quan sát
cách bố phòng của địch, tôi điện báo cho Đại uý Đoan để phối hợp
tác chiến, rồi bắt đầu phát lệnh xung phong, tấn công chớp
nhoáng, ào ạt. Địch bị quá bất ngờ, nên một số bị tiêu diệt, một
số vất súng đầu hàng, vài ba tên tháo chạy vào bên trong Nhà Thờ
dùng B40, AK47 chống trả, bị cánh quân hướng Tây–Bắc của Đại Đội
4 chúng tôi, ném lựu đạn triệt hạ 20 tên, bắt sống 05 tên.
Chúng tôi 03 tử thương và 12 bị thương.
Thu dọn chiến trường xong, Đại Đội 1 được lệnh ở lại bố phòng
Nhà Thờ La Vang. Đại Đội tôi tiếp tục tiến về hướng Đông
Đông–Bắc để thanh toán mục tiêu kế cận: Chi Khu Mai Lĩnh.
Chi Khu Mai Lĩnh, thuộc quận Mai Lĩnh,
tọa lạc trên đoạn đường rẽ, tên thường gọi là Ngã ba Long Hưng,
là con đường cũ đi vào thành phố, phía ngoài Sân Vận Động Quảng
Trị cũ, kế cận Trường Trung Học Nguyễn Hoàng.
Trên con đường tiến quân từ Nhà Thờ La
Vang đến Chi Khu Mai Lĩnh, Đại Đội tôi bị tử thương một khinh
binh và một Tiểu đội trưởng vì đụng chốt Việt cộng tại ngã ba
đường La Vang và Quốc lộ 1. Nhổ chốt là sở trường của Biệt Cách
Dù, theo chiến thuật của Đại tá Huấn. Pháo Binh cho nổ một tràng
vào vị trí địch buộc địch phải thụt đầu xuống, núp trong các hố
cá nhân. Các viên đạn cuối là đạn lép. Trong khi, nghe tiếng đạn
đi, Việt cộng còn núp thì chúng tôi biết đó là đạn lép, không có
gì nguy hiểm, liền nhanh chóng áp sát chỗ chúng ẩn núp. Nhờ đó,
chúng tôi thanh toán bọn chúng không mấy khó khăn.
Đại Đội tôi cũng áp dụng chiến thuật
đánh đêm để tiến chiếm Chi Khu Mai Lĩnh. Đơn vị Việt cộng chốt
lại đây không đông, khoảng 15 hay 20 chục tên, chúng nằm trong
các công sự có sẵn trong Chi Khu để chống trả. Tin vào hệ thống
phòng thủ, chúng không ngờ binh sĩ của Đại Đội tôi, một nửa ém
quân bên ngoài, thỉnh thoảng tác xạ Súng Phóng Lựu M79 vào bên
trong Chi Khu, một nửa lợi dụng trời tối đen như mực, bò vào nằm
sát bên ngoài công sự. Khi chúng tác xạ chống trả là để lộ mục
tiêu, nên bị chúng tôi ném lựu đạn giết chết và làm trọng thương
hầu hết.
Ở lại
trấn thủ Chi Khu Mai Lĩnh được hai hôm, Đại Đội tôi được lệnh
tăng phái cho Tiểu Đoàn 5 Dù, Tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Bùi
Quyền, Thủ khoa Khoá 16 Võ Bị Đà Lạt, đang hành quân ở phía Đông
Cổ Thành. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đang đóng tại khu vực thôn An
Thái, cách Cổ Thành khoảng 3km về hướng Đông–Nam. Trình diện
danh tánh, cấp bậc, chức vụ với Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5,
Thiếu tá Bùi Quyền nhìn tôi nói đùa:
– “Tôi thì nhỏ con, Trung uý Lực thì to
con, vậy tôi gọi ông là ‘Lực đô’ nhé. À à... Mà ‘Lực đô’ nói lái
là ‘Lộ Đức’, vậy thì Lộ Đức là ám danh đàm thoại vô tuyến tôi
đặt cho Trung uý trong cuộc hành quân này. Trung uý chịu không?”
Nói xong, Thiếu tá Quyền cười vui vẻ vì
cái sáng kiến độc đáo của Ông. Nhờ Ông, mà cái biệt danh “Lộ
Đức” đeo đẳng theo tôi từ đó cho tới bây giờ.
Hôm sau Đại Đội 3 của Đại uý Phạm Châu
Tài cũng được điều động đến tăng cường cho Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.
Thiếu tá Bùi Quyền họp các Đại đội
trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và Biệt Cách Dù để ban lệnh hành
quân. Ông giao cho tôi nhiệm vụ tấn công chiếm “Nhà Thờ Hạnh Hoa
Thôn”, thuộc làng Cổ Thành, quận Triệu Phong. Đai Đội 3 là lực
lượng trừ bị. Thôn này ở bên sông, đẹp như cái tên của nó, nằm
trên con đường đất hẹp, từ phía Đông Cổ Thành ra tới bờ sông
Vĩnh Định.
Thôn
Hạnh Hoa có những ngôi nhà cổ, vườn rộng, cây lá xanh tươi,
nhiều gốc mai lưu niên, có thể là trồng từ lâu lắm, đã mấy chục
đời.
Nhà Thờ
Hạnh Hoa nhỏ, đối diện với bên kia đám ruộng nhỏ là Nhà Thờ Trí
Bưu cao lớn, có tháp chuông vươn khỏi những ngọn tre làng.
Địch đang chiếm giữ Nhà Thờ.
Đánh trận ở đây, khi thấy địch chiếm
Nhà Thờ, tôi thường nhớ lại một câu trong bài hát “Hoa trắng
thôi cài trên áo tím”:
“Từ khi giặc tràn qua Xóm Đạo,
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương”
Vâng, tôi là người chiến sĩ giữ Quê
Hương và tôi đang đuổi giặc ra khỏi xóm quê này, mặc dù tôi
chẳng có một em nhỏ nào ở đây cả, “để nghe khe khẽ lời em
nguyện” mà chỉ có “Luyến thương chan chứa Tình Quê Mẹ” mà thôi.
Hình như quân cộng sản chỉ quen với
chiến thuật tấn công hơn phòng thủ. Nhờ vậy chúng tôi lần nữa sử
dụng kỹ thuật đánh đêm.
Tôi bung bốn Trung Đội men theo các nhà
dân bị đổ nát, song song tiến sát Nhà Thờ Hạnh Hoa Thôn. Lại một
trận mưa rào đổ xuống giúp xóa bớt tiếng động di hành của chúng
tôi, nhờ đó mà Đại Đội đã vào chiếm cứ Nhà Thờ không một tiếng
súng nổ. Đáng buồn là khi trời hừng sáng, địch đã nổ súng phản
công và trong lần đụng độ này, tôi mất người Hiệu Thính Viên mà
tôi rất thương mến: Hạ sĩ Chấn. Anh hy sinh ngay khi đang cầm
ống nghe liên lạc báo cáo với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù,
thì bị một viên đạn bắn trúng đầu.
Vào ngày hôm sau, từ tờ mờ sáng đại bác
của Việt cộng tác xạ liên hồi từ hướng Tây vào các vị trí phòng
thủ của các đơn vị Nhảy Dù, Đại Đội tôi và rải rác quanh khu vực
phía Đông của Cổ Thành.
Vừa ngưng pháo thì Việt cộng bắt đầu mở
cuộc tấn công qui mô với một đơn vị cộng quân đông hơn quân số
Đại Đội tôi tới khoảng 5 lần.
Bọn chúng từ một ngôi làng ở hướng Bắc
Thôn Hạnh Hoa, ồ ạt xung phong biển người tấn công vào Nhà Thờ
Tri Bưu và Nhà Thờ Hạnh Hoa. Chúng tôi sử dụng hết hỏa lực của
mình để ngăn giặc. Nhưng kỳ lạ chưa? Bọn chúng như điên cuồng,
như rồ dại, như uống bùa mê, thuốc lú, hết lớp này ngã xuống,
lớp sau tiến lên. Lớp sau ngã xuống, lớp sau nữa tiến lên. Không
những chúng tôi ngạc nhiên, thấy kỳ lạ mà còn kinh hoảng nữa, tự
hỏi:
– “Sao
bọn chúng ngu xuẩn, điên rồ vậy?”
Cứ tình trạng này, Đại Đội tôi, với
quân số ít ỏi, chưa kịp bổ sung sau trận An Lộc, sẽ bị chúng
tràn ngập mất thôi.
Nhưng cuối cùng, trước hỏa tập TOT của
Pháo Binh Dù và Sư Đoàn 1, cùng sự chiến đấu dũng cảm của các
Đại Đội Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và Đại Đội 4 chúng tôi. Bọn chúng
quay đầu tháo chạy như lũ chuột, bỏ lại trên chiến trường la
liệt xác chết của đồng bọn, của những tên giặc cộng cuồng tín,
vô thần, mất hết cả lương tri, nhân tính.
Tôi ngồi nghỉ mệt, lật tấm bản đồ ra
xem lại vị trí của mình. Tôi bỗng giật mình khi chợt nhớ câu
chuyện của một người bạn cũ kể lại. Tết năm Mậu Thân, Việt cộng
dùng con đường này để tiến quân đánh vào thị xã Quảng Trị. Ngay
tại điểm này, chỗ tôi đang ngồi: Thôn Hạnh Hoa, Việt cộng đụng
phải một Tiểu Đoàn Nhảy Dù và thiệt hại không ít. Nhờ đó mà
Quảng Trị được yên hơn Huế là vì vậy.

Hèn chi, Việt cộng cố chiếm lại Nhà Thờ
Hạnh Hoa Thôn, là vì nó nằm trên con đường chiến thuật. Mất Nhà
Thờ Hạnh Hoa Thôn, là chúng mất con đường tiếp cận với binh lính
của chúng đang cố thủ trong Cổ Thành. Giữ được Nhà Thờ Hạnh Hoa
Thôn là Đại Đội tôi đã đóng góp sức mình cho công việc tái chiếm
Cổ Thành Quảng Trị.
Tình hình chiến sự ở khu vực cận Cổ
Thành vẫn còn sôi động. Súng đạn từ trong bắn ra từ ngoài bắn
vào liên tục. Tiểu Đoàn 5 Dù được tăng cường thêm Đại Đội 111 và
Đại Đội 2 Trinh Sát Dù, đang nỗ lực tấn công tái chiếm Cổ Thành.
Thiếu tá Bùi Quyền ra lệnh cho Đại Đội 3 và Đại Đội 4 Biệt Cách
Dù cùng tiến lên chiếm lĩnh Nhà Thờ Trí Bưu, địch phòng thủ tại
đây, bảo vệ sườn cánh phải, hướng Bắc của Cổ Thành...
Tôi dẫn Đại Đội thi hành nhiệm vụ.
Chẳng còn “thằng cùi” nào trong Nhà Thờ Trí Bưu cả. Bọn chúng đã
bị Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù triệt hạ hầu hết trong lần tập kích
trước, rút chạy cả rồi.
Ngay nhà dân chúng chung quanh Nhà Thờ,
dân thì di tản đã lâu, từ đầu trận đánh. Bây giờ Việt cộng chẳng
còn thằng nào bén mảng đến đây.
Tôi vẫn cho binh sĩ lục soát kỹ ở Nhà
Thờ. Không có gì hết, ngoài một số xác chết của đám “sinh Bắc tử
Nam” bị sình thối nằm vương vãi một vài nơi trong và ngoài khuôn
viên Nhà Thờ.
Nhưng tôi rất buồn khi nhìn lên Bàn Thờ Thánh. Tượng Chúa Giê–su
còn đó, một mình, trên Thập Giá. Cha xứ và con chiên chạy trốn
giặc cộng hết rồi. Cảnh tượng ấy làm cho tôi thấy đau lòng hơn
cả câu thơ của Phạm Văn Bình:
“Chúa buồn trên Thánh Giá. Mắt nhạt
nhòa mưa qua!”.
Tôi không khóc, vốn dĩ từ nhỏ tôi ít
khi khóc. Nhưng xúc động thì tình cảm của tôi không thua kém ai,
nhất là khi tôi nhìn lên gác chuông Nhà Thờ. Gác chuông đã bị đổ
sập, chỉ còn một nửa. Là một Phật Tử, không mấy khi tôi vào quì
lạy trong Nhà Thờ để nhìn lên tượng Chúa, nhưng gác chuông Nhà
Thờ là một hình ảnh không xa lạ gì với số đông người Việt Nam.
Vì vậy, khi nhìn cái gác chuông gãy đổ, lòng tôi xúc động hơn.
Nơi đây không còn tiếng chuông Nhà Thờ
nữa, tiếng chuông rộn rã tôi đã từng nghe khi tôi còn tuổi ấu
thơ.
Đại Đội
được lệnh nằm án ngữ tại Nhà Thờ Trí Bưu, ban đêm bung quân ra
bên ngoài để ngăn chặn địch có thể trở lại quấy phá. Trong một
lần kích đêm, Tiểu Đội tiền đồn của Trung sĩ Khưu Công Quí bắn
tử thương hai tên cộng mò mẫm đi vào hướng khu nhà đổ nát của
dân, chắc là chúng tìm lương thực (?). Không lâu sau đó, Bộ Chỉ
Huy Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, ra lệnh Đại Đội 3 và 4 chúng tôi đưa
quân về hướng Đông tiếp cận Cổ Thành. Có đơn vị Nhảy Dù đang chờ
ở đó.
Từ Nhà
Thờ Trí Bưu, Đại Đội đi lom khom, lẩn khuất trong các khu vườn
nhà dân, từ vườn này qua vườn khác để tránh địch phát hiện. Tới
phía ngoài Cổ Thành, trong vị trí bố phòng của các Đại Đội Nhảy
Dù, tôi nhìn thấy có một số binh sĩ Nhảy Dù tử thương, bị thương
đang nằm trên các băng ca chưa kịp di tản.
Ngay vào lúc đó, hàng loạt trái đạn do
Pháo Binh tác xạ, rồi tiếp theo sau là các Chiến Đấu Cơ A37,
Skyraider của Không Quân Việt Nam thay nhau oanh tạc, nổ dồn
dập, inh ỏi trên Kỳ Đài Cổ Thành Quảng Trị. Bỗng dưng, không rõ
từ đâu có hai chiến đấu cơ loại F5 của Mỹ bay vào khu vực dội
bom, nổ lạc hướng về phía phòng thủ của Nhảy Dù, gây nên tổn
thất nặng nề về nhân mạng cho Đại Đội 51 và 52 của Tiểu Đoàn 5
Nhảy Dù và một ít cho hai Đại Đội Biệt Cách Dù 3 và 4 đang bố
phòng kế cận.
Sự kiện này làm cho quân số Nhảy Dù hao hụt nhiều hơn. Họ tham
gia cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị kể từ đầu tháng 5 cho đến
bây giờ, vậy là đã hơn 2 tháng. Hai tháng đánh trận liên miên,
ngày đêm không nghỉ, “sức voi” cũng không chịu nổi, nói chi sức
người. Tôi nghĩ thầm mà thấy thương cho các chiến hữu của tôi.
Ngày 27 tháng 7 năm 1972, ba Lữ Đoàn
Nhảy Dù và hai Đại Đội 3 và 4 Biệt Cách Dù có lệnh triệt thoái,
bàn giao chiến trường cho Thủy Quân Lục Chiến. Vì là lực lượng
tăng phái, Đại Đội 3 và 4 Biệt Cách Dù được rút trước. Nhảy Dù
còn ở lại, chờ quân bạn tiến lên tiếp nhận phòng tuyến.
Barbara và Helène là hai cao điểm nằm ở
thượng nguồn, giữa sông Ba Lòng và sông Nhùng về phía Tây tỉnh
Quảng Trị, gần Trường Sơn. Đỉnh Helène cao hơn, thường bị mây mù
bao phủ sớm chiều, nhất là về mùa mưa, mây che mờ mịt. Còn
Barbara thì thấp hơn một chút, ít mây mù hơn, thuận tiện công
việc quan sát đường chuyển quân của cộng sản quanh Mật khu Ba
Lòng.
Rút khỏi
Quảng Trị, mấy chiếc Chinook bốc thả Đại Đội 1 và Đại Đội 4
xuống căn cứ Babara, với nhiệm vụ là từ cao điểm này tung các
Toán Thám Sát của Đại Đội, thâm nhập vào phía Nam Mật khu Ba
Lòng để theo dõi, phát hiện sự chuyển, rút quân của địch, mà
hướng dẫn Pháo Binh tác xạ và Khu Trục oanh kích.
Căn cứ này trước kia là của Quân Đội Mỹ
trú đóng. Họ đã rút đi, nay chỉ còn lại những công sự ngầm và
hàng rào phòng thủ bao quanh phòng tuyến.
Chiến trường Quảng Trị vẫn còn tiếp
diễn. Nhưng có lẽ địch đã núng thế rồi, không còn hy vọng gì giữ
Cổ Thành lâu hơn được nữa. Do đó, các Toán Thám Sát báo cáo thấy
địch rút quân ra nhiều hơn là đưa quân vào tăng cường cho quân
phòng thủ trong thị xã. Các Toán Thám Sát nhận lệnh theo dõi và
định vị chính xác đường mòn, căn cứ địch. Từ đó, tôi thông báo
về Bộ Chỉ Huy để xin Pháo Binh, Phi Cơ tiêu diệt, thiêu hủy.

Công việc cứ tuần tự như thế cho đến
khi nghe tin Chiến Thắng. Sư Đoàn Thủy Quân Lục chiến giương cao
ngọn Cờ Vàng ba sọc đỏ của Tổ Quốc Việt Nam trên Cổ Thành Quảng
Trị. Hôm ấy là ngày 16 tháng 9 năm 1972 trước kỳ hạn ba tháng
của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Tư lệnh Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa.
Có
một điều, trong suốt gần ba tháng dài cùng phối hợp chiến đấu
bên cạnh các Tiểu Đoàn Dù, tôi vẫn không hiểu tại sao Liên Đoàn
81 Biệt Cách Dù là một đơn vị tinh nhuệ, chiến đấu can trường,
đã mang lại nhiều chiến công hiển hách, mà gần nhất, điển hình
nhất là An Lộc, nhưng khi đưa vào chiến trường Quảng Trị lại
không là một nỗ lực chính, giao phó riêng một vùng trách nhiệm
như hồi Mậu Thân ở Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị, hay vừa qua tại An
Lộc, mà lại xé lẻ, riêng rẽ từng Đại Đội, để tăng cường cho các
Tiểu Đoàn Dù và đặt dưới quyền điều động, sinh sát của họ mà
thôi.
Phải chi
với sở trường đánh địch trong thành phố với chiến thuật du kích,
đánh đêm tài tình, điêu luyện, với tài chỉ huy mưu lược của Đại
tá Phan Văn Huấn, khi tham chiến tại Quảng Trị mà được hoạt động
riêng rẽ chắc chắn Liên Đoàn sẽ lại tái diễn thêm một kỳ công,
chiến tích lẫy lừng, để sớm mang lại chiến thắng, rút ngắn thời
gian tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị mà Sư Đoàn Dù đã đổ máu không
ít.
Thế là tàn
một cuộc chiến. Lòng tôi vui mừng vì chúng ta đã chiến thắng,
nhưng không khỏi bâng khuâng tự hỏi:
– “Tại sao cộng sản Bắc Việt không ở
yên ngoài kia mà đem quân xâm lăng chúng ta, gây nên hàng vạn,
hàng vạn người ‘Sinh Bắc tử Nam’”.
Câu hỏi không dễ trả lời, nhưng có bao
nhiêu người khi gây ra một cuộc chiến, nghĩ đến câu:
“Nhất tướng công thành, vạn cốt
khô!”.
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trong đó có Đại Đội 4 Biệt Cách Dù do
tôi chỉ huy, một lần nữa đã góp một phần công lao, xương máu, để
viết lên thêm một chiến thắng oai hùng, lừng lẫy trong trang Sử
Chiến Tích của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để mãi mãi lưu truyền
cho Hậu Thế.
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
12...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


12. Bến Thế – Bình Dương
(Ngưng Bắn Da Beo)
Hiệp
định Paris có hiệu lực lúc 8:00g sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973,
nhưng chưa đầy nửa năm Việt cộng vi phạm rất nhiều nơi, ở tất cả
4 vùng Chiến Thuật.
Đây là cuộc ngưng bắn lạ kỳ. Ai ở đâu ở
đó, không có ranh giới vạch ra bên này bên kia để rút quân lui,
thành ra khu vực chiếm lĩnh mỗi bên loang lổ như hình da beo.
Người ta gọi “ngưng bắn da beo” là vậy.
Kiểu ngưng bắn như thế này chỉ làm lợi
cho phe nào muốn vi phạm. Phía ta, thì tôn trọng Hiệp Định đình
chiến tuyệt đối, chỉ muốn ở yên cho xong. Đem quân đánh lấn vùng
địch đang tạm chiếm, rất nhiều khi không được khen mà lại còn bị
lãnh củ, bị phạt oan uổng, bị phê phán là lòng nhiệt tình đối
với Đất Nước thể hiện không đúng lúc, không đúng chỗ.
Việt cộng thì khác. Ngay từ đầu, chúng
đã có chủ trương vi phạm hiệp định, mục đích là giành dân lấn
đất, gây khó khăn cho Chính Phủ và Quân Đội VNCH. Trong cái khó
khăn đó, có đơn vị tôi gánh chịu.
Vào ngày 01 tháng 8 năm 1970, binh
chủng Lực Lượng Đặc Biệt giải tán. Trung Tâm Huấn Luyện Hành
Quân Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù sáp nhập lại trở
thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, Chỉ huy trưởng là Trung tá
Phan Văn Huấn.
Trải qua nhiều Đại Đội, tôi tham dự rất nhiều trận đánh như: Khe
Sanh, A–shau, An Lão, Dakto, Tam Biên, Bình Long trong chức vụ
Đại đội phó. Cho mãi đến tháng 6 năm 1972, tôi mới được bổ nhiệm
là Đại đội trưởng Đại Đội 4 Biệt Cách Nhảy Dù thay thế Đại uý
Đào Minh Hùng.
Kể từ đó, Đại Đội 4 đã quân hành trên vạn nẻo đường Đất Nước,
trước hiểm họa khủng bố, lấn chiếm, xâm lăng của bọn giặc cộng
và Mặt trận Giải phóng Miền Nam, một công cụ của bọn chúng.
* * *
Mùa Xuân năm 1973, khoảng tháng hai,
Đại Đội vừa hành quân truy lùng địch trong vùng phía Bắc quận
Tân Uyên, thuộc Chiến khu D trở về, đang trong thời gian nghỉ
dưỡng quân, huấn luyện, đồng thời ứng chiến ở căn cứ Hành Quân,
đóng tại Trung Tâm Huấn Luyện Quân Khuyển của Quân Đội Hoa Kỳ đã
bỏ lại ở Suối Máu, sát cạnh phi trường Biên Hòa về hướng
Tây–Bắc, thì được lệnh của Đại tá Chỉ huy trưởng Phan Văn Huấn
chỉ thị hai Đại Đội 4 và Đại Đội 1 sẵn sàng tham chiến.
Ở Xã Bến Thế thuộc quận Tân An, tỉnh
Bình Dương, Việt cộng đã đưa quân chiếm cứ và đóng chốt tại các
vùng ngoại vi của Xã đã gần một tháng nay. Bình Dương nằm sát
nách Sài Gòn, khoảng 32 cây số, là nơi từ trước đến giờ địch
thường tập trung quân ở các vùng Bến Cát, Rạch Bắp, hay trong
khu rừng Cù Mi để pháo kích, tấn công, uy hiếp tỉnh này và các
quận, xã ngoại ô Tây–Bắc Sài Gòn.
Cũng với ý định giành dân, lấn đất theo
đúng chủ trương của chúng, chúng đã ngoan cố tấn công, bám trụ
xã Bến Thế này. Một Tiểu Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 5 cố đánh bật
chúng ra mà không đánh được. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III đã phải
điều động Tiểu Đoàn 52 Biệt Động Quân thay thế, cũng không cải
thiện được tình hình. Bây giờ tới phiên hai Đại Đội Biệt Cách
Nhảy Dù chúng tôi.
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III trình với Bộ
Tổng Tham Mưu, yêu cầu đích danh Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù
hành quân giải tỏa vùng này. Vậy là Đại Đội 1 của Đại uý Nguyễn
Ích Đoan và Đại Đội 4 của tôi nhận lệnh lên đường.
Đoàn xe GMC chở hai Đại Đội rời căn cứ
Hành Quân ở Suối Máu, hướng về thị xã Bình Dương. Xe chạy vượt
quá thị xã trên Quốc lộ 13 chừng 2 cây số, rẽ vào trái, đi ngang
qua xã Tương Bình Hiệp, tiếp tục khoảng 2 cây số nữa là cuối
đường lộ đất thì đến Chợ Nhỏ, xã Bến Thế.
Chợ Nhỏ nằm chắn ngang ngay ngã ba
đường. Giữa ngã ba đường có một quán bán hủ tiếu bình dân của
Ông Chín Hương, đâu sau lưng quán hủ tiếu là quán cà phê vợt của
Chị Ba. Chợ Nhỏ nằm dưới cái lõm đáy của ngã ba con lộ. Đã gọi
là Chợ Nhỏ thì không lớn bao giờ. Chợ chỉ nhóm họp từ sáng sớm
tới 10:00g trưa. Tại xã Bến Thế có vào khoảng 9, 10 lò đường thủ
công, nên mặt hàng buôn bán, trao đổi chủ yếu là đường thẻ,
đường cát vàng, ngoài ra là những nhu yếu phẩm và đồ gia dụng.
Từ Chợ Nhỏ Bến Thế về hướng Tây–Bắc
trên 10 cây số là Rạch Bắp, Bến Cát. Đi tuốt lên nữa là Dầu
Tiếng, những địa danh, nơi chốn mà Việt cộng thường hoạt động và
đã giao tranh dữ dội với Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Bàn giao
tuyến phòng thủ từ một Tiểu Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 5, đang
trấn giữ mặt Bắc Chợ Nhỏ. Một sĩ quan nói với tôi:
– “Mục tiêu này khó nuốt lắm đa,
Đại uý! Bọn chúng cứ ẩn núp trong vườn, ngoài ngõ, chả biết
nhiều hay ít, mà hễ tụi này tiến lên là nó bắn rát quá, nên cứ
án binh tại chỗ.”
Tôi không có ý kiến vì chưa nắm vững
tình hình, không nói hay được.
Dàn trải Đại Đội thành hàng ngang, kéo
dài trên con đường đất nhỏ từ chợ vào sâu bên trong các lò nấu
đường, gần giáp mé con rạch về hướng Tây. Vừa đồng loạt vượt
tuyến phòng thủ, băng qua các thửa ruộng khô, tiến lên hướng Bắc
chừng 100 mét, thì bị bọn chúng quấy rối liền. Chúng bắn chóc
chóc bằng AK47, CKC từ khắp các phía. Hạ sĩ Chánh khinh binh, bị
trúng đạn ở bả vai, không nặng lắm, nhưng phải tải thương. Tôi
ra lệnh án binh, đào hầm, phòng thủ tại chỗ.
Để nắm rõ địa thế trong hai khu vực
trách nhiệm, sáng hôm sau tôi và Đại uý Đoan xin trực thăng, bay
một vòng quan sát.
Trở về, Đại uý Đoan và tôi cùng có
chung nhận xét:
– “Địa thế trống trải, cây cối vườn
tược lưa thưa, nhà dân cách nhau khá xa. Tấn công trực diện vào
ban ngày rất dễ bị lộ, địch có thể phục kích, bắn sẻ. Cách tốt
nhứt là áp dụng sở trường đánh đêm.”
Nói xong hai tiếng đánh đêm, tôi và Đại
uý Đoan nhìn nhau cùng cười, đắc ý.
Trình kế hoạch và xin chỉ thị, chúng
tôi được Đại tá Chỉ huy trưởng Phan Văn Huấn chấp thuận. Vậy là,
ngay trong đêm nay, không chần chờ, hai Đại Đội, hai cánh quân,
phía bên Tây, phía bên Đông sẽ xuất phát.
Chờ đêm xuống, tôi đưa bốn toán Khinh
Binh Tiền Sát đi trước, lần từng bước, từng gốc cây, khu vườn,
từng nhà, tiến dần lên hướng Bắc, hướng đi lên Bến Cát, Rạch
Bắp. Các Trung Đội tiếp bước đàng sau, khoảng cách luôn luôn là
100 mét, không gần quá, dễ bị động, không xa quá, không phản ứng
kịp. Cứ thế, hai Đại Đội hai mặt, tiến gần suốt đêm, trên cả cây
số mà không thấy động tĩnh gì, không thấy địch đâu cả.
Tôi suy đoán, có thể ban đêm chúng nó
tập trung lại, ban ngày mới bung ra lập chốt.
Gần sáng, Đại Đội đi qua một bờ đất,
sát một thửa ruộng khô, rộng chừng một mẫu, có hai dãy tre cao
bao kín chung quanh. Tre trồng theo từng hàng dài, loại tre thân
nhỏ, không phải để làm nhà mà làm cán cuốc, xẻng, cán dao hay
gậy gộc, gần giống như tre tầm vông. Tôi cho lệnh các Trung Đội,
tản vào hai bên các dãy tre, bố trí nghỉ ngơi, sau một đêm thức
ròng từ khi trời mới tối đến giờ.
Nhưng, thật quá bất ngờ, Trung sĩ
Kờ–Phong, Tiểu đội trưởng của Trung Đội 2, trong lúc đào hố
phòng thủ phía bên trong hai dãy tre, thì bỗng bị tuột chân vào
một cái miệng hố, trên mặt phủ đầy rơm rạ.
Kinh nghiệm của một người sắc tộc miền
thượng du, và là một chiến sĩ Biệt Cách Dù lão luyện, Trung sĩ
Kờ–Phong biết ngay đó là một cái cửa hầm. Kờ–Phong la lớn:
– “Hầm Việt cộng, hầm Việt cộng!”
Cùng lúc Kờ–Phong trườn ra khỏi hố,
chạy tháo lui về phía đồng đội. Các Trung Đội vẫn giữ nguyên vị
trí, khu vực đã phòng thủ, riêng Trung Đội 2 được tôi điều động
tiến gần tới mục tiêu. Thiếu uý Lại Đình Hợi, Trung đội trưởng
quạt một tràng đạn XM16 vào miệng hố rồi quát to:
– “Có đứa nào bên dưới, lên ngay không
thì chết!”
Xong, anh vụt một quả lựu đạn M26, tiếp theo là mấy trái lựu đạn
khói xuống hầm.
Khoảng chừng năm mười phút sau, từ dưới
hầm có tiếng dội lên:
– “Tôi hàng! Tôi xin hàng.”
Vậy là có 6 tên Việt cộng lần lượt trèo
lên, trong đám khói màu trắng, đỏ đan quyện vào nhau và lan tỏa
dần vào ánh sương mai. Cả 6 tên bị trói lại và hỏi cung ngay tại
chỗ. Căn hầm nằm gọn trong hai dãy hàng tre, dài 20 mét, rộng 4
mét. Lục soát, phát giác bốn xác chết vì lựu đạn, cạnh đó có kê
bốn dãy giường tre, và hai dãy kệ lót bằng phên nứa, chứa đựng
một số ít thuốc men và các y cụ. Đây là một Trạm Xá của bọn
chúng.
Bằng với
kinh nghiệm từng trải chiến trường, tôi lệnh cho Trung uý Mã Thế
Kiệt, Đại đội phó cho các Trung Đội bung ra, lục soát dọc theo
bên trong hai dãy bụi tre.
Quả nhiên, chúng tôi phát giác thêm hai
hầm khác kế cận, tiêu diệt thêm 4 tên và bắt sống 5 tên, tịch
thu một số vũ khí, đạn dược bao gồm: AK47, CKC, Trung Liên nồi,
và vài ba bao chứa gạo, thực phẩm.
Riêng về Đại Đội 1 do Đại uý Nguyễn Ích
Đoan chỉ huy, trong phạm vi trách nhiệm đã tổ chức phục kích, hạ
sát 5 tên giặc Cộng giao liên, có lẽ đang trên đường trở lại căn
cứ của chúng về hướng Bắc.
Cuộc hành quân này không chỉ có hai Đại
Đội 4 và 1 đảm nhận, mà còn được thêm một lực lượng nhỏ hợp tác.
Đó là Trung Đội Nghĩa Quân do Xã Mộc chỉ huy. Xã Mộc là Xã
trưởng xã Bến Thế, một chiến sĩ sát Cộng dữ dội, rất can đảm và
hết lòng với xã ấp và đồng bào.
Phối hợp với Trung Đội Nghĩa Quân gồm
hầu hết là dân địa phương, chúng tôi có nhiều điều lợi: Họ rành
rẽ địa thế, đường đi nước bước, nắm vững rành rọt nhà nào theo
Việt cộng, nhà nào không. Trong số họ, cũng có một vài Hồi Chánh
Viên. Họ quá thông thuộc lối đánh và thói quen của địch, nên đã
góp nhiều ý kiến hữu dụng đưa đến thành công này.
Sau khi tịch thu được chiến lợi phẩm
chuyển lên mặt đất, trong đó có hai ba thùng thuốc men đủ loại,
tôi không khỏi suy nghĩ. Số thuốc này phần lớn sản xuất tại Sài
Gòn, một vài thứ là thuốc nhập cảng, không thể giao liên mua mà
có nhiều được.
Giao liên chỉ mua được số lượng lẻ tẻ, ít ỏi, mua nhiều sẽ bị
lộ. Vậy thì thuốc ở đâu mà địch dự trữ ở đây. Ai bán cho địch?
Ai đâm sau lưng chúng tôi? Tôi không
tàn nhẫn đến mức độ muốn cho bọn địch bị bệnh hay bị thương mà
không có thuốc, tôi chỉ nghĩ đến những ai đang sống yên ổn ở Sài
Gòn, ở các thành phố lớn, vì ham lợi mà bỏ quên những người lính
đang xông pha trận chiến hằng ngày, hằng đêm như chúng tôi mà
thôi.
Coi như
chỉ trong vòng hai ngày hai đêm, hai Đại Đội 4 và 1 đã diệt sạch
gọn đám giặc cộng thổ phỉ, đã gây bất an cho xã Bến Thế từ bấy
lâu nay.
Trên
đường rút về Chợ Nhỏ, đồng bào đổ ra đứng hai bên đường hoan hô
và tặng đủ thứ quà bánh, trái cây. Ở đây, không có Cô Học Sinh
tha thướt áo dài trắng, choàng vòng hoa lên cổ, mà chỉ có những
Cô thôn nữ, áo bà ba vui mừng, vừa đưa tay vẫy chào chúng tôi,
vừa cúi đầu mắc cỡ.
Tình Quân Dân như người ta thường nói,
thể hiện trong dân chúng và chúng tôi một cách rõ ràng. Hòa bình
rồi, đồng bào muốn yên ổn làm ăn, không còn muốn súng đạn. Sau
những ngày Cộng quân lấn đất giành dân, chúng tôi đã đem lại sự
an bình cho mọi người.
* * *
Sáng hôm sau, trong khuôn viên của Trụ
Sở xã Bến Thế, Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Quân Đoàn
III, Quân Khu III, có Đại tá Chỉ huy trưởng Phan Văn Huấn tháp
tùng, đã đáp trực thăng xuống để ban thưởng huy chương cho các
chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù cùng Xã trưởng Mộc và Trung Đội Nghĩa
Quân. Tôi đứng thế nghiêm, chào tay, Trung tướng Tư lệnh bước
tới gần, gắn lên ngực áo tôi tấm huy chương Anh Dũng Bội Tinh
với Ngôi Sao Vàng.
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
13...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


13. Xóm Đạo Tha La
“...
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương
giống nòi, đau đất nước lầm than...”
–(Vũ Anh Khanh)
Từ
khi còn trẻ, tôi bị ám ảnh không ít về bài thơ “Hận Tha La” và
mấy bài hát viết về Xóm Đạo này, một Xóm Đạo mà tôi, cũng như
nhiều người chưa một lần đến đó. Như Vũ Anh Khanh diễn tả trong
Bài Thơ, Xóm Đạo đó có phải là rất dễ thương không? Ở Miền Nam
thân yêu này, trái ngọt cây lành đâu chẳng có. Cũng không ít
lần, các Mẹ, các Dì, các Chị đã đem đến biếu tặng những người
lính xông pha trận mạc như chúng tôi, đánh đuổi bọn giặc Cộng,
đem thanh bình an vui đến cho họ.
Cái trách nhiệm của một công dân đối
với Đất Nước là điều người dân Tha La Xóm Đạo đã làm, khiến tôi
phải ngưỡng mộ họ:
... “Quì cạnh Chúa, đám chiên lành run
rẩy
Lạy Đức Thánh Cha,
Lạy Đức Thánh Mẹ,
Lạy Đức Thánh Thần.
Chúng con xin về cõi tục làm dân”....
[bấm
vào đây để đọc thơ & nghe bài hát “THA LA XÓM ĐẠO”...]
Chỉ làm dân, nhưng là người dân yêu
nước. Đơn giản chỉ có vậy, như chúng tôi đang hành quân, tìm
giặc, đánh đuổi chúng, đem lại an vui cho người dân vậy. Giữa
chúng tôi và người dân Tha La Xóm Đạo có cùng tình cảm yêu Quê
Hương mình, chiến đấu cho Quê Hương mình. Và... Tôi hẹn với lòng
sẽ làm một viễn khách
“...về thăm một dạo,
giữa mùa nắng vàng hanh”,
để xem
“Nắng hạ vàng,
ngàn hoa gạo rưng rưng”,
và
“... nghe mùa đổi gió, nhớ quanh quanh.
Và rồi tôi đến thật, nhưng với súng đạn
đeo bên mình.
***
Cuối tháng
3 năm 1973, Hiệp Định Paris chưa ráo mực, Việt cộng đã vi phạm
giành dân lấn đất khắp nơi, trên toàn Lãnh Thổ Miền Nam Việt
Nam. Điển hình là khu vực Xóm Đạo Tha
La, quận Trảng Bàng.
Quận Trảng Bàng nằm về hướng Tây–Bắc
Sài Gòn vào khoảng 40 ki–lô–mét. Xóm Đạo Tha La, thuộc xã An
Hòa, cách Chi Khu Trảng Bàng chừng 4 ki–lô–mét về hướng Tây.
Từ Mật khu Ba Thu, Việt cộng vượt sông
Vàm Cỏ, tiến vào bao vây Xóm Đạo Tha La, chiếm cứ Nhà Thờ, giết
Cha xứ và một số giáo dân. Bọn chúng trù tính, sẽ dùng Tha La
làm bàn đạp, tung quân đánh vào Chi Khu Trảng Bàng, cắt đứt Quốc
lộ 1, nối liền Sài Gòn với tỉnh Tây Ninh.
Tiểu khu trưởng Hậu Nghĩa, Đại tá Mã
Sanh Nhơn, đã đưa một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân đến tăng cường,
giải tỏa áp lực địch nhưng bất thành. Địch mỗi ngày mỗi tung
hoành, gây nhiều thiệt hại về nhân mạng, tài sản cho họ Đạo nói
riêng và cho dân chúng trong khu vực nói chung. Việt cộng vi
phạm lệnh ngừng bắn càng nhiều, vì thế Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III
đã phải điều động Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đến thanh toán
dứt điểm đám Cộng quân này. Trung tá Nguyễn Văn Lân, sĩ quan Phụ
tá Chỉ huy trưởng, chỉ huy ba Đại Đội: Đại Đội Thám Sát của Đại
uý Lưu Huyên, Đại Đội 2 của Trung uý Nguyễn Ngọc Ánh, và Đại Đội
4 của tôi, đã khẩn cấp lên đường, trực chỉ quận Trảng Bàng.
Tại Trung Tâm Hành Quân Chi Khu quận
Trảng Bàng. Trung tá Quận trưởng Bùi Văn Ngô, đã thuyết trình
đầy đủ, chi tiết về tình hình địch, bạn trong phạm vi trách
nhiệm của quận, và đặc biệt riêng tại địa phận Xóm Đạo Tha La.
Địch áp dụng đóng chốt trong nhà dân.
Đánh chốt đã là căng, lại là chốt trong Nhà Thờ, trong nhà dân,
lại càng căng thẳng hơn. Rồi cũng nhổ chốt được, dễ thôi. Tôi
tin tưởng ở tôi, ở Cấp chỉ huy và binh sĩ của tôi.
Trung tá Lân, đã họp chúng tôi để bàn
thảo kế hoạch, phân chia nhiệm vụ và vùng trách nhiệm cho ba Đại
Đội. Và tất nhiên, để đối phó với kiềng chốt của giặc Cộng,
Trung tá Lân cũng đã chỉ thị cho chúng tôi phải triệt để áp dụng
chiến thuật du kích đánh đêm sở trường, vào đúng giờ “G” trong
đêm nay xuất phát.
Đại Đội Thám Sát sẽ từ hướng chợ Trảng
Bàng, di chuyển theo hướng Tây, cặp theo Hương lộ để truy diệt
các chốt địch ở Chợ xã An Hòa, ở Ấp Lò Rèn, sau đó sẽ tiếp tục
thanh toán các chốt của Việt cộng ở mặt sau Nhà Thờ, rồi bố trí
quân phòng thủ, án ngữ, bọc hậu tại hướng Tây–Nam sông Vàm Cỏ,
để chận đứng đường tăng viện hay tháo chạy của chúng, đồng thời
phối hợp cùng Đại Đội 4 để tấn công giải tỏa Nhà Thờ Tha La.
Đại Đội 2, là lực lượng trừ bị, sẽ đóng
quân rải theo Quốc lộ 1 và phòng thủ cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân.
Đại Đội 4, do tôi chỉ huy, sẽ di chuyển về hướng đi Tây Ninh
khoảng 3 ki–lô–mét, gần xã Gia Bình. Từ vị trí này Đại Đội 4 sẽ
tiến quân từ Bắc xuống Nam, theo con đường đất, chạy trên một
đám ruộng khô, rộng hơn một mẫu, để tiến vào địa phận Tha La.
Vượt khỏi đám ruộng khô, gặp một ngã ba đường mòn nằm ở mé trái,
chạy dọc theo đường mòn có một số nhà dân ở rải rác, thông với
nhau bằng nhiều đường mòn nhỏ, dẫn từ nhà này qua nhà khác.
Qua ngã ba, con đường đất nở rộng hơn,
xe hơi có thể di chuyển dễ dàng. Đường được trải bằng một lớp
đất đỏ pha với sỏi cát, những bụi tre tầm vông được trồng san
sát nhau hai bên đường. Con đường này là lối đi vào Xóm Đạo Tha
La, khoảng cách độ chừng trên 3 cây số. Dân chúng trong vùng vẫn
sinh hoạt bình thường, có lẽ địch chưa chiếm đến nơi đây.
Đại Đội dừng lại đóng quân, chờ đêm
xuống sẽ hành động theo đúng kế hoạch.
Sau khi binh sĩ bố trí phòng thủ xong,
tôi vào thăm một nhà dân, nằm thụt sâu bên trong ngã ba đường.
Ngôi nhà tuy cũ, nhưng kiểu nhà xưa kiên cố, cột gỗ, mái ngói.
Bây giờ không biết sao, nhưng có lẽ trước đây, khi chưa có giặc,
gia đình này cũng thuộc vào thành phần khá giả. Trong chuyện trò
trao đổi, mới biết đây là nhà họ “Ngô Đình”. Tò mò, tôi hỏi:
– “Bác có bà con gì với Tổng thống
Ngô Đình Diệm quê ở ngoài Huế không?”
Ông già cười:
– “Không có. Tổng thống là người có
Đạo, còn tôi người Lương.”
Bất chợt, tôi nhìn vào gian giữa nhà.
Trên Bàn Thờ đang thắp đèn và đốt nhang. Ông cụ có con trai
trưởng đã đi lính Cộng Hòa, người con gái út tên Sơn, đang là
Giáo Viên của Trường Tiểu Học Trảng Bàng, vẫn đi dạy hàng ngày.
Cô thứ hai, đã lập gia đình có 4 người con, ở ngôi nhà bên cạnh.
Chồng Chị, anh Ba Tài, có chiếc xe Daihatsu chở khách, chạy
đường Trảng Bàng–Tây Ninh.
Ông cụ còn cho biết, sau khi đánh chiếm
địa phận và Nhà Thờ Tha La, bọn Việt cộng thường hoạt động về
đêm. Chúng phối hợp cùng bọn du kích địa phương để chống trả lại
quân ta. Tiểu Khu, Chi Khu đã đưa quân vào đánh mấy lần, nhưng
không diệt được. Nếu không có chiến tranh, xóm nhà này yên vui,
thanh bình lắm.
Sáng hôm sau, tôi họp các Trung đội
trưởng, tổng kết lại tình hình một đêm qua và đưa ra kế hoạch
sắp tới. Tôi ra lệnh mỗi Trung Đội, cho tung một hai lính giả
trang thường dân, đi vào khu vực nhà dân trong Xóm Đạo, tìm
hiểu, quan sát những con đường xóm, nhà cửa, vườn tược, v.v. Sau
buổi trưa, chúng tôi lại họp, bàn định phương thức hành động, ưu
tiên phải tiêu diệt các tổ trinh sát Việt cộng, bọn dân quân du
kích, nằm bên ngoài Nhà Thờ, trong địa phận Giáo xứ.
Đêm đó, Đại Đội kín đáo tiến sâu vào
Xóm Đạo Tha La thêm một cây số, mở rộng vòng đai đóng quân phòng
thủ, rồi cho lệnh các Trung Đội tổ chức phục kích trên các đường
mòn, các điểm tình nghi, bắt sống tù binh, để khai thác tin tức,
nắm vững địch tình.
Kết quả có 2 tên Việt cộng đã bị bắt
sống. Khi chúng từ hướng Nhà Thờ đi ra, Trung sĩ Bự và Hạ sĩ Ân
thuộc Trung Đội 3 của Chuẩn uý Tuyền, đã nhảy ra. Bị quật ngã
bằng với một thế võ Vovinam, bọn chúng bị bắt trói cách mau lẹ.
Khai thác tại chỗ, bọn chúng cho biết hiện có một Đại Đội đang
chiếm giữ Xóm Đạo Tha La. Chúng bố trí hai Trung Đội ở hai gian
nhà ở sân sau Nhà Thờ, một Trung Đội lưu động, còn một Trung Đội
thì phòng thủ ngay trong Nhà Thờ. Chúng đặt một cây trung liên
nồi, hướng về con đường đất. Không có bọn nào ẩn núp trong nhà
dân, ngoại trừ đám du kích địa phương. Đường xâm nhập của chúng
ở phía sông Vàm Cỏ, từ Mật khu Ba Thu. Con đường này nếu kéo ra
thì dài lắm. Mật khu Ba Thu tiếp nối với vùng Mỏ Vẹt, bên kia
biên giới Việt–Miên.
Về phía Đông, chúng có thể tiến về vùng
Lương Hòa, tỉnh Long An. Trong trận đánh Tết Mậu Thân, từ Mật
khu Ba Thu, Việt cộng xâm nhập Phú Lâm, phía Nam Sài Gòn. Nắm
vững các thông tin do địch cung cấp, ngay trong đêm, tôi điều
động Thiếu uý Lại Đình Hợi – Trung đội trưởng Trung Đội 1, Chuẩn
uý Nguyễn Ngọc Lân – Trung đội trưởng Trung Đội 2, và Chuẩn uý
Thanh – Trung đội trưởng Trung Đội 4, đưa quân đến bố trí trên
những con đường Xóm, hướng ra bờ ruộng phía sông Vàm Cỏ, trong
các xóm ấp để phục kích tiêu diệt đám cộng quân còn lại.
Địch trúng kế chúng tôi. Chúng lọt ngay
vào các vị trí phục kích, 4 tên du kích bị bắn hạ, thêm 2 tên bị
thương, số còn lại khoảng bốn năm tên, bán sống bán chết, chạy
thục mạng, ngược ra hướng Rạch Vàm Trảng.
Về hướng tiến quân, Đại Đội Thám Sát,
sau khi thanh toán các chốt chặn của Việt cộng nằm về hướng
Tây–Bắc Chợ An Hòa, tiếp tục tấn công vào Ấp Lò Rèn. Trong lần
đọ trận này, Đại uý Lưu Huyên – Đại đội trưởng, Thiếu uý Hoàng –
Trưởng Toán Thám Sát, và 6 binh sĩ đã bị trọng thương do đạn
B40. Về phía bọn địch, chúng để lại 10 xác chết tại chỗ, tịch
thu được 5 súng AK, 2 cây B40, và 1 trung liên nồi. Trung tá Lân
đã điều động Đại Đội 2 lên thay Đại Đội Thám Sát. Đại Đội 2 đã
rải quân phòng thủ ở mặt hông sau của Nhà Thờ Tha La. Tại đây,
Đại Đội 2 cũng áp dụng chiến thuật phục kích đêm, hạ sát tại chỗ
2 tên cán binh cộng sản, bắt sống được 2 tên, số còn lại cũng đã
tháo chạy về hướng Sông Vàm Cỏ Đông.
Chặt đứt xong xuôi các dây mơ rễ má.
Bây giờ là đến số phận những tên “sanh Bắc tử Nam” đang chiếm cứ
trong Nhà Thờ. Hai Đại Đội cùng hợp đồng tác chiến. Đại Đội 2 là
lực lượng yểm trợ và tiếp ứng, rải quân bao quanh mặt sau địa
phận Nhà Thờ. Đại Đội 4 là lực lượng tấn công, sẽ lợi dụng đêm
tối, đưa các Toán Thám Sát, men theo các lùm cây, bụi tre, tiến
sát đến chân tường Nhà Thờ, ẩn núp quan sát, chờ lệnh. Các Trung
Đội chia làm hai cánh, từ từ tiến lên trong các khu vườn nhà
dân, để đến nằm án ngữ ở con đường ngay trước mặt nhà thờ. Đúng
2:00g sáng, các Trung Đội bắt đầu khai hỏa. Việt cộng từ trong
nhà thờ, từ hai gian nhà sau nổ súng bắn trả. Các Toán Thám Sát
phát giác vị trí địch, đã bò đến tung lựu đạn triệt hạ. Sau hơn
nửa giờ giao tranh, hơn một chục tên trong Nhà Thờ và hai gian
nhà sau không còn cựa quậy. Tám tên bị thương xin đầu hàng. Một
số rút lui về phía nhà dân, sau lưng Nhà Thờ, nhưng cũng đã bị
Đại Đội 2 án ngữ ở đó hạ sát và bắt sống.
Chúng tôi đem lại thanh bình cho Xóm
Đạo. Tôi nhớ lại bài thơ của Vũ Anh Khanh:
“Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về
thăm Xóm Đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát
rừng xanh...”
Giờ đây, hết giặc, Khách không về thăm
mà lại ra đi. Ngày chia tay, vị linh mục và giáo dân Tha La Xóm
Đạo đã phối hợp cùng trường Tiểu Học Trảng Bàng, với cô giáo
Tươi và cô giáo Sơn con Ông Cụ nhà họ Ngô Đình, phụ trách tổ
chức ủy lạo, tặng quà cùng văn nghệ ca múa, do chính hai cô và
các học trò đồng trình diễn.
* * *
Một năm sau, trên chiến trường Miền
Đông Nam phần, tại rừng Tân Uyên, vào một buổi chiều mưa, dừng
quân bên bờ Sông Bé, cạnh con đường mòn dẫn vào Chiến khu D, tôi
bỗng nhớ về cô giáo Tươi của Trường Tiểu Học Trảng Bàng ngày ấy.
Trong ba lô, tôi vẫn còn giữ kín những lá thư Cô đã viết cho
tôi.
Bao tháng
năm lăn lộn trên chiến trường, thư đã cũ, giấy đã ngả sang màu
vàng. Tôi bâng khuâng hồi nhớ những ngày ở Tha La Xóm Đạo, tôi
lấy thư ra xem và rồi mấy câu thơ tôi từng yêu thích mấy năm
trước lại hiện về:
“Đường mòn trơn ướt đất hành quân.
Nhưng không
ướt những trang thư,
Của người em gởi
người anh chiến sĩ.
Trong đêm dài chiến
địa,
Buồn trong những chiều mưa.
Những chiều mưa đau tủi giận hờn...”
Đau tủi, giận hờn....?
Tươi ơi! Cho tôi gởi một lời tạ lỗi và
xin hãy quên tôi!!
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
14...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


14. Chiến khu D
Nếu
tính theo đường thẳng thì Chiến khu D cách Sài Gòn khoảng 60 cây
số, ngó xuống Biên Hòa khoảng 30 cây số, thì phi trường Biên Hòa
là mục tiêu pháo kích của Việt cộng hằng đêm.
Hiệp định hòa bình Paris ký kết đã được
một năm, nhưng hai tiếng “hòa bình” trong hiệp định chỉ là cái
bình phong để Việt cộng gây... Chiến tranh. Do đó, mức độ Việt
cộng pháo kích phi trường Biên Hòa càng lúc càng gia tăng, khiến
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III trở nên “nóng máy”. Không thể để bọn
chúng quá tự tung tự tác, đám Việt cộng này phải đánh nó tới tận
cùng sào huyệt, phải nắm thế chủ động trên chiến trường, nghĩa
là Biệt Cách Nhảy Dù phải vào Chiến khu D “nắm đầu bọn ngoan
cố”.
Áp lực của
địch vào Biên Hòa, Sài Gòn là từ Chiến khu D. Nó không ở đâu xa
mà ngay bên cạnh Trị An. Phía Đông là Định Quán trên Quốc lộ 20,
đường đi Đà Lạt, kế là Võ Xu. Phía Nam là Quốc lộ 1, đoạn Biên
Hòa–Long Khánh. Phía Tây–Bắc là Đồng Xoài, kéo dài lên tới Bình
Long, Phước Long qua tới biên giới xứ Chùa Tháp, có Snoul là nơi
từng diễn ra trận đánh lớn khi Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa tràn
qua Miên năm 1970. Phía Tây là Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, có
Quốc lộ 22 đường đi Tây Ninh...
Căn cứ Hành Quân của Liên Đoàn 81 Biệt
Cách Dù đóng ở Suối Máu, sát nách phi trường Biên Hòa, đã mấy
lần nếm trải những trận pháo 122ly xuất phát từ trong vùng Chiến
khu này. Đại uý Lưu Huyên, Đại đội trưởng Đại Đội Thám Sát, đã
vĩnh viễn giã từ vũ khí do bởi những quả đạn pháo của bọn chúng,
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vô cùng thương tiếc vì đã mất đi
một chiến sĩ diệt cộng tài ba. Nếu không đi tìm diệt chúng, biết
đâu sẽ còn nhiều Chiến Hữu của đơn vị cũng sẽ hy sinh. Thế là
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù không thể chần chờ.
Hai Biệt Đội 811 và 812, được chuyển
vận đến Chi Khu Công Thanh, từ đó vượt qua sông Đồng Nai vào xã
Thái Hưng, quận Tân Uyên, đây là khu định cư của người Miền Bắc
di cư, họ là thành trì chống cộng một mất một còn. Nơi này có
ngọn núi Bà Cẩm, cao khoảng 200 mét, được dùng để đặt các trạm
thông tin, liên lạc. Xã Thái Hưng nằm về hướng Nam của Chiến khu
D, bọn Việt cộng cũng thường về đây phá rối, nên Tiểu Khu Biên
Hòa đã điều một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân đến an ninh phòng thủ.
Từ xuất phát này, Biệt Đội 811 và 812
đã mở các cuộc hành quân lục soát, truy lùng về hướng Bắc, dọc
theo con Sông Bé, phát hiện các giàn phóng hỏa tiễn làm bằng cây
rừng, một vài căn cứ trú phòng bỏ hoang của chúng, đồng thời tổ
chức phục kích bắt sống được một số cán bộ địch quân mang về
khai thác.
Cũng
trong thời gian này, Bộ Chỉ Huy Hành Quân đã thả các toán Thám
Sát vào hoạt động sâu trong Chiến khu D, ở hướng chính Bắc thị
xã Định Quán.
Đã mấy ngày trôi qua, các Toán Thám Sát di chuyển theo lộ trình
từ mạn Bắc xuôi về Tây–Nam, hay từ Đông sang Tây, cũng chỉ phát
hiện các hầm hố, địa đạo, các khu canh tác đã bị bỏ hoang. Có
thể Việt cộng đã di dời quân về hướng Tây–Bắc thị xã Phước Long,
hay Đông–Bắc thị xã Ban Mê Thuột?. Thế nhưng, quả thật là bất
ngờ, vào sáng ngày thứ tư, Chuẩn uý Vinh, Trưởng Toán 6 Thám
Sát, chuyển công điện, báo cáo về Trung Tâm Hành Quân, là Toán
đã khám phá ra một kho vũ khí của Việt cộng.
Tôi không rõ kế hoạch hành quân của
Toán Chuẩn uý Vinh như thế nào, chỉ biết đây là một trong hai
Toán có nhiệm vụ nhảy vào lòng địch ngay tại Chiến khu D. Nhưng
khi Toán của Chuẩn uý Vinh, tình cờ phát hiện ra kho vũ khí
địch, thì trong Biệt Đội Thám Sát, nổi lên một giai thoại khá kỳ
thú về Chuẩn uý Vinh, Trưởng Toán 6 Thám Sát này.
Khi Toán Chuẩn uý Vinh nhận lệnh hành
quân, thâm nhập vào Chiến khu D, đây cũng là sào huyệt “bất khả
xâm phạm” của Việt cộng. Các Toán trưởng khác đã cười thầm:
“Thằng này bị đì!”. Thật ra, Chuẩn uý Vinh chẳng có “quậy phá”
gì đâu, ngoài việc, cũng như các Toán trưởng khác vậy thôi. Khi
“vô sự” thì rủ nhau ra Biên Hòa đánh bi–da, xem chiếu bóng hay
nhậu nhẹt chơi. Khổ cho anh chàng Chuẩn uý Vinh trẻ tuổi, có một
“em gái hậu phương” nào đó ở Hố Nai, hễ mỗi lần anh đứng lên từ
giã, thì cô nàng mè nheo, thút thít... khóc:
– “Anh đi em buồn lắm!...”
Vân vân và vân vân... Thế rồi, trước
sau gì anh chàng Vinh cũng phải “giã từ em yêu” nhưng hơi trễ.
Tuy không bị phạt, nhưng mỗi lần trễ, không lý Cấp chỉ huy không
“xài xể” vài ba câu. Việc anh ta lần này có bị “đì” vì cái tội
trễ phép hay không, chỉ là câu nói bông đùa.
Không như trước kia, mỗi Toán có 2
“người bạn đồng minh”, bây giờ thì chỉ 6 người, toàn là người
Việt. Toán Chuẩn uý Vinh, trong một chiều khuất nắng, được trực
thăng thả xuống ở một bãi trống trong rặng núi Tà Lài, về hướng
Đông của Chiến khu D.
Ba ngày đi từ Đông sang Tây, chẳng thấy
động tĩnh gì. Chiều lại, Toán leo lên một ngọn đồi, cây rừng rậm
rạp, địa thế thuận lợi để đóng quân qua đêm. Sáng hôm sau, thức
dậy sớm, lợi dụng trời còn mờ hơi sương, Toán chuẩn bị ăn sáng.
Lương thực Toán mang theo thường là cá, thịt hộp, và gạo sấy.
Phải có chút nước sôi để đổ vào gạo sấy hay hâm nóng hộp cá,
thịt. Lửa, thì sử dụng loại “xăng đặc”, một cục to bằng nửa hộp
quẹt, bọc hàn kín bởi một loại bao giấy bạc không thấm nước. Xé
bao nylon, mở gói giấy bạc và châm lửa. Nhưng đâu có đơn giản,
dễ dàng vậy.
Ngọn lửa xăng đặc màu xanh lè, địch dễ nhận biết. Phải đào một
cái hố nhỏ, để cục xăng đặc vào đáy hố, đốt lửa, để lon thiếc
lên ngọn lửa. Khi lửa vừa tắt thì nước sôi, thịt cá cũng nóng.
Xong, tất cả “rác rưởi” cho xuống hố, lấp đất, phủ lá khô lên
trên, tránh không cho địch phát hiện.
Trước khi lên đường, để thanh toán ba
cái thứ thừa thãi đang chất chứa trong người, Chuẩn uý Vinh đi
lần theo đỉnh đồi, chừng ba bốn thước, đến cạnh một bụi cây
hoang mọc sát một hốc đá, vừa ngồi xuống, dùng dao đào hố, thì
Chuẩn uý Vinh bất ngờ nhìn thấy bên trái hốc đá là một cửa hang,
tò mò bước vào, Chuẩn uý Vinh vô cùng bàng hoàng, sửng sốt,
miệng há hốc khi nhìn thấy bên trong chứa đầy dẫy, ngổn ngang
các loại vũ khí. Vinh tức tốc quay trở lại Toán và báo cáo khẩn
cấp về Trung Tâm Hành Quân.
Đại tá Phan Văn Huấn Chỉ huy trưởng,
với kinh nghiệm dày dặn, từng trải trên khắp các chiến trường
trận địa, không tin chỉ có một căn hầm, mà còn nhiều căn hầm
khác nữa. Đây phải là nơi chúng chôn dấu vũ khí, hỏa tiễn để
pháo kích phi trường Biên Hòa. Đại tá chỉ thị Toán 6 mở rộng
vòng đai, lục soát chung quanh đỉnh đồi. Và đúng như tiên đoán
của Đại tá Phan văn Huấn, Toán đã tìm thấy thêm một cửa hầm
khác, rồi lại thêm hai ba cửa hầm khác nữa. Vừa phát hiện thêm,
Chuẩn uý Vinh vừa vui mừng báo cáo về cho Trung tâm Hành Quân:
– “Cả một đồi toàn hầm vũ khí”, đến nỗi
bao gạo sấy của Vinh, vẫn còn nguyên trong túi quần bên hông.
Anh đã quên... ăn sáng mất rồi.
Hai Phi Đội Trực thăng UH1B được cấp
tốc tăng cường. Hai Biệt Đội 813 do Đại uý Nguyễn văn Hải chỉ
huy và Biệt Đội 814 do tôi chỉ huy, được lệnh lên đường khai
thác mục tiêu.
Bãi đổ quân hai Biệt Đội 813 và 814 là một trảng trống nằm về
hướng Tây, cách ngọn đồi của Chuẩn uý Vinh khoảng chừng nửa cây
số. Theo lệnh hành quân, hai Biệt Đội chia làm hai cánh cùng
băng rừng tiến về hướng đồi có kho vũ khí. Biệt Đội 813 lên đến
đỉnh đồi sẽ dàn quân trải rộng phòng thủ mặt Tây–Nam và Tây–Bắc.
Biệt Đội 814, sau khi bắt tay với Toán 6 của Chuẩn uý Vinh, sẽ
bố trí ba Trung Đội giữ mặt Đông–Bắc và Đông–Nam, còn một Trung
Đội phối hợp với Toán để kiểm định lại tất cả các hầm vũ khí.
Toàn bộ ngọn đồi là những hầm vũ khí,
đạn dược. Mỗi hầm sâu cỡ 2 mét, rộng 3 hoặc 4 mét, trên phủ một
lớp nylon và cây lá khá kỹ để che giấu ngụy trang. Nếu không
biết đây là nơi địch chôn dấu vũ khí và quyết tâm đi tìm, chắc
cũng khó mà phát hiện ra các hầm này.
Trong thời gian phòng thủ, chờ đợi các
Phi Đội Trực thăng đến để chuyển vận chiến lợi phẩm. Khoảng quá
trưa, một tiếng nổ kinh hoàng long trời lở đất vang lên, một
tiếng nổ lớn tôi chưa từng bao giờ nghe đến như vậy, chấn động,
vang dội cả khu rừng. Đất đá, cây cối bay tung lên trời và rơi
rớt lã chã khắp khu đồi, một cánh tay và một vài mảnh thịt rớt
xuống nằm ngay bên cạnh hố phòng thủ của tôi... Phản ứng cố hữu
của một Đơn vị trưởng tác chiến, tôi truyền lệnh cho các Trung
Đội trong tư thế sẵn sàng đối phó, đề phòng địch sẽ tiếp tục
pháo kích và tấn công. Sau nửa giờ trôi qua, chẳng có biến cố gì
tiếp diễn, trong lòng tôi hơi hoảng hốt đôi chút, nhưng định
thần lại được ngay. Tôi đi về hướng đã phát ra tiếng nổ, một
khoảnh đất rộng bằng nửa sân bóng chuyền bày ra giữa khu rừng,
bên trong la liệt xen lẫn cành cây, thùng ống và những mảnh thịt
tươi dính đầy đất máu. Vào lúc đó Đại uý Hải cũng xuất hiện để
xem xét hiện trường. Cuối cùng Đại uý Hải và tôi cùng có chung
một kết luận: nguyên do vụ nổ là do sự vô ý. Một vài Quân Nhân
trong đó có Trung sĩ Khưu Công Quí Trung đội phó, Hạ sĩ I Phiêu
âm thoại viên, thuộc Biệt Đội 814, Thượng sĩ Khẩn, Ban 2, và hai
binh sĩ thuộc Biệt Đội 813, trong niềm phấn chấn cao độ, đã đến
các căn hầm chụp hình lưu giữ tư liệu, họ đã vô tình, trèo lên
đứng trên các thùng chứa chất nổ, khiến chúng bị kích nhiệt, gây
nổ tung cả căn hầm. Tất cả họ đã bị thiệt mạng, xác thân bị tan
tành từng mảnh, thật vô cùng thương tâm và oan uổng.
Trước sự kiện thảm khốc này. Lo ngại
Việt cộng khi biết được kho vũ khí đã bị khám phá sẽ tập trung
binh lực để tấn công các Biệt Đội. Đại tá Chỉ huy trưởng Phan
Văn Huấn đã trực tiếp bay lên vùng, để điều động hai Biệt Đội
vừa phòng thủ vừa chuyển tải gấp rút tất cả chiến lợi phẩm này
ra bãi để trực thăng bốc về căn cứ Hành Quân. Không thể nào
chuyển hết số lượng vũ khí này bằng Trực thăng UH1B. Số vũ khí
tìm thấy là những loại vũ khí nặng bao gồm: súng Phòng Không
12.7ly, Đại Liên, Trung Liên, vô số vũ khí cá nhân B40, B41, AK,
CKC, mìn bẫy, đạn dược, khí tài, v.v. Đại tá Huấn phải yê cầu Bộ
Tư Lệnh Quân Đoàn III, điều động thêm các Phi Đội Trực thăng
Shinook đến tăng cường, và mãi cho đến tối trời mới chuyển về
hết được tất cả.
Khi chiếc Shinook cuối cùng cất cánh an
toàn. Lệnh của Đại tá Huấn là hai Biệt Đội phải cấp tốc triệt
thoái về Định Quán, nằm ở hướng Đông–Nam khoảng trên 10 cây số.
Toàn khu đồi giờ này đã tối hẳn. Con đường rừng mịt mù âm u,
ngửa bàn tay cũng không còn thấy rõ. Bấy giờ, phải di chuyển
giữa rừng già trong đêm tăm tối, điều tôi lo lắng nhứt là sợ có
anh em binh sĩ không theo kịp, sẽ đi lạc phương hướng. Kinh
nghiệm đi rừng trong suốt hai năm là Toán trưởng Thám Sát Delta,
cho tôi một sáng kiến: các cành cây khô mục, rơi rụng trong rừng
lâu ngày, thường tỏa ra ánh sáng lân tinh vào ban đêm, vậy đây
là một giải pháp quá tuyệt vời, đem áp dụng vào lúc này thì thật
đúng là “ăn mày mà gặp chiếu manh”. Tôi ban lệnh cho toàn binh
sĩ, bốc lấy những cây mục ấy, bỏ lên trên nắp ba lô của mình.
Người đi sau cứ theo ánh sáng ấy của người đi trước mà nối đuôi
nhau, để tránh khỏi bị lạc đường. Nhờ cách đó, Biệt Đội di hành
trong rừng rậm hiểm hóc, leo đồi, vượt suối suốt đêm, trong
khoảng hơn ba giờ đồng hồ, quân số Biệt Đội vẫn đầy đủ, không
một ai thất lạc cả. Ra khỏi rừng, Biệt Đội phải lội qua một vùng
đầm lầy, nước lấp xấp tới bụng, lau sậy mọc chằng chịt, phải
vạch lối mà đi. Không xem Bản Đồ kịp và cũng không cần thiết,
tôi đoán chừng đây là vùng Thác Trị An. Tiếp tục di chuyển, khi
trời hừng sáng, Biệt Đội ra tới các khu đồi trồng chuối, đu đủ
cách Quốc lộ 20 chừng 500 mét. Đây là khu vực canh tác của đồng
bào Định Quán, lẫn lộn giữa dân cư địa phương và người Bắc di
cư. Tôi cho lệnh dừng quân quanh một đồi trồng chuối. Cũng không
bao lâu sau đó, Biệt Đội 813 của Đại uý Nguyễn Văn Hải cũng vừa
đến và bố trí trong một ngọn đồi trồng đu đủ kế cận. Cả hai Biệt
Đội đều được lệnh chờ đoàn xe GMC của đơn vị đến đón trở về lại
căn cứ hành quân ở Suối Máu, Biên Hòa.
Hai ba ngày sau, cũng ngay tại căn cứ
Hành Quân Suối Máu, Biên Hòa, Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư
lệnh Quân Đoàn III, cùng một phái đoàn sĩ quan cao cấp của Bộ
Tổng Tham Mưu đã đến chủ tọa và tham dự Lễ gắn huy chương và đặc
cách cấp bậc cho các sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ hữu công của
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, trong dịp này Đại uý Hải và tôi
cũng được tuyên dương công trạng trước Quân Đoàn, đích thân
Trung tướng Tư lệnh gắn Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng lên
trên ngực áo chúng tôi. Sau đó Trung tướng Tư lệnh và Đại tá Chỉ
huy trưởng Phan Văn Huấn đã cắt băng khai mạc khu triển lãm hàng
ngàn vũ khí chiến lợi phẩm đủ loại của Việt cộng do Liên Đoàn
tịch thu được, lớn nhất từ trước tới nay. Đài Truyền Hình số 9,
Đài Phát Thanh Sài Gòn, Đài Phát Thanh Quân Đội, các Phóng viên
Báo chí của Tuần, Nhật Báo Diều Hâu, Tiền Tuyến, Chiến Sĩ Cộng
Hòa, Sóng Thần, Tia Sáng, Trắng Đen, đã đến quan sát, quay phim,
chụp hình, phỏng vấn Chuẩn uý Vinh, các Toán Viên Toán 6 Thám
Sát, Đại tá Phan Văn Huấn, Đại uý Hải, và tôi.
Cuộc triển lãm chiến lợi phẩm kéo dài
trong suốt một Tuần Lễ. Các đơn vị bạn thuộc các Quân Binh chủng
trú đóng tại Biệt Khu Thủ Đô, tại Quân Đoàn III, Quân Khu III
đều đến tham dự và bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với Liên Đoàn 81
Biệt Cách Nhảy Dù, trước khám phá kho vũ khí của giặc cộng có
một không hai này.
Dù thế nào chăng nữa chiến công này của
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, dù không bẻ gãy ý đồ của địch
cũng sẽ làm chậm trễ mưu đồ của chúng.
Trực thăng vận vào Mật khu địch
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d:
15...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


15. Mật khu Mây Tào
“Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh lòng thương.
Phận trai già
ruổi chiến trường.
Chàng Siêu mái tóc
điểm sương mới về.”
–(“Chinh Phụ Ngâm Khúc” – Đoàn Thị Điểm)
Rặng
Trường Sơn chạy dài từ Bắc xuống Nam, như cái xương sống của
nước Việt Nam. Núi Mây Tào và các ngọn núi nhỏ hơn quanh đó, là
những ngọn núi cuối cùng của rặng núi này. Từ đó đi tuốt về phía
Nam, không còn ngọn núi cao nào nữa.
Về Thu Đông, đỉnh Mây Tào thường có mây
bao phủ. Nên nó mới có tên là “Mây” chăng? Tuy nhiên, đối với
vùng Miền Đông Nam phần, Mây Tào có một vị trí chiến lược quan
trọng. Người sĩ quan, cấp càng cao, càng có nhãn quan đặc biệt
về vùng đất chiến lược này.
Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ
nhất, Miền Đông Nam phần là vùng Việt Minh hoạt động mạnh, tạo
ra những trận đánh lớn. Không chỉ riêng gì Mật khu Mây Tào của
núi Mây Tào, mà ngay vùng Long Đất, Đất Đỏ, cũng được coi như An
Toàn Khu (ATK) của bọn chúng.
Khu vực Mây Tào liền với khu Rừng Lá
trên Quốc lộ 1, vùng thung lũng Võ Đắt–Võ Xu về hướng Bắc, vùng
Định Quán, Trị An, Chiến khu D hướng Tây–Bắc, và nối dài lên tận
Đồng Xoài, Bình Long, Phước Long qua tới biên giới Việt–Miên.
Vùng Bình Giã, Xuyên Mộc hướng Tây–Nam.
Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ 2,
Quân Đội VNCH từng đụng độ lớn với quân cộng sản ở Bình Giã, do
đó mà cái tên Bình Giã đi vào lịch sử quân sự chống cộng của
quân dân Miền Nam, và trong một câu hát của cố Nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn.
Quốc
lộ 20, đoạn từ ngã ba Dầu Giây trở lên Định Quán, là vùng định
cư của đồng bào Miền Bắc di cư 1954, nhờ đó, quân cộng sản không
thể thực hiện được một chiến thắng nào ở Định Quán, như trong
cuộc chiến tranh trước.
Những nhà chiến lược quân sự của Việt
Nam Cộng Hòa thấy rõ tính chiến lược của vùng núi non cuối dãy
Trường Sơn. Để hạn chế hoạt động quân sự của phe địch ở đây, một
số quận được nâng lên cấp tỉnh. Quận Xuân Lộc nâng lên thành
tỉnh lỵ của tỉnh mới là Long Khánh. Hàm Tân thành tỉnh lỵ tỉnh
Bình Tuy, Bà Rịa thành tỉnh lỵ tỉnh Phước Tuy.
Ba tỉnh mới này nằm ở chung quanh Núi
Mây Tào.
Núi Mây Tào
Cộng sản biết như thế, không những biết
mà biết rất rõ, nhưng nếu muốn hoạt động quân sự ở Miền Đông Nam
phần, miền đất sinh tử để có thể giữ cho công cuộc xâm lăng Miền
Nam của cộng sản Bắc Việt được tồn tại và phát triển, bọn chúng
phải cố sống cố chết thành lập và xây dựng Mật khu Mây Tào.
Khi quân Mỹ và Đồng Minh tham chiến ở
Việt Nam, quân cộng sản yếu thế, không quấy phá được ba tỉnh mới
nói trên, và cũng không dám xâm phạm Quốc lộ 1 ở đoạn Rừng Lá.
Cũng trong đoạn Rừng Lá này, phía Quân Đội Đồng Minh và VNCH
thành lập hai vị trí quân sự quan trọng:
“Căn cứ 4 và Căn cứ 5”.
Hai căn cứ có bố trí súng đại bác, để yểm trợ hỏa lực cho Quân
Đội ta, hoạt động ở các khu vực chung quanh.
Rừng Lá, nơi Quốc lộ 1 chạy ngang qua,
là vùng Việt cộng dễ xâm nhập và phá hoại. Khúc đường có chỗ
cong gần như 90 độ, hai bên đường, nhất là phía Núi Mây Tào,
toàn loại Cây Cọ, có tàn lá lớn, che kín mọc đầy dẫy, quân Việt
cộng thường ẩn núp, di chuyển bên dưới rất an toàn và khó bị
phát hiện. Mặt đất tương đối bằng phẳng, chỉ có tre và các cây
chồi hoang mọc xen lẫn, nên một số đồng bào đã vào đây khai phá
để trồng lúa. Gần tới núi Mây Tào, rừng rậm, cây cao, nhiều dốc
đồi, vách đá, khe nước, nên di chuyển khó khăn hơn.
Sau Hiệp Định Paris 1973, lợi dụng tình
hình ngưng bắn, Việt cộng gia tăng hoạt động trong toàn khu vực
các tỉnh Miền Đông Nam phần.
Khoảng đầu tháng 5 năm 1974, Việt cộng
tung quân chiếm cứ đồn điền cao su nằm gần ngã ba Dầu Dây, đắp
mô trên đường đèo lên thị trấn Bảo Lộc, cắt đứt giao thông Quốc
lộ 20. Bọn chúng chiếm đóng trên đỉnh Đèo Mẹ Bồng Con, tấn công
vào các Căn cứ Hỏa lực 4 và 5, đắp mô, giựt mìn phá hoại ngay
trên trục lộ giao thông ở khu vực Rừng Lá, cắt đứt thông thương
Quốc lộ 1. Tất cả mọi xe cộ, nguồn cung cấp thực phẩm, rau quả,
hải sản, từ Đà Lạt, Lâm Đồng, từ Bình Thuận, Phan Thiết đều bị
tắc nghẽn, ứ đọng, nằm trải dài hơn hai ba cây số trên Quốc lộ 1
trong suốt 20 ngày liền.
Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Long Khánh do Đại
tá Mạch Văn Trường, nguyên Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 8, Sư
Đoàn 5 Bộ Binh, từng bị trọng thương tại chiến trường An Lộc,
vừa mới đáo nhậm chức Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng, đã điều
động các lực lượng tăng phái, bao gồm:
– một Tiểu Đoàn của Sư Đoàn 18 Bộ Binh,
Tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế và
– một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân
đến tấn công, tiêu diệt, và bắt sống
hầu hết địch quân, chiếm lại toàn bộ các khu vực trên. Riêng tại
Rừng Lá, Tiểu Đoàn Địa Phương Quân cơ hữu của Tiểu Khu, suốt mấy
ngày liền đã mở các cuộc hành quân giải tỏa, thông đường cho xe
cộ vận chuyển qua lại được, nhưng chỉ trong một khoảng thời gian
ngắn, đến chiều tối, thì đâu lại vào đấy. Địch quân từ Mật khu
Mây Tào, đưa quân tràn ra đánh chiếm và đắp mô trở lại. Tiểu
Đoàn Địa Phương Quân phải rút về phòng thủ, án ngữ tại mặt Bắc
căn cứ Hỏa lực 4.
Trước tình hình thực tại này, không thể
để Quốc lộ 1, con đường huyết mạch bị bế tắc kéo dài thêm. Bây
giờ, như đã từng xảy ra, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cuối cùng cũng
phải giao phó cho Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận lãnh trách
vụ giải tỏa, truy lùng, tiêu diệt đám giặc cộng đã và đang hoành
hành tại khu Rừng Lá, Mật khu Mây Tào này.
Lực lượng giải tỏa gồm Bộ Chỉ Huy 1
Chiến Thuật và hai Biệt Đội 811, 814 Biệt Cách Nhảy Dù. Tôi là
Biệt đội trưởng Biệt Đội 814, Trung uý Trương Việt Lâm, Biệt đội
trưởng Biệt Đội 811. Toàn bộ từ Biên Hòa, di chuyển bằng xe GMC,
đến đóng phía ngoài phi trường Quân Sự dã chiến Long Khánh, sát
bên hông Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, đồng thời là Tòa Hành Chánh tỉnh
Long Khánh, chuẩn bị vào chiến trường.
Buổi sáng ngày hôm sau, Trung tá Vũ
Xuân Thông, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật, và hai Biệt
đội trưởng đến họp tại Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Long Khánh
cùng với Đại tá Mạch Văn Trường, Tiểu khu trưởng và Bộ Chỉ Huy
Tiểu Khu.
Biết
chắc Mật khu Mây Tào là căn cứ địa của Việt cộng, nhưng không
nắm rõ quân số của chúng. Trên Quốc lộ 1, sau khi đánh chiếm Căn
cứ Hỏa lực 4 và 5, bọn chúng chiếm giữ đoạn đường này, đắp ụ,
đóng chốt hai bên Quốc lộ, giao thông hoàn toàn ngưng trệ bấy
lâu nay.
Sau
buổi họp, Biệt Đội 814 được lệnh xuất phát. Trực thăng thả Biệt
Đội 814 xuống một vùng đất trống ở Sông Ray, xã Xuân Tâm, cách
Quốc lộ 1 chừng 500 mét về hướng Đông–Bắc. Từ đó, Biệt Đội men
theo địa thế, vượt qua các đồng ruộng, ẩn mình dưới những rừng
cây cọ, tiến lên phía trước, dọc hai bên Quốc lộ 1, với một
khoảng cách khá xa. Giữa trưa, gần đến vị trí địch đắp mô, thì
bất ngờ, Biệt Đội bị địch pháo kích bằng súng cối, một Tiểu đội
phó tử thương và hai khinh binh của Biệt Đội bị trọng thương.
Đơn vị súng cối của địch không đặt ở
trên Quốc lộ 1, mà nằm sâu bên trong Núi Mây Tào. Bọn chúng có
thể đã chuẩn bị vị trí đặt súng, canh sẵn tọa độ, mục tiêu, tầm
bắn dọc hai bên Quốc lộ 1, nơi mà chúng dự đoán Quân Đội ta sẽ
di chuyển, và nhất là chúng đặt được cái “đài quan sát” trên
những ngọn cây cao. Với những lợi thế đó chúng tác xạ tương đối
chính xác.
Biệt
Đội tạm thời rút lui khoảng hơn nửa cây số, ra khỏi vị trí “trận
địa pháo” đã có hỏa tập tiên liệu của địch, dừng quân, đào hầm
phòng thủ, nghỉ qua đêm.
Sáng hôm sau, Trung tá Vũ Xuân Thông
cùng hai Biệt đội trưởng lên trực thăng để bay quan sát địa thế
và mục tiêu. Khi trực thăng bay vòng trên khu vực Núi Mây Tào,
địch từ dưới bắn lên bằng súng phòng không 12.7ly. Đây là loại
vũ khí quân Việt cộng mới trang bị thêm cho lực lượng địch hoạt
động tại nơi này. Trực thăng phải bay lên cao, tránh phòng
không, hướng thẳng ra Phan Thiết, rồi từ đó quay ngược trở lại
tiếp tục quan sát. Mục tiêu nằm trên trục lộ chính. Máy bay có
thể oanh kích tiêu diệt dễ dàng, nhưng sẽ làm hư hại nặng nề
Quốc lộ 1.
Hai
bên đường tuy là rừng lá, nhưng đoạn giữa hai Căn cứ 4 và Căn cứ
5, phía bên phải từ hướng Phan Thiết kể vào, có nhà dân chúng,
có vườn tược. Bên phía trái cũng tương tự, nhưng thưa thớt hơn,
rừng chồi và cây cọ dày đặc hơn.
Với địa thế đó, rất tốt để cho tiến
quân đêm, tạo sự bất ngờ, thiếu cảnh giác của địch. Vậy là, ngay
tối hôm đó, Biệt Đội tôi tiến lên. Đi đầu là Toán khinh binh
tiền sát, kế tiếp đó, như chiến thuật từng áp dụng là lực lượng
cấp Trung Đội, yểm trợ cho các Toán tiền sát.
Song song, cũng trong thời điểm này,
Biệt Đội 811 đưa các Toán Thám Sát, thâm nhập vào Mật khu Mây
Tào, bằng đường bộ, riêng các Trung Đội sẽ tiến sâu đến gần bìa
rừng, lục soát, truy lùng địch, đồng thời cũng phục kích bắt
sống bọn chúng.
Tới gần sáng, Toán tiền sát đến gần các
mô đất địch đắp trên lộ, báo cáo không thấy chốt, mà cũng chẳng
thấy địch đâu cả. Biết chắc ban đêm bọn chúng rút về hầm trú ẩn
gần đâu đây, nên Biệt Đội lợi dụng cơ hội, phục kích đón ngược
chúng. Nếu ban ngày, chúng quay trở lại để đóng chốt, thế nào
chúng cũng lọt vào ổ phục kích.
Kế hoạch sử dụng phục kích để chống
phục kích của Biệt Đội đạt kết quả tốt. Bọn chúng hoảng loạn bỏ
chạy, không kịp mang theo xác chết.
Tiếp tục đà chiến thắng, Biệt Đội tiến
lên tấn công chốt chặn kế tiếp. Đã phòng bị trước, địch nổ súng
phản công, nhưng cuối cùng cũng phải buông súng đầu hàng.
Lần này, khác với hôm qua, bọn Việt
cộng không được súng cối 61 và 82ly của đồng bọn bắn yểm trợ. Do
đó, kết quả thảm bại chua cay, phải bỏ xác, tháo chạy và qui
hàng.
Tại sao
chúng không được súng cối yểm trợ như ngày hôm qua, một chiến
thuật mà chúng đẩy lùi được đơn vị đã tấn công chúng trước chúng
tôi?
Bởi vì
cuộc hành quân của Biệt Đội 811.
Khi Biệt Đội 814 chúng tôi đang phá
chốt trên Quốc lộ 1, thì các Toán Thám Sát Biệt Đội 811 khám phá
một căn cứ của địch nằm khuất bên trong rặng Núi Mây Tào. Các
Phi Tuần F5E đã được gọi đến để ném bom phá hủy. Đồng thời, Biệt
Đội 811, trong lúc truy lùng địch dọc theo mặt Bắc chân núi Mây
Tào đã tấn công tiêu diệt hai tổ súng cối yểm trợ hỏa lực của
Việt cộng, phát hiện tịch thu một hầm vũ khí và lương thực cùng
các rẫy canh tác trồng trọt, đặc biệt địch trồng rất nhiều lúa
và ngô trong khu vực này.
Đó là lý do tại sao Biệt Đội 814 đã
đánh bại các chốt địch trên Quốc lộ 1 quá dễ dàng.
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đã gây
nhiều bất ngờ cho địch quân. Chưa khi nào Việt cộng bị tấn công
đêm hay bị phục kích ngược trở lại. Bọn địch cũng không bao giờ
ngờ, các Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù dám thâm nhập vào sâu trong
Mật khu an toàn của chúng, để khám phá kho tàng, căn cứ, địa
đạo, hay mở các cuộc hành quân truy lùng, tấn công vào các đơn
vị hỏa lực yểm trợ của chúng đóng ẩn giấu, che khuất dưới những
tàn cây, hốc đá, sát tận chân núi, để bọn chúng cuối cùng cũng
phải “bỏ của chạy lấy người.”
Việt cộng chắc chắn phải thấy một điều:
Mật khu Mây Tào không còn là vùng “Bất Khả Xâm Phạm” đối với
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
Chiến Sĩ Xuất Sắc
Trong quãng đường binh nghiệp mà tôi đã
đi qua, là một chiến sĩ 81BCD, tôi chỉ biết xông pha ngoài mặt
trận, trên các chiến trường lửa đạn hay trong các Mật khu của
giặc cộng với đầy rẫy mọi bất trắc hiểm nguy chực chờ. Thế
nhưng, tôi vẫn không sờn lòng nản chí. Tôi chiến đấu cùng đồng
đội để tiêu diệt giặc thù cộng sản, để bảo vệ Tổ Quốc, Quê
Hương, và Đồng Bào, đó là một bổn phận, một sứ mệnh thiêng
liêng, cao cả mà tôi phải hiến dâng và tuân hành.
Từ những Mật khu bất khả xâm phạm của
địch, đến các trận địa chiến khốc liệt, tang thương, đã cướp đi
quá nhiều đồng đội, chiến hữu của tôi, họ đã can trường chiến
đấu, hy sinh cả tuổi trẻ và mạng sống để Tổ Quốc được tồn vong,
để ghi vào lịch sử những chiến tích lẫy lừng cho đơn vị.
Xác thân và công lao của họ đã cho tôi
được nhận lãnh vinh hạnh lớn lao hôm nay, ngay tại mặt trận Rừng
Lá – Mật khu Mây Tào, tôi đã được Đại tá Phan Văn Huấn, Chỉ huy
trưởng đề cử là một Chiến Sĩ Xuất Sắc của Liên Đoàn 81 Biệt Cách
Nhảy Dù, để về Thủ Đô Sài Gòn tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Thành
Lập Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6 năm 1974. Sau đó tháp
tùng cùng Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Vùng IV Chiến
Thuật, du hành thăm viếng Nước Trung Hoa Dân Quốc (Đảo Đài Loan)
trong một tuần lễ. Cũng trong Ngày Đại Lễ này, tôi đã được Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu ban thưởng Ưu Dũng Bội Tinh, một Huy
Chương cao quí, chỉ dành cho các Chiến Sĩ Xuất Sắc, các Anh Hùng
diệt cộng của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Buổi ân thưởng huy chương danh dự này, đã được cử hành trọng thể
ngay tại Phòng Khánh Tiết Dinh Độc Lập.
Đó là niềm hãnh diện và là một vinh dự
lớn lao, ghi đậm dấu ấn trong suốt đời Binh Nghiệp của tôi.
Chiến Sĩ Xuất Sắc
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d: 16...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


16. Phước Long
(Chứng tích kẻ chạy làng)
Ngày
đầu năm 1975, đang hành quân ở Tây Ninh, Đại tá Phan Văn Huấn,
Chỉ huy trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận được lệnh của
Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Quân Đoàn III, phải gấp rút
đưa đơn vị về Biên Hòa, nhận nhiệm vụ mới, chỉ để lại một Biệt
Đội tăng cường, phòng thủ tại phi trường Quân sự Trảng Lớn.
Nhiệm vụ mới, không nói mà cả Liên Đoàn ai cũng nhận biết
được, đó là chiến trường Phước Long, một chiến trường “dầu sôi
lửa bỏng, thập tử nhất sinh” cần khẩn cấp tiếp cứu.
Mặt
trận Phước Long bắt đầu từ ngày 12 tháng 12 năm 1974, kéo dài
cũng đã gần một tháng. Áp lực địch càng ngày càng mạnh. Bốn quận
của Phước Long đã bị Việt cộng đánh chiếm cả. Năm Tiểu Đoàn Địa
Phương Quân, với quân số còn lại, rút về phòng thủ quanh thị xã,
ngoài ra còn được tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 7, Sư
Đoàn 5 Bộ Binh, ba Đại Đội Trinh Sát của các Sư Đoàn 5, 18, và
25 Bộ Binh. Nếu cộng thêm với lực lượng ít ỏi của các đơn vị của
Tiểu Khu, kể cả Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát và Cảnh Sát Dã Chiến, Nghĩa
Quân, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, không hy vọng chống trả lại
được với lực lượng đầy đủ và sung mãn tinh thần “điên khùng” của
Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 Bắc Việt xâm lược, cộng với một Tiểu Đoàn
Đặc công, và hai Chi Đoàn Chiến xa T54.
Vào thời điểm đó,
quân cộng sản có nhiều thuận lợi về nguồn tiếp tế. Hướng
Đông–Bắc là căn cứ Bù Gia Mập, hướng Tây–Bắc là căn cứ Bù Đốp,
cả hai nơi đều đã bị địch chiếm cứ và trở thành Mật khu của
chúng. Chắc chắn hậu cần và quân tiếp ứng, nếu cần, sẽ từ hướng
này tuôn xuống một cách dồi dào. Phía Đông là hai thị trấn Gia
Nghĩa và Bảo Lộc, không giúp đỡ gì được cho quân trú phòng. Quận
Chơn Thành và Đồng Xoài ở phía Nam cũng đã bị địch chiếm mất
rồi. Phía Tây tỉnh Bình Long, cũng chưa hoàn toàn hồi sức từ sau
trận chiến Mùa Hè 1972.
Tình hình quân sự đã căng như
thế, trong khi Sài Gòn nhiều phong trào đang biểu tình dữ dội:
– Phụ nữ đòi quyền sống,
– Ký giả đi ăn mày, và
–
Chống tham nhũng.
Tình hình chính trị như thế chỉ có lợi
cho địch quân mà không chắc ở Sài Gòn có người nào nghĩ đến
những người lính ở Phước Long đang lâm vào cảnh “thập tử nhất
sinh”.
Chuẩn bị vào Chiến Trường
Về tới căn cứ, nắm biết được tình hình như thế, thêm vào đó
trong lòng mang nỗi chán nản vì hành động vi phạm Hiệp Định
Paris một cách trắng trợn của bọn Việt cộng. Biết là Biệt Đội
cũng sắp sửa nhảy vào Phước Long, tôi vừa xúc động vừa buồn,
không như ba năm trước đây, tại chiến trường Bình Long, An Lộc.
Lúc đó, tôi cũng mang đầy lo lắng, nhưng nôn nóng, sôi sục muốn
nhảy vào chiến trường, sớm chừng nào hay chừng đó, để chia sẻ và
gánh vác gian nguy cùng Đồng Đội, Chiến Hữu.
Rạng sáng
ngày 3 tháng 1 năm 1975, Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật do Trung tá Vũ
Xuân Thông chỉ huy, đã cùng Biệt Đội 811 Xung Kích, Biệt đội
trưởng là Đại uý Trương Việt Lâm và Biệt Đội 814 Xung Kích, Biệt
đội trưởng là tôi, được chuyển vận tới Sân bay Quân Sự tại Căn
cứ Long Bình. Đoàn Quân Biệt Cách Nhảy Dù, nằm trải dài trên bãi
chờ trực thăng, được lót trải bằng những tấm vỉ sắt kết nối
nhau, trong một khoảng thời gian dài, từ sáng cho đến quá trưa.
Mãi tới 2:00g chiều, một Phi Đội Trực thăng do Phi đội trưởng
Thiếu tá Đào Vũ Anh Hùng chỉ huy, mới đáp xuống. Đến 2:30g, các
chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù Biệt Đội 814 đã sẵn sàng lâm trận.
Từng chiếc UH1B cất cánh, rồi nối đuôi theo sau chiếc xe của
Đại tá Phan Văn Huấn trực chỉ về hướng Bắc. Khoảng cách từ căn
cứ Long Bình lên Phước Long theo đường chim bay trên 100 cây số.
Khi đoàn trực thăng vừa đến vùng trời Phước Long, cao xạ 12.7ly
và 37ly của bọn giặc cộng thay nhau bắn lên xối xả, dưới đất thì
khói bụi mịt mù bay lên che khuất một vùng trời, các Phi Tuần
A37 oanh kích triệt hạ phòng không địch trên núi Bà Rá chẳng
thấy xuất hiện. Đoàn trực thăng bay lượn hai vòng trên trời cao,
họ có thể đã ước tính, không còn đủ nhiên liệu và thời gian để
đáp thả Biệt Đội 814, rồi quay trở về bốc thả tiếp Biệt Đội 811
và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật còn lại, thì trời đã quá chiều tối,
nên đã đồng loạt bay về hướng Nam, đáp khẩn xuống ở Tiểu Khu
Định Quán để tiếp tế nhiên liệu, rồi bay đáp trở lại ở phi
trường Long Bình.
Thêm một đêm nằm ngủ giữa trời sao trôi
qua nhanh. Từ sáng sớm ngày 4 tháng 1 năm 1975, hai Biệt Đội đã
túc trực chuẩn bị hành trang lên đường. Vào khoảng 9:00g, đoàn
trực thăng chở Biệt Đội 814 cùng Trung tá Vũ Xuân Thông và BCH 1
Chiến Thuật cất cánh, bay cặp theo dòng Sông Bé về hướng Bắc,
vừa qua khỏi thị xã Phước Long, đoàn trực thăng quay vòng trở
lại hướng Nam, bay qua Sông Dak–Lung thì lần lượt đáp xuống lơ
lửng trên một ngọn đồi, cây cối bị pháo địch bắn cháy, còn ngổn
ngang gốc cành, nằm rải rác khắp cả khu đồi, cách thị xã chừng
500 mét về hướng Bắc. Từ độ cao cách mặt đất khoảng 2 mét, các
Trung Đội nhanh chóng nhảy xuống tìm nơi ẩn núp và phòng thủ,
nhất là để tránh địch có thể trực xạ đại bác 75ly từ đỉnh núi Bà
Rá. Tôi đã được cấp trên cảnh giác về tình huống này. Bà Rá đã
bị Việt cộng chiếm ngay ngày đầu năm Dương Lịch.
Bà Rá,
Bà Đen, và cả Mây Tào, là những ngọn núi cuối cùng của dãy
Trường Sơn. Bà Rá có độ cao 736 mét, là con mắt và lỗ tai của
thị xã Phước Long. Với vị trí chiến lược này, ngay từ đầu, Quân
Đội VNCH đã đặt căn cứ trên đỉnh Bà Rá. Từ trên đó, chúng ta có
thể quan sát khắp vùng, điều chỉnh và yểm trợ phi pháo cho các
đơn vị Quân Đội, khoá họng súng của địch mỗi khi chúng pháo kích
vào thành phố. Tại căn cứ này cũng có các Đài Truyền tin, phát
tuyến, nối tiếp làn sóng với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa
và giữa các đơn vị trong và ngoài khu vực thị xã Phước Long.
Tình hình Căn cứ Bà Rá bây giờ ở thế ngược. Sau khi chiếm
được đỉnh núi này, địch được ba cái lợi: Bố trí phòng không
12.7ly trên núi và 37ly dưới chân núi, Việt cộng gây khó khăn
cho các hoạt động của Không Quân ta. Cũng từ đây, địch có thể
trực xạ đại bác 75ly vào vị trí của chúng ta, và cũng từ đây,
địch dễ dàng quan sát cả thị xã, các hướng tiến quân của ta để
điều chỉnh pháo binh đang bố trí chung quanh Phước Long mà tác
xạ chính xác, hiệu quả.
Trong khi Biệt Đội 814 và BCH 1
Chiến Thuật đang trên đường tiến quân, thì Biệt Đội 811 và Thiếu
tá Nguyễn Sơn Chỉ huy phó, cũng đang đổ bộ xuống một bãi trống,
nằm chếch về hướng Tây–Bắc của thị xã Phước Long, để từ đó cánh
quân này sẽ tiến vào bắt tay phối hợp với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu,
với Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 và năm Tiểu Đoàn Địa
Phương Quân, đang phòng thủ trong thị xã và Tòa Hành Chánh tỉnh.
Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật tiếp tục băng qua các cánh
đồng khô, các khu nhà, các dãy phố hoang tàn đổ nát, một vài nơi
đã biến thành bình địa, không một tiếng súng, nhưng thỉnh thoảng
đạn pháo địch vẫn nổ rải rác vài nơi trong trung tâm thị xã, mọi
hiểm nguy vẫn chờ chực cận kề, thì ngay lúc này xuất hiện một
chiếc xe jeep của BCH/Tỉnh đến đón một mình Trung tá Thông rời
khỏi đội ngũ.
Tiêu diệt quân thù
Tiếp tục theo như lệnh đã được ban hành tại Căn cứ Hành Quân ở
Suối Máu. Biệt Đội 814 tiến sát hơn vào bên trong thị xã, đơn vị
trú phòng mà Biệt Đội 814 tiếp cận đầu tiên để cùng phối hợp tác
chiến là Ty Cảnh Sát Quốc Gia, nằm ngay góc một ngã tư đường lộ
chính, dẫn vào Trung tâm thị xã. Nơi đây tôi được tiếp xúc cùng
Thiếu tá Nguyễn Văn Tư, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia, và qua Ông
tôi nắm biết phần nào về lực lượng địch, cùng hệ thống bố phòng
của các đơn vị bạn trên trục tiến quân của Biệt Đội 814. Dĩ
nhiên Ông ta và các chiến hữu của Ông hết sức mừng rỡ khi có
Biệt Cách Nhảy Dù đến tiếp ứng.
Vượt qua Ty Cảnh Sát, là
Doanh Trại của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến, cũng nằm ngay góc ngã
tư đường kế tiếp, mặt trước là cổng chính ngó vô thành phố, mặt
hông phải, bên kia đường là khu nhà dân, nhà cửa hầu hết tan
hoang không còn nguyên vẹn, vài nơi vẫn còn lửa cháy âm ỉ, khói
bốc lên lan tỏa mờ nhòa tầm quan sát cả một khu vực, không có
đơn vị nào còn phòng ngự ở đây, kể cả trong phòng tuyến của Trại
Cảnh Sát Dã Chiến, họ đã rút về bố phòng tại các giao thông hào
của Ty Cảnh Sát.
Vừa lúc đó, thì đạn pháo của địch không
biết xuất phát từ đâu đã rơi xuống nổ khắp nơi. Tôi tức tốc cho
lệnh các Trung Đội lao xuống bố trí tại các hầm hố, giao thông
hào bao quanh ba mặt trong Trại Cảnh Sát Dã Chiến, chuẩn bị sẵn
sàng tác chiến, đề phòng địch mở đợt tấn công. Bỗng đâu một
tiếng súng nổ chát chúa, phá thủng một “cô–nét” gần bờ rào chính
diện gây tử thương cho Hạ sĩ I Sơn, một hiệu thính viên của Biệt
Đội, hai trái đạn kế tiếp nổ ngay trên đường, sát bờ rào Ty Cảnh
Sát. Đây là những viên đạn Đại bác 75ly do địch trực xạ từ trên
đỉnh núi Bà Rá. Pháo Binh của ta đã hoàn toàn tê liệt, không còn
có khả năng phản pháo. Đạn pháo vừa ngưng, tiếng gầm rú của các
xe tăng của địch lại từ từ tiến lên, không có bộ đội tùng thiết,
xe tăng vừa chạy vừa quay nòng đại bác tác xạ như để áp đảo tinh
thần đối phương, nhưng bọn chúng đã không ngờ đang đụng phải
khắc tinh của chúng.
Từ bên trong các công sự chiến đấu,
những hỏa tiễn M72 của các xạ thủ Biệt Đội 814 đã dương cao sẵn
sàng chờ đợi. Ầm... ầm... ầm, Hạ sĩ I Ẩn và Hạ sĩ Sáng, Trung
Đội 2, đã tác xạ chính xác chiếc T54 chạy đầu tiên, lửa đang rực
cháy thiêu rụi toàn bộ đám địch quân. Hai T54 kế tiếp vẫn trườn
lên, ầm... ầm... ầm, chiếc trước đứng sững lại một chốc, xong
tiếp tục chạy trườn tới tông sập đổ cột trụ đèn, rồi chạy thẳng
ra bìa rừng hướng Tây–Bắc, chiếc còn lại quay đầu, leo lấn lên
lề đường, Thiếu uý Nguyễn Tấn Mẫn, Trung đội trưởng Trung Đội 1,
không chần chờ bắn ngay một quả M72, đạn trúng bên hông trái,
phía đàng sau đuôi, chiến xa địch hầu như chẳng hề hấn gì, vẫn
cứ chạy trên đường lộ, về hướng Tây rồi mất hút trong màn đêm
đang đổ xuống toàn thị xã Phước Long.
Đêm hôm đó, thời
gian đang chầm chậm trôi đi trong yên tĩnh. Nhưng rất bất ngờ,
Đại uý Thứ gọi điện thoại thông báo: Trung tá Thông ra lệnh cho
các Biệt Đội Biệt Cách Dù sửa soạn rút quân, theo hai hướng khác
nhau, BCH 1 Chiến Thuật, Đặc Huấn, và Ban Quân Y sẽ rút về một
hướng (?), còn Biệt Đội 811 và 814 sẽ rút lui theo một hướng
khác (?).
Tôi thật quá đỗi ngạc nhiên, khó khăn lắm mới
vào được đây để tiếp cứu, vừa chân ướt chân ráo, chưa được một
ngày một đêm, và cũng chỉ mới đụng độ sơ khởi với địch, chẳng có
tổn thất gì lớn lao, trầm trọng, mà sao Trung tá Thông lại cho
lệnh rút quân.
Tôi suy đoán, chắc có điều gì không ổn
chăng? Hay cấp trên đã nhận thấy kế hoạch thả hai Biệt Đội Biệt
Cách Nhảy Dù vào Phước Long, trong biển lửa này như những con
thiêu thân, như đem muối bỏ biển, như đem con bỏ chợ, chỉ là làm
vật hy sinh tế thần, nên đã cho lệnh triệt thối khẩn cấp?
Sáng hôm sau, ngày 5 tháng 1 năm 1975, Biệt Đội liên lạc với
BCH 1 Chiến Thuật để am tường rõ ràng về kế hoạch rút quân,
nhưng chẳng có động tĩnh hay lệnh lạt gì khác cả. Và nếu như
theo đúng diễn tiến hành quân từ trước, thì Biệt Đội 814 sẽ tiến
lên hướng Công viên Lệ Thủy, gần khoảng giữa Trung tâm thị xã,
để bắt tay cùng các Đại Đội Trinh Sát, sau đó sẽ mở đường, giải
tỏa áp lực địch để tiến vào Tòa Hành Chánh tỉnh. Chưa kịp hành
động, thì đạn pháo của địch bắt đầu tác xạ và nổ ầm ĩ khắp nơi.
Trước hỏa lực pháo tới tấp này, với kinh nghiệm chiến đấu cùng
giặc cộng ở mặt trận An Lộc, Quảng Trị, tôi biết chắc chắn trước
sau gì địch cũng sẽ tấn công, nên cho Biệt Đội nằm yên tại các
giao thông hào, chờ đợi nghênh chiến với lũ giặc cộng. Đúng y
như tôi dự đoán, Việt cộng mở cuộc tấn công ào ạt, lực lượng
chính của nó vẫn là xe tăng.
Bốn chiếc xe tăng T54, không
phải từ phía ngoài bìa rừng, hướng Tây, hướng Bắc hay hướng
Đông, mà từ hướng Nam trong thành phố, tiến thẳng về phía phòng
tuyến Cảnh Sát Dã Chiến mà Biệt Đội 814 đang trấn giữ. Hai bên
mỗi xe tăng, là năm sáu tên bộ đội tùng thiết, cầm AK, CKC, B40,
và B41 lom khom chạy theo. Tới ngã tư giao lộ, chúng chạy tản ra
hai phía, như để bao vây, rồi xoay pháo tháp nổ súng bắn thẳng
vào bên trong Đồn Cảnh Sát Dã Chiến.
Thiếu uý Nguyễn Văn
Ngọc, Trung đội trưởng Trung Đội 2, với M72 trên vai, nhắm ngay
chiếc T54 đang rẽ hướng về phải, ngay trước tuyến phòng ngự. Lửa
từ chiếc xe tăng bùng lên, bọn bộ đội tùng thiết hoảng loạn,
chạy dạt vào một bên vệ đường, nhưng không còn kịp, Đại Liên 60,
Phóng Lựu M79, Lựu Đạn của Trung Đội 3 đã tiêu diệt chúng, không
còn một tên sống sót. Chiếc T54 kế tiếp vẫn liều lĩnh chạy tới,
càn qua hàng rào kẽm gai, để tiến vào bên trong, nhưng đã bị các
vòng dây kẽm gai cuộn, dính chặt trong các mắt xích, xe đứng
khựng lại, ngay tức thì, Hạ sĩ Dữ, một xạ thủ XM202 của Trung
Đội 2 đứng lên tác xạ, quả đầu tiên bị trượt, quả thứ 2, thứ 3,
thứ 4 đều trúng vào thành xe tăng, nhưng không kết quả gì, xe
tăng vẫn gầm rú, nhưng chỉ nhúc nhích một hai thước. Không chần
chờ, Thượng sĩ Hùng, Trung đội phó, cùng Trung sĩ Sơn, Tiểu đội
trưởng, đã nhanh nhẹn bò lên, mở nắp pháo tháp, tung vào bên
trong hai quả lựu đạn. Chiếc T54 giờ đây đã hoàn toàn bất động.
Dĩ nhiên, không có tên nào trong và ngoài xe có thể sống sót,
không có “phép lạ” đến với chúng cả, dù là phép lạ của ông
Lenin, ông Mác, ông Mao hay ông Hồ. Có một điều kỳ lạ, là đã hai
ba lần sử dụng M72 và XM202 tác xạ diệt tăng, nhưng đều không
hiệu quả, chẳng lẽ hai loại hỏa tiễn này chưa thích ứng hoặc vô
hiệu với chiến thuật diệt xe tăng hay Việt cộng rút kinh nghiệm,
có thể chúng che chắn thêm cho xe tăng bằng một thứ vật liệu gì
đó, khiến trái hỏa tiễn không thể xuyên thủng được.
Hai
chiếc T54 chạy về hướng cổng chính của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến
và Ty Cảnh Sát cũng đã bị Trung Đội 3 và 4 dưới sự chỉ huy của
Chuẩn uý Chuyển và Chuẩn uý Lân, đã chận đứng và tiêu diệt hai
đợt xung phong của đám bộ đội tùng thiết, và sau khi sử dụng M72
bắn nhưng không chận đứng được chiếc T54 đang húc đổ cổng trại
Cảnh Sát Dã Chiến, Tổ vũ khí nặng, dưới sự điều động của Trung
uý Quí, Biệt đội phó, đã mang Đại bác 90ly không giựt tác xạ phá
hủy, lửa bốc cháy hừng hực, đã làm cho chiếc T54 theo sau quay
bánh xích, gầm rú tháo chạy mất dần về hướng cũ, sau những khu
nhà đổ nát, mờ mịt bụi khói mù trời. Trời tối, đêm dần dần trôi
qua trong lo lắng.
Sơ Đồ Mặt Trận Phước Long
Tờ mờ
sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975, Việt cộng cố dứt điểm trận chiến
Phước Long. Sau nhiều đợt pháo kích dữ dội bằng đại pháo, không
riêng gì ở núi Bà Rá, mà tất cả các phía chung quanh, nã vào cái
tỉnh lỵ nhỏ bé mỗi bề chưa tới nửa cây số, như rải cát trên đầu
chúng tôi vậy. Không nơi nào không bị đạn pháo cày xới tơi tả.
Quân địch dốc toàn bộ 2 Tiểu Đoàn Xe Tăng và các Trung Đoàn Bộ
Binh của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 tràn ngập các cứ điểm còn lại
của Quân Đội ta đang trú phòng.
Từ dưới phố, từ bìa rừng
hướng Tây Tây–Nam, xe tăng địch ào ạt chạy lên đông vô số kể.
Thật ra, không phải đông vô số kể, nhưng ít ra cũng phải đếm
bằng con số chục, không phải bằng con số lẻ. Tình hình này thì
“căng lắm đây”, tôi thầm nghĩ! Biệt Đội 814 không có đủ Hỏa tiễn
M72, lại không có loại mìn tự chế của Đại tá Huấn như ở trận
Bình Long, hai cấp số đạn dược mang theo cũng đã tiêu tán trong
hơn một ngày qua, trong khi tình trạng tiếp tế rất khó khăn. Ở
cứ điểm núi Bà Rá, với nhiều loại vũ khí phòng không, hầu như
địch quân đã khống chế bầu trời Phước Long. Máy bay yểm trợ của
Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, không bay thấp được, dù là máy
bay tiếp tế hay oanh tạc cơ, còn trên đường bộ thì xe tăng của
chúng đang đầy rẫy khắp các ngõ ngách, để chuẩn bị cho một cuộc
tấn công qui mô.
Trong khi tại Đồn Cảnh Sát Dã Chiến,
Biệt Đội đang tả xông hữu đột, vật vã chống trả các đợt tấn công
của bộ binh địch và xe tăng ở hướng bên hông và hướng trước mặt
thành phố, thì bất ngờ, một đơn vị Việt cộng khác, từ phía Ty
Cảnh Sát, đã vượt rào cản, tràn lên đánh ập vào hậu tuyến Biệt
Đội, nhưng bọn chúng gặp phải sức kháng cự của Ban Chỉ Huy Biệt
Đội, đã sử dụng lựu đạn và M79 tiêu diệt hơn 10 tên địch quân.
Lúc bấy giờ, tôi mới biết là Ty Cảnh Sát đã hoàn toàn bỏ trống,
toàn bộ nhân viên trong Ty và Cảnh Sát Dã Chiến đã di tản, tháo
chạy từ trong đêm hôm qua.
Ngay trong thời điểm đang phải
chiến đấu cam go, nóng bỏng, hiểm nguy như thế này, thì Âm thoại
viên Biệt Đội cho tin:
– “Đại uý Thứ vừa gọi máy, thông
báo lệnh của Trung tá Thông, toàn bộ đơn vị sẵn sàng rút quân”.
– Lại rút quân!!!...
Nghe tin, chưa kịp định thần,
thì ba bốn chiến xa T54 của địch đã cán sập tường rào, lù lù càn
tới, bất kể sự phản công mãnh liệt của Biệt Đội. Đại bác 75ly,
XM202, M72 hết hiệu quả tác xạ trong tầm quá ngắn, chỉ còn Đại
Liên, XM16, M79, và lựu đạn là còn sử dụng, để tiêu diệt đám
cộng quân tùng thiết, đang la hét khủng hoảng tinh thần đối
phương và chận đứng các xe tăng địch, đang nặng nề xoay chuyển
trong Doanh Trại Cảnh Sát Dã Chiến, với đầy dẫy kẽm gai và công
sự.
Đã quá trưa, tình hình chiến sự trong toàn khu vực
vẫn còn sôi động, cộng quân không ngừng pháo và tấn công khắp
nơi. Tôi vẫn bình tĩnh chỉ huy Biệt Đôi. Một mặt vẫn giữ liên
lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để nhận chỉ thị, một mặt biết
chắc không thể tiếp tục đối đầu cùng địch, trước những đàn chiến
xa mỗi lúc mỗi gia tăng. Tuân hành theo lệnh rút quân đã được
ban hành từ Trung tá Thông, mà cũng nhằm để bảo toàn lực lượng,
tôi quyết định rút Biệt Đội ra khỏi Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, di
chuyển khoảng 1 cây số, về hướng Đông–Bắc, chiếm lĩnh lợi thế
trên một đồi rừng non, đâu lưng với sông Dak–Lung chừng 500 mét.
Các Trung Đội dàn trải đội hình bao quanh đỉnh đồi, đào hầm hố,
bố trí sẵn sàng nghênh chiến. Và, y như rằng, không đợi lâu, bọn
Việt cộng đã đuổi theo truy kích, chúng lố nhố, vừa leo đồi vừa
nổ súng bắn tới tấp, bất chấp sự phản công ác liệt của các Chiến
sĩ Biệt Cách Dù Biệt Đội 814 từ trên cao điểm. Tuy nhiên, sau
hơn hai giờ giao tranh, mặc dù Biệt Đội tiêu diệt được nhiều
địch quân, chận đứng kịp thời các đợt xung phong, tiến chiếm
đỉnh đồi của địch, nhưng Biệt Đội đã phải hy sinh Thượng sĩ Thủy
Trung đội phó và B1 Tài khinh binh, riêng Trung đội trưởng Trung
Đội 2, Thiếu uý Nguyễn Văn Ngọc thì bị trọng thương, máu chảy
lênh láng, Trung sĩ Đức Y tá Biệt Đội phải sử dụng nhiều lượng
thuốc cầm máu, rửa sạch vết thương, nẹp cây hai bên cánh tay để
băng bó mới dứt hẳn được.
Ngay trong lúc này, hai công
việc tôi phải làm: Việc trước tiên là tiếp tục liên lạc vô tuyến
với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và được biết BCH đã rút ra khỏi Tòa
Hành Chánh tỉnh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Long hầu như đã bị
Việt cộng chiếm cứ mất rồi. Giờ này chắc Trung tá Thông, Thiếu
tá Sơn, đang trên đường bôn tập, không biết có được an toàn? Nếu
có nhanh chân tẩu thoát được, thì đang ẩn núp, lẩn trốn đâu đó.
Việc thứ hai, dù khó khăn, nguy hiểm thế nào đi chăng nữa, dưới
tầm pháo địch, Biệt Đội cũng phải đào hố chôn cất thi hài Thượng
sĩ Thủy và Binh I Tài, những chiến binh đã Anh Dũng Hy Sinh đền
nợ Nước.
Trời chiều xuống dần, cả một không gian mờ nhạt
bao trùm tỉnh lỵ Phước Long, trong giờ phút này đã hoàn toàn rơi
vào tay giặc cộng. Thấp thoáng từ xa, một vài đám cháy rải rác
trong thị xã, thỉnh thoảng bùng sáng lên, rồi lại lụn tắt dần
cùng với ánh chiều tà.
Phước Long thật sự đã mất, mất
theo với Đại tá Nguyễn Thống Thành, Tỉnh trưởng tỉnh Phước Long,
với Trung tá Quận trưởng quận Châu Thành, với Thiếu tá Tiểu đoàn
trưởng Tiểu Đoàn 2 Sư Đoàn 5 Bộ Binh, và còn nhiều nhiều Quân
Dân Cán Chính khác nữa, làm sao kể xiết.
Liên lạc với Bộ
Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để báo cáo tình hình và kế hoạch rút quân,
nhưng đường vô tuyến bị nhiễu loạn. Không thể chậm trễ, chiến
trường đã phó mặc cho tôi chỉ huy chiến đấu sống còn, thì tự tôi
phải biết định đoạt vận mạng cho các chiến sĩ và bản thân. Chỉ
cần một đợt pháo hỏa tập của địch, cùng với sự hợp đồng tác xạ
đại bác 75ly từ đỉnh núi Bà Rá, thì Biệt Đội 814, tất cả đều sẽ
trở thành cát bụi.
Núi Bà Rá
Không còn chần chờ,
mạng sống của trên 150 binh sĩ Biệt Đội 814 đều nằm trong giải
pháp dứt khoát của tôi. Lợi dụng màn đêm buông xuống, tôi ra
lệnh cho các Trung Đội cấp tốc, lặng lẽ rút xuống đồi, di chuyển
về hướng Đông–Bắc tiếp cận bờ sông Dak–Lung, nơi đây bằng mọi
giá, ngay trong đêm, phải tìm cách vượt sông Dak–Lung. Qua bên
kia sông, Biệt Đội sẽ được an toàn hơn.
Dòng sông
Dak–Lung nước chảy siết, rất mạnh. Hai bờ sông cách nhau khá xa,
ít nhất là 50 mét. Một số binh sĩ không biết bơi, với vũ khí đạn
dược còn lại trên người, sẽ không an toàn tính mạng. Sau một
thoáng suy nghĩ, tôi quyết định cho một Toán Tiền Sát dưới sự
chỉ huy của Trung uý Biệt đội phó Nguyễn Văn Quí, đi ngược bờ
sông hy vọng sẽ tìm thấy một khúc sông hẹp hơn.
Cũng
trong lúc này, đức tin của một Phật Tử trỗi dậy trong lòng, tôi
chắp tay ngẩng mặt lên trời với vô số vì sao, thầm cầu nguyện
đến Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hầu mong Đấng Từ Bi gia hộ phù trì
cho tôi tìm ra sinh lộ, đưa Biệt Đội thoát cơn nguy biến. Và như
linh ứng hay là một trùng hợp thiêng liêng, chỉ sau một quãng
thời gian ngắn, Trung uý Quí báo về, đã tìm thấy được mấy cái bè
tre của người Thượng Stieng cư ngụ vùng này bỏ lại, đang neo đậu
bên một lùm cây cổ thụ.
Nhờ vào khả năng bơi lội của
người vùng biển Nha Trang, Trung uý Quí đã đưa một Tiểu Đội qua
sông, và trong sáng kiến chung, những sợi dây rừng, dây ba chạc,
dây dù “mưu sinh thoát hiểm” được nhanh chóng kết nối, nhờ vậy
mà cả Biệt Đội lần lượt vượt sông nhanh chóng, chỉ trong vòng 3
tiếng đồng hồ, trong im ắng nhưng cũng đầy bất trắc có thể xảy
ra.
Trong ngày qua, hôm nay, và ngay thời điểm này, rất
đông đồng bào tỉnh lỵ Phước Long, đã liều chết băng qua cây Cầu
Thác Mơ, nằm về hướng Đông thị xã, bắc ngang sông Dak–Lung. Việt
cộng tuy không ra đón đường ngăn chặn đồng bào, nhưng từ nhiều
phía, chúng đã rót pháo vào đoàn người chạy giặc, nhiều thường
dân không nhanh chân, đã bị chết hay bị thương, không người cấp
cứu, nằm lăn lóc trên bờ đường, phía bên này và bên kia cầu.
Cũng như ở Quảng Trị, cũng như ở Bình Long năm 1972, Việt cộng
đã gây nên ở đây, một “Đại Lộ kinh hoàng” giữa rừng hoang, đem
lại thảm khốc cho người dân lành vô tội.
Lẫn lộn trong
đám người chạy loạn đó, có một số Quân Nhân, Cán Bộ, Cảnh sát...
Trong giờ phút này không thể phân biệt được. Họ đã nhập đàn, lũ
lượt cùng với Biệt Đội 814, để vạch lá băng rừng chạy thoát giặc
cộng.
Suốt đêm, Biệt Đội cứ theo La Bàn nhắm về hướng
Đông Đông–Bắc mà đi, đi mãi, không ai nghỉ ngơi hay chợp mắt
ngủ. Tôi tránh không đi lên hướng Đông–Bắc, phía có Mật khu Bù
Gia Mập. Đó là phía cộng quân di chuyển, tiếp tế hoặc tăng viện
cho chiến trường Phước Long.
Theo hướng Đông Đông–Bắc,
đường đi Gia Nghĩa, Bảo Lộc, dẫu sao cũng an toàn, bất ngờ hơn,
dù rừng rậm, rất hiểm trở, nhưng hy vọng không phải đụng độ với
địch quân. Đồng Bào đang đi theo sau Biệt Đội, nếu có chạm địch,
chắc chắn cộng quân sẽ không ngần ngại khi bắn vào dân chúng,
thiệt hại không nhỏ.
Khi mặt trời ló dạng, nhìn vào tấm
Bản Đồ thì Biệt Đội đã vượt xa hơn 10 cây số.
Biệt Đội
814 vào trận ngày 4 tháng 1. Phước Long thất thủ hôm qua, ngày 6
tháng 1. Đã một đêm, một ngày trôi qua, tần số máy PRC25 truyền
tin cứ bị giao thoa, nhiễu sóng, chẳng liên lạc được ai và chẳng
ai liên lạc được. Di chuyển suốt cả ngày, chỉ ăn qua loa, cầm
chừng bằng gạo sấy, không có nước sôi, không một phút nghỉ ngơi,
chợp mắt. Với tình trạng này, đêm nay không cho Biệt Đội lấy lại
sức, lỡ bất ngờ tao ngộ chiến, Biệt Đội không còn một chút hơi
tàn nào để cầm cự.
Sáng hôm sau, Biệt Đội tiếp tục lên
đường. Nhìn lại đoạn đường Biệt Đội đã đi qua, thì Phước Long
bấy giờ đã quá mịt mù, xa lắc xa lơ. Rừng núi từ đây tương đối
thấp dễ đi, thỉnh thoảng có nhiều con suối nước trong và chảy
siết. Khoảng gần trưa, Biệt Đội vừa băng qua một trảng trống,
thì Hạ sĩ Huệ, truyền tin Biệt Đội, với bộ mặt mừng rỡ, trao ống
bộ đàm cho tôi và nói:
– “Đại uý, Thái Dương đang gọi Đại
uý”.
Đây là lần đầu tiên liên lạc được với Cấp chỉ huy
cao nhất của Liên Đoàn: Đại tá Chỉ huy trưởng Phan Văn Huấn, sau
gần một tuần lễ chiến đấu và bôn tập. Tiếng nói từ Đại tá đã xoa
dịu được phần nào nỗi trầm uất của một đội quân chiến bại, đang
trên đường cao bay xa chạy.
Suốt ngày nay, vị Chỉ huy
trưởng Liên Đoàn không ăn không ngủ. Thất lạc những đứa con:
Biệt Đội 811 và 814 cùng Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật, Đại tá Huấn
lo lắng, bồn chồn như ngồi trên đống lửa.
Ông liên tục
theo phi cơ Quan Sát L19, bay miết trên vòm trời cao của Phước
Long, để tìm kiếm cho ra những chiến binh của mình. Hỏa tiễn
Việt cộng bắn lên dữ dội, khiến Ông phải dùng L19 cho được an
toàn. Có khi Ông muốn dùng trực thăng, bay thấp hơn, để dễ tìm
thấy, nhưng cao xạ phòng không của địch vẫn là mối đe dọa, không
thể liều lĩnh được.
Vậy là sau hai đêm, hai ngày, Đại tá
Huấn tìm ra được Biệt Đội 814.
Sau khi chấm tọa độ chính
xác vị trí của Biệt Đội đang dừng quân. Theo hướng dẫn của Đại
tá từ trên phi cơ L19, Biệt Đội rẽ về hướng chính Đông, lội qua
một con suối, đi chừng khoảng nửa cây số thì dừng quân bố trí
tại một trảng tranh rộng nằm lọt giữa một khu rừng tre dày đặc.
Không đầy một giờ đồng hồ sau, một đoàn Trực thăng UH1B tuần
tự đáp xuống, bốc Biệt Đội 814 đưa về căn cứ Hành Quân tại Suối
Máu, Biên Hòa. Tiếp theo sau là số Quân Dân chạy loạn. Tất cả
cũng đều được Đại tá Huấn đưa về Biên Hòa, chuyển giao cho Quân
Đoàn III, Phòng Xã Hội chăm sóc.
Khi tôi vừa từ trực
thăng phóng ra là đã thấy một số đông phóng viên báo chí, truyền
thanh, truyền hình đứng đầy trên bãi. Phước Long mất đã hai ngày
nay rồi. Dân chúng Sài Gòn dao động, lo lắng. Bóng ma cộng sản
gần kề hơn!!!
Đang bắt tay cùng các chiến hữu, với nét
mặt vui tươi, mừng rỡ, chào đón Biệt Đội tôi sống sót trở về từ
cõi chết, thì một cô gái người nhỏ nhắn, mảnh mai, trong bộ
trang phục quần tây dài, áo bốn túi, màu xanh nhạt, bước đến bên
tôi, vừa bắt tay vừa tự giới thiệu tên là:
– “Thục Viên,
phóng viên Nhật Báo Sóng Thần, muốn phỏng vấn...”
Tôi
chưa kịp nói gì cả, cảm thấy chân tay như rã rời, chỉ thèm được
uống một ly cà phê đá, hay một ly soda chanh cho đã cái khát
chất chứa trong suốt mấy ngày qua. Nhưng, miễn cưỡng, tôi nghĩ
cũng khó mà từ chối trước lời đề nghị nhiệt thành và đầy thân
thiện của cô ta. Thế là một hai câu hỏi và trả lời bắt đầu và
trôi qua.
Về sau, tình cờ tôi đọc được bài phỏng vấn này
trên Nhật Báo Sóng Thần, với lời mở đầu đầy hài tính, nhưng phản
ảnh trung thực về cá tính của con người tôi:
“Sau khi
Phước Long thất thủ, các đơn vị tham chiến tại đây, trong đó có
Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù đã
phải tìm đường thoát nạn. Sau hai ngày hai đêm băng rừng, vượt
núi, đơn vị đầu tiên được Đại tá Phan Văn Huấn tìm thấy và đưa
trở về lại căn cứ hành quân trú đóng tại Biên Hòa, đó là Biệt
Đội 814 do Đại uý Lê Đắc Lực chỉ huy.
Đại uý Lê Đắc Lực,
người cao to, có để bộ râu mép đậm dài, tướng đi bệ vệ trông
chẳng khác gì một con gấu. Nhưng khi tôi tiếp xúc phỏng vấn thì
thấy Đại uý Lực rất hiền lành, trả lời câu hỏi từ tồn, nhã nhặn,
chân tình, nhìn Đại uý Lực lúc này thì lại giống như một con
nai, phản ảnh trái ngược hoàn toàn với tướng dáng con người của
Đại uý Lê Đắc Lực......”
Ngay chiều hôm đó và qua sáng
ngày hôm sau, Đại tá Phan Văn Huấn đã tìm và đưa được Biệt Đội
811, Đại uý Trương Việt Lâm, cùng Trung tá Thông, Thiếu tá Sơn,
và một số Quân nhân của Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật trở về. Nhưng
Liên Đoàn và riêng Đại tá Phan Văn Huấn, vẫn mang nặng nỗi đau
buồn lớn lao khi đã để lại tại chiến trường Phước Long một số
xác thân của các chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù đã hy sinh, và còn
nhiều quân nhân khác vẫn chưa tìm thấy, mà sau này được biết đã
bị Việt cộng bắt làm tù binh bao gồm:
– Trung uý Đức,
– Chuẩn uý Cấp,
– Chuẩn uý Phước (BCH–1/CT),
– Thiếu uý
Long,
– Chuẩn uý Bảo,
– Chuẩn uý Lịch,
– Chuẩn uý Linh
(BĐ 811).
Mãi cho đến ngày Miền Nam sụp đổ họ mới được
trở về, để rồi sau đó không lâu lại phải đi tù “cải tạo” khổ
sai.
Trên bãi trực thăng dã chiến, tại Căn cứ Hành Quân
Suối Máu, Biên Hòa, một Nghi Lễ được tổ chức để tưởng thưởng Huy
Chương, Cấp Bậc cho hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù và Bộ Chỉ Huy
1 Chiến Thuật “bại trận trở về”.
Trung tướng Nguyễn Văn
Toàn, vừa thay thế Trung tướng Dư Quốc Đống, trong chức vụ Tư
lệnh Quân Đoàn III, đứng trước mặt tôi, cầm chiếc Huy Chương Anh
Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, dí hai mũi kim vào trên nắp
túi áo trái ấn mạnh, kim chạm vào ngực làm hơi buốt nhói, tôi
cảm nhận máu đang ứa rỉ bên trong, nhưng đó chỉ là những bụi máu
nhỏ so với muôn ngàn dòng máu thắm mà Đồng Đội tôi, Chiến Hữu
tôi của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, của các Quân Binh Chủng
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã chảy đổ ra để hiến dâng cho Tổ
Quốc, trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh Quốc cộng. Tôi
bắt chặt tay Trung tướng Tư lệnh, rồi kính cẩn chào trong nỗi
xót xa, đau đớn tận cùng.
Và tôi đã khóc, vì tôi cảm thấy
chưa hoàn thành sứ mạng: “Bảo Quốc An Dân”.
Sống
chết bên nhau
BCD Lê Đắc Lực
Cont’d: 17...
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


17. Tàn cơn Binh Lửa

Sau
khi rời khỏi chức vụ Biệt đội trưởng để đảm nhận Trưởng Khối
Chiến Tranh Chính Trị Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, tôi có thì
giờ và có nhu cầu theo dõi tình hình quân sự và chính trị nhiều
hơn. Ngoài những hành động gây chiến giành dân lấn đất, bọn cộng
sản đang thăm dò thái độ của Mỹ sau khi họ ký Hiệp Định Paris
năm 1973.
Trước chủ trương “thay đổi màu da trên xác
chết”, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa càng ngày càng gặp nhiều khó
khăn hơn về tình hình chiến đấu và tiếp liệu. Việc “một đổi một”
không được thi hành vì theo lệnh của Ngũ Giác Đài, Hoa Kỳ cắt
giảm viện trợ cho VNCH. Tình hình chính trị kể từ đầu năm 1975
càng xáo trộn hơn, nhiều phong trào nảy sinh nhằm hạ uy tín của
không những cá nhân Tổng thống mà toàn bộ chính quyền miền Nam.
Đó là mục đích của Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Ký Giả Đi
Ăn Mày, và Phong Trào Chống Tham Nhũng. Phong trào này được tổ
chức toàn cõi VNCH. Dĩ nhiên, tình hình xáo trộn này ảnh hưởng
đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ VNCH, khiến họ phải suy nghĩ
về việc làm của họ. Không lý họ chiến đấu cho một chính quyền
tham nhũng, đang bóc lột người dân mà họ đang bảo vệ.
Quan trọng hơn nữa, viện trợ ảnh hưởng đến khả năng tác chiến
của binh sĩ. Đạn dược, xăng nhớt thiếu, nên khả năng vận chuyển
binh lính bị hạn chế. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến các
đơn vị Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, các Sư Đoàn Bộ Binh hơn là ở
các lực lượng Tổng Trừ Bị, trong đó có Biệt Cách Nhảy Dù. Trong
giai đoạn này, câu binh thư “Thực túc binh cường” ám ảnh trí óc
tôi không ít. Binh sĩ của Liên Đoàn còn đủ “thực túc,” nhưng gia
đình họ gặp khó khăn không ít trong đời sống hằng ngày.
1. Rút khỏi Căn cứ Hành quân, Biên Hòa
Sau khi chiếm Phước Long ngày 6 Tháng Giêng, năm 1975, quân cộng
sản chiếm Ban Mê Thuột ngày 10 Tháng 3 cùng năm đó. Rõ ràng, như
trong bài trước đã trình bày, đánh Phước Long, là cộng sản thăm
dò phản ứng của Mỹ. Thấy Mỹ bất động, lại còn cắt viện trợ cho
Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản thấy thời cơ đã tới, làm tới luôn,
mở đầu chiến dịch tổng tấn công miền Nam bằng trận đánh lớn kế
tiếp: Ban Mê Thuột.
Mặc dù tình hình căng thẳng, ngày
càng nặng nề, hoạt động của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn
bình thường. Theo lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Đại tá Phan
Văn Huấn đã cho rút Bộ Chỉ Huy nhẹ của Trung tá Nguyễn Văn Lân,
từ Tây Ninh về lại Căn cứ Hành quân Biên Hòa, để lại Biệt Đội
813 do Trung úy Lại Đình Hợi chỉ huy, tăng cường phòng thủ cho
chiến trường Tây Ninh. Điều động Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật, do
Thiếu tá Phạm Châu Tài chỉ huy, gồm 3 Biệt Đội 811, 817, và 818
đến bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.
Riêng tại Căn cứ Hành quân
Suối Máu Biên Hòa, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn do Đại tá Phan Văn Huấn
chỉ huy và 2 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật 1 và 2, với quân số các Biệt
Đội còn lại lên tới 2,000 binh sĩ, vẫn bố phòng ở mặt Bắc phi
trường Biên Hòa, sẵn sàng chiến đấu. Các Toán Thám Sát vẫn được
thả vào Chiến Khu D để do thám, thu nhặt tin tức các hoạt động
của địch.
Trưa ngày 28 Tháng Tư, Trung tướng Nguyễn Văn
Toàn tư lệnh Quân Đoàn III họp tất cả đơn vị trưởng, Chỉ huy
trưởng các đơn vị đang đồn trú ở địa phương. Trong buổi họp,
Trung tướng Nguyễn Văn Toàn thông báo tình hình quân sự tuyệt
vọng ở Quân Khu III, và ra lệnh tất cả các đơn vị rút về phòng
tuyến mới, dọc theo Xa lộ Đại Hàn, Thủ Đức, để bảo vệ Thủ Đô Sài
Gòn. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù là đơn vị rút cuối cùng, có nhiệm
vụ bảo vệ Cầu Biên Hòa, trên Quốc lộ 1, gần ngã ba đường đi vào
núi Bửu Long, để toàn bộ binh sĩ rút qua khỏi cầu này được an
toàn.
Cũng trong ngày hôm ấy, Bộ Tổng Tham Mưu hầu như có
kế hoạch cho trực thăng đến đón các cấp chỉ huy di tản khỏi Việt
Nam. Nhưng đối với Đại tá Huấn thì ông đã từng tuyên bố khẳng
định:
– “Tôi có vợ và 8 con. Tôi có thể bỏ lại gia đình,
nhưng không thể bỏ lại 2 ngàn chiến sĩ của tôi để mà ra đi trong
hoàn cảnh như thế này được.”
Và Đại tá Huấn đã ở lại với
binh sĩ của ông, cho đến giây phút cuối cùng, khi có lệnh buông
súng đầu hàng của tân Tổng thống Dương Văn Minh, Tổng tư lệnh
tối cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ngay trong đêm 28
Tháng Tư, Đại tá Phan Văn Huấn ra lệnh Biệt Đội 812 đến canh giữ
cầu Biên Hòa, để ngăn cản đường tiến quân của giặc cộng, không
cho bọn chúng phá sập. Sáng sớm hôm sau, Liên Đoàn rời khỏi Căn
cứ Hành quân Suối Máu, khi đoàn quân vừa rút qua khỏi cầu, thì
cũng vào lúc đó, qua làn sóng Đài Phát Thanh Sài Gòn đã nghe
được lệnh của Tân Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, người vừa lên thay thế
cho ông Trần Thiện Khiêm, đã đào thoát sang Đài Loan, yêu cầu
toàn thể người Mỹ phải cấp tốc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam
trong vòng 24 giờ. Tin tức này đã gây hoang mang không ít đến
tinh thần chiến đấu của binh sĩ.
Đoàn quân Biệt Cách Nhảy
Dù, theo thứ tự được phân định, từ từ di chuyển trên Quốc lộ 1,
hướng về Sài Gòn. Đến gần xế chiều, khi cánh quân vừa đến Tân
Vạn, thì trời sập tối. Mặc dù, đang đứng trước tình hình bi đát,
Đại tá Phan Văn Huấn vẫn liên tục dùng máy truyền tin liên lạc
nhiều nơi, từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, tới Bộ Tổng Tham Mưu,
cũng như các đơn vị bạn ở địa phương, nhưng hoàn toàn im lặng vô
tuyến, không một ai phản hồi. Như “rắn mất đầu”, Đại tá Huấn ra
lệnh cho Bộ Chỉ Huy và tất cả các Biệt Đội rút vào đóng quân qua
đêm trong rừng Cù Mi, chờ lệnh thượng cấp. Nhưng suốt đêm lặng
lẽ trôi qua, vẫn chẳng có một tín hiệu liên lạc nào cả.
Sáng hôm sau, ngày 30 Tháng Tư, Đại tướng Dương Văn Minh ra lệnh
cho Quân Đội VNCH buông súng đầu hàng. Đại tá Huấn liền cho đơn
vị rời khỏi rừng Cù Mi, băng rừng, vượt đồi, tiếp tục cặp theo
Quốc lộ 1, di hành theo hướng Nam đến quận lỵ Thủ Đức. Trên trục
đường này, Liên Đoàn đã phát hiện, từ hướng Sài Gòn về Biên Hòa,
rất nhiều toán thanh niên chỉ mặc áo lót, quần “xà lỏn”, tay cầm
giấy tờ tùy thân, chạy chân đất hớt ha hớt hải. Chận một vài
người lại hỏi mới biết họ là lính Bộ Binh và Địa Phương Quân, bị
Việt cộng bắt tước vũ khí, cởi bỏ quân phục, mũ nón, giày vớ,
mới thả cho về nhà. Sự kiện này có thể làm cho tinh thần binh sĩ
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù dao động! Tuy nhiên, đây là 1 đơn
vị quân đội thiện chiến và kỷ luật. Tất cả vẫn giữ nguyên đội
ngũ, từ Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đến các Biệt Đội, 4 hàng dọc ngay
hàng thẳng lối chậm rãi bước đi. Từng đoàn xe Molotova, chở đầy
bộ đội Việt cộng chạy song hành, chúng nhìn các Chiến binh 81
Biệt Cách Nhảy Dù với những ánh mắt đầy kinh ngạc, sửng sốt, lạ
lùng.
Là 1 cấp chỉ huy gương mẫu, giữ kỷ luật nghiêm
minh, Đại tá Phan Văn Huấn chấp hành lệnh của Tổng tư lệnh tối
cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi đã họp tất cả các cấp chỉ
huy Liên Đoàn, để cùng đi đến một quyết định chung.
Đoàn
quân 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn hiên ngang tiếp bước trên Xa lộ
Đại Hàn. Đến gần trưa, khi qua khỏi Lăng Chú Hỏa chừng 100 mét,
trong khi dừng lại nghỉ ngơi gần ngã tư Thủ Đức và Xa lộ Đại
Hàn, thì 1 đơn vị bộ đội Việt cộng đã đến gặp Đại tá Phan Văn
Huấn để nhận giao nạp vũ khí. Đại tá Huấn đã nói với họ:
– “Chúng tôi đã ra đến nơi đây là chấp nhận đầu hàng. Chúng tôi
sẽ bàn giao vũ khí, nhưng mong các ông không bắt buộc chúng tôi
phải cởi bỏ quân phục như một số quân nhân các đơn vị bạn đang
chạy qua đây...”
Họ chấp nhận yêu cầu. Thế là từng chiến
binh một tự tước bỏ vũ khí, đạn dược, nón sắt vào điểm chỉ định.
Sau đó, họ ôm choàng nhau, siết chặt nhau, nhiều người đã bật
khóc, để rồi lẳng lặng, ngậm ngùi, chia tay mỗi người mỗi ngả.
Trước 1 đơn vị quân đội hơn 1 ngàn người, giữ kỷ luật, trật
tự cho đến giây phút chót trong đời quân ngũ, quân cộng sản
không thể không tỏ lòng kính trọng và nể phục. Dẫu sao đây cũng
là 1 đơn vị thiện chiến lừng danh mà bộ đội Việt cộng đã từng
kinh hãi, khiếp sợ, kiêng dè trong các trận đụng độ trên khắp
các chiến trường. Nếu bây giờ mà không linh hoạt nhân nhượng để
tỏ ra là “hảo hán anh hùng”, thì chắc rằng họ sẽ phải gánh chịu
thêm 1 tổn thất nặng nề, khi các chiến sĩ Biệt Cách Dù từ bỏ
quyết định buông súng đầu hàng, quyết tử chiến một mất một còn
đến giọt máu cuối cùng với bọn chúng.
Sau đó, 1 cấp chỉ
huy của họ đến gặp Đại tá Huấn, đề nghị để họ cho xe đưa các sĩ
quan của đơn vị về Sài Gòn. Không muốn để cho các sĩ quan của
mình đi thất thểu trên đường về nhà, trên một lộ trình quá xa và
đầy rủi ro, Đại tá đã đồng ý nhận lời.
Vài ba chiếc xe
Molotova được điều đến, tất cả các sĩ quan cùng một số binh sĩ
lên xe. Đến Làng Đại Học Thủ Đức, Đại tá Huấn nghĩ lại, không
thể để sĩ quan của mình vào Sài Gòn bằng xe Molotova của địch.
Việc ấy có thể gây hiểu lầm và cũng không vẻ vang gì cho kẻ đầu
hàng. Do đó, Ông yêu cầu dừng lại, các sĩ quan, binh sĩ rời khỏi
xe, cùng ôm chặt lấy nhau lần cuối, rồi tự động tản hàng, với
nỗi đớn đau ê chề bất tận.
Vậy là chấm dứt 20 năm quân
ngũ, một đời chiến đấu vì Dân vì Nước của ông thầy tôi. Tôi
không thể không nói đôi lời, tỏ bày lòng cảm mến của tôi đối với
ông thầy:
“Đại tá Phan Văn Huấn, xuất thân Khoá 10 Võ Bị
Đà Lạt, là 1 sĩ quan kỷ luật, tài ba, gặt hái nhiều chiến công
trong cuộc đời 20 năm cầm súng chiến đấu. Liên Đoàn 81 Biệt Cách
Nhảy Dù đánh giặc giỏi, áp dụng nhiều chiến thuật thích ứng với
chiến trường Việt Nam, bách chiến bách thắng, đến tới đâu đồng
bào hoan hô, ngưỡng phục tới đó, cũng là nhờ ở Đại tá. Không có
Đại tá Phan Văn Huấn, Biệt Cách Nhảy Dù không chắc đạt được các
chiến thắng vang dội ấy trên khắp mọi chiến trường, ở thành phố
cũng như trong các mật khu của địch.
Điều đáng nói hơn
nữa là tấm lòng của Đại tá đối với anh em binh sĩ. Đại tá quí
trọng mạng sống của họ như của chính ông. Một đơn vị dù lớn hay
nhỏ, hành quân thất lạc trong rừng bao nhiêu ngày đêm, là bấy
nhiêu đêm ngày Đại tá trằn trọc không ngủ yên.
Đại tá là
1 sĩ quan liêm khiết, trong sạch, tôn trọng quyền lợi của binh
sĩ. Đại tá quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của từng
người lính, luôn luôn nghĩ đến họ, làm cách nào để họ có một đời
sống vui tươi, nghỉ ngơi sau những ngày hành quân mệt nhọc mà
vẫn văn ôn võ luyện. Những ngày dưỡng quân là những ngày nghỉ
ngơi nhưng cũng là những ngày tái huấn luyện cho thuần thục các
khả năng tác chiến đặc biệt của người lính Biệt Cách Nhảy Dù.
Cái giá mà Đại tá Phan Văn Huấn phải trả cho 20 năm chiến
đấu cho dân tộc và đất nước là 13 năm tù cải tạo khổ sai ở Việt
Bắc.
Đời sống ông thầy tôi và gia đình sau những năm tù
trở về khá đạm bạc, nếu không nói là quá thiếu thốn, cơ cực bên
cạnh một đàn con 8 đứa, bởi vì ông không có gì để lại cho vợ con
khi ông bước chân vào vòng lao lý.
Hễ mỗi lần đến thăm
ông, nhìn tấm thân tiều tụy, đau đớn vì bị những vết thương
chiến trận đang hành hạ, mà điển hình vào 1 dịp đến viếng thăm,
trong lúc trò chuyện thì cơn đau của ông bộc phát dữ dội, ngay
lúc đó chính tôi và Bác sĩ Trắc, cựu y sĩ Liên Đoàn, đã cấp tốc
nâng bồng ông từ trong nhà ra xe hơi của Bác sĩ Trắc, để cùng
đưa ông đi cấp cứu ở bệnh viện Chợ Rẫy. Lòng yêu kính ông trong
tim tôi như dâng trào. Tôi không khóc, nhưng có cái gì đó đã đè
nặng trong thâm sâu đáy lòng, chỉ chực chờ là bộc phát.
Tôi cảm thấy hãnh diện vì ông: Đại tá Phan Văn Huấn, là cấp chỉ
huy mà tôi đã được phục vụ, trong suốt quãng đời binh nghiệp,
trong 1 đơn vị kiêu hùng, thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa đó là: Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù”.
2.
Tại hậu cứ An Sương
Là 1 cấp chỉ huy tác chiến,
đã từng ở đầu tên mũi đạn, sau khi bàn giao Biệt Đội để trở về
hậu cứ trong trách vụ mới, với 1 thời gian còn quá ngắn, tôi khó
mà quên được việc “điều binh khiển tướng” giữa các chiến trường
phong ba bão táp thuở nào. Vì thế, đứng trước tình hình rối ren
quá ư bi đát đang diễn tiến từng giờ từng ngày một của đất nước,
tôi đã dành hết tâm sức, khả năng, kinh nghiệm để hợp sức cùng
Thiếu tá Trần Quang Huế, chỉ huy hậu cứ lo tổ chức phòng thủ
doanh trại, tung các toán tiền đồn, lập các công sự tại ngã tư
An Sương chờ giặc đến, ngăn chận và tiêu diệt chúng, không để
cho chúng tiến công vào Sài Gòn một cách ngang nhiên.
Bên
cạnh các vị trí phòng thủ đã có sẵn của Trung Tâm Huấn Luyện
Quang Trung ở ngã ba Trung Chánh, dọc theo Quốc lộ 1 và trên Xa
lộ vòng đai Đại Hàn, Biệt Cách Nhảy Dù đặt thêm các tổ đại liên
60, M72, đại bác, và súng cối. Trong khi chúng tôi đang tổ chức
phòng thủ, binh sĩ của Sư Đoàn 25, binh sĩ cũng như khoá sinh
của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung rút chạy về đây thiếu trật
tự, không cấp chỉ huy. Một số họ dừng lại đây, tự động cùng tổ
chức phòng thủ bên cạnh chúng tôi. Lòng yêu nước và tự ái của
người lính VNCH không cho họ rút về xa hơn nữa.
Ngày 29
Tháng Tư, 6 xe tăng T54 Việt cộng từ hướng Củ Chi hàng một trên
Quốc lộ 1 tiến đến, nghênh ngang như chỗ không người. Khi đến
gần ngã tư An Sương, từ phòng tuyến của hậu cứ Liên Đoàn, 2 hỏa
tiễn M72 bay vụt tới, bắn đứt xích chiếc đi đầu, chiếc xe tăng
bị quay nằm ngang. Quân cộng sản từ các xe tăng phía sau nhảy
xuống xe bố trí hai bên đường. Bọn chúng bắn ầm ĩ, loạn xạ, vừa
trung liên, B40, B41, và AK47 vào các công sự, các ổ kháng cự
nằm trải dài hai bên đường, và vào cả Khu Gia Binh của Biệt Cách
Dù, nằm ngay hai góc của ngã tư An Sương. Các chiến sĩ Biệt Cách
Nhảy Dù và lực lượng bạn vẫn cố thủ, đại liên, M79, không ngớt
bắn vào đám địch quân, đang cố tìm cách mở đường cho chiến xa
của chúng tiến lên, xác địch rơi rớt trên Quốc lộ 1 không phải
là ít, các xạ thủ M72 bắn cháy thêm 1 T54 ngay ngã tư đường Xa
lộ Đại Hàn và Quốc lộ 1, những quả kế tiếp chẳng mang lại kết
quả, nhưng dẫu sao cũng chận đứng được phần nào bước tiến quân
của địch trên đường tiến vào thủ đô Sài Gòn.

Một
số công sự chiến đấu bị đại bác xe tăng địch tác xạ tiêu hủy,
nhiều xác chết của quân bạn bị văng ra nằm ngổn ngang bên vệ
đường. Xe tăng của địch tiến lên, càn lên các công sự, binh sĩ
bạn rút chạy hoảng loạn, địch càng lúc càng bắn phá dữ dội bất
kể là nhà dân chúng. Hỏa lực đại bác trên các chiến xa của địch
quá mạnh và địch quân mỗi lúc mỗi đông, buộc lòng chúng tôi phải
rời bỏ vị trí chiến đấu bên ngoài, để vào cố thủ trong doanh
trại Liên Đoàn. Trong khi đó, 1 xe Jeep chở một vài quân nhân,
từ trong hậu cứ Liên Đoàn phóng ra, vừa quẹo trái hướng về Sài
Gòn, 1 xe tăng của địch quay nòng đại bác bắn theo, chiếc xe
Jeep trúng đạn, bay tung lên, hai, ba binh sĩ trên xe đều tử
trận.
Sáng hôm sau 30 Tháng Tư, xe tăng, bộ đội địch, và
du kích địa phương đã dốc toàn lực, đánh vào các ổ kháng cự còn
lại trong và ngoài hậu cứ Liên Đoàn. Trên Xa lộ Đại Hàn, quân
trang, quân dụng của tân binh quân dịch Trung Tâm Huấn Luyện
Quang Trung, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân tháo chạy đã bỏ lại đầy
rẫy trên mặt đường. Đứng trước tình thế tồi tệ này, tôi dẫn số
binh sĩ còn lại, phá rào đằng sau, rút về hướng Sài Gòn. Vượt
qua cầu Tham Lương, đến hãng dệt Vinatexco, gặp 1 Tiểu Đoàn Nhảy
Dù đang bố trí tại đây, tôi ra lệnh cho binh sĩ dừng lại, hợp
tác phòng thủ cùng với họ. Nhưng không lâu sau đó, nghe lệnh Đại
tướng Dương Văn Minh kêu gọi, toàn thể quân nhân buông súng đầu
hàng. Tất cả đều rụng rời, nhìn nhau trong nghẹn ngào, uất hận,
xong tự động tan rã.
Trên đường về nơi tạm trú của một
người bà con ở Quận Tư, Khánh Hội, nghĩ tới 9 năm đời Quân Ngũ,
vào sinh ra tử bao nhiêu lần, chưa bao giờ tôi chùn bước, khuất
phục trước quân thù. Vậy mà giờ này...
3. Món nợ còn lại
Ngày 30 Tháng Tư, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn còn các
Toán Thám Sát đang hoạt động trong Chiến Khu D. Tất cả các
phương tiện liên lạc, truyền tin cũng như trực thăng đều không
còn. Tuy nhiên, các Toán Thám Sát vẫn tiếp tục sứ mệnh của mình.
Lần hồi, lương thực hết, thời hạn hoạt động của các toán
cũng đã chấm dứt, lại thêm mọi sự liên lạc với Bộ Chỉ Huy đã bị
cắt đứt, các Toán Thám Sát tự động triệt xuất khỏi mật khu, theo
phương cách mưu sinh thoát hiểm.
Ngày 5 tháng 5, 1975, 2
Toán Thám Sát lần ra đến ấp Thái Hưng, xã Đại An, quận Tân Uyên
để tìm hiểu tình hình, họ được quần chúng cho biết quân đội Miền
Nam đã buông súng đầu hàng, vậy là họ cùng ra đầu hàng. Nhưng
bọn Việt cộng đã ra tay tàn sát hết tất cả, rồi mang xác thả
trôi sông. Cho dù họ đã hy sinh, nhưng khí tiết, tinh thần chiến
đấu bất khuất, kiêu hùng của họ, vẫn mãi mãi sáng ngời trong
trang sử 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
Về sau này, vào năm 1995,
Liên Đoàn đã đưa người về lại ấp Thái Hưng, xã Đại An, để tìm
cách di dời mộ phần các tử sĩ, nhưng không thực hiện được, trong
dịp này, qua trò chuyện tìm hiểu với các cư dân nơi đây thì được
biết bọn giặc cộng đã bắn chết 12 người, một số đem thả trôi
trên sông Bé, số còn lại bọn chúng mang chôn trong 1 cái giếng
đã bỏ hoang lâu năm.
Ngày 7 và 8 Tháng Năm, 1975, Toán
Thám Sát của Chuẩn úy Phương, Biệt Đội 815 và Toán Thám Sát của
Chuẩn úy Nguyễn Minh (hiện đang định cư tại Dorchester, MA), rút
ra khỏi Chiến Khu D, đã lần ra ấp Thái Hưng nhưng may mắn, 2
toán đã được dân chúng vào rừng làm nương rẫy, báo tin chính
quyền VNCH không còn nữa, Đại tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh
buông súng đầu hàng, nên sau khi 2 toán đã giao nạp vũ khí, bọn
Việt cộng có lẽ sau khi tàn sát 2 Toán Thám Sát trước, đã bị
đồng bào địa phương bàn tán xôn xao, nên với 2 toán này, bọn
chúng chỉ bắt đưa vào trại tù gọi là “cải tạo”.
Ngày 9
Tháng Năm, 1975, Toán Thám Sát cuối cùng của Chuẩn úy Lê Xuân
Hiền, Biệt Đội 812 (hiện đang định cư tại Annaheim, CA), rút ra
khỏi Chiến Khu D, khi gần đến ấp Thái Hưng, toán này cũng nhờ
qua thông tin của người dân trong vùng, nên thấu đáo tình hình,
họ cải trang thường dân để bôn đào, nhưng bị bọn dân quân du
kích tại đây phát hiện, bắt giải giao cho chính quyền Việt cộng,
rốt cuộc toán cũng bị bọn địch bắt đưa đi tù khổ sai ở trong
trại tù Bình Sơn, nơi rừng sâu nước độc cùng với 2 Toán Thám Sát
trên.
Âu đó cũng là số phận chung của toàn thể Quân Cán
Chính VNCH sau ngày mất nước.
Tàn cơn binh lửa
Sau
khi quân thù giặc Cộng đã cưỡng chiếm miền Nam, vẫn còn những
người lính Biệt Cách Nhảy Dù hoạt động trong lòng địch, họ chiến
đấu cô đơn, âm thầm, để hoàn thành sứ mạng thượng cấp giao phó,
dù thượng cấp đã không còn ai và cũng không ai còn để cho họ
được nhắc lại lần cuối cùng câu tâm niệm: “Tổ Quốc–Danh Dự–Trách
Nhiệm.”
Không ít người đã hy sinh vào giờ thứ 25
Đó là món nợ những người còn sống phải trả cho họ.
Cho dù
sau hơn 43 năm cuộc chiến đã trôi qua và cũng đang dần dần chìm
vào quên lãng theo với dòng chảy của thời gian, nhưng, đối với
những chiến binh cầm súng chiến đấu để tiêu diệt quân thù, bảo
vệ Tổ Quốc, những chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù đã vào sinh ra tử
trên khắp các chiến trường, mật khu, căn cứ địa của địch, thì đó
là 1 vết thương nặng, sẽ mãi mãi âm ỉ cháy bất tận trong đáy
lòng họ. Bởi vì, có biết bao đồng đội, chiến hữu của họ đã hy
sinh, đã trở thành phế binh, đang sống cuộc đời còn lại trong
tận cùng đau thương, khốn cùng, và tủi nhục. Bởi vì, chính họ đã
dâng hiến tuổi trẻ, xương máu, mạng sống, để bảo vệ tiền đồ Tổ
Quốc, nhưng cuối cùng, họ phải đành buông súng đầu hàng, trở
thành kẻ chiến bại trước 1 bọn người vong bản, vô thần, và vô
nhân tính.
Trong cuộc sống lưu vong nơi đất khách quê
người, cứ mỗi lần tình cờ, coi lại những tấm ảnh cũ trong đời
binh nghiệp, với Bộ Áo Hoa Rừng ngụy trang, với Chiếc Nón Xanh
huyền thoại, với bảng Phù Hiệu Con Đại Bàng khạc lửa, sải rộng
cánh, bung móng vuốt tung hoành, tôi cảm thấy tự hào, hãnh diện
vì mình đã từng được chiến đấu trong 1 đơn vị thiện chiến, hào
hùng:
“Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.”
Nhưng rồi,
kèm theo đó, 1 niềm xúc cảm lạnh buốt, từ từ lan rộng khắp cùng
trong cơ thể tôi, trước mắt tôi hình ảnh những vị anh hùng tử sĩ
như:
– “Lê Như Tú,
– Nguyễn Văn Tùng,
– Từ Bá Thọ,
– Hoàng Xuân Cường,
– Đặng Thiện Chẩn,
– Trần Phụng Tiển,
– Lương Hữu Yên,
– Lưu Huyên,
– Nguyễn Ích Đoan,
– Mã
Thế Kiệt,
– Phan Ngọc Trường,
– Trịnh Văn Huỳnh,
–
Nguyễn Quang Khánh,
– Phạm Văn Cứ,
– Khưu Công Quí,
–
Nguyễn Phiêu,
– Nguyễn Văn Thủy,
– Mai Xuân Hùng,
–
Nguyễn Văn Dục,
– Nguyễn Kim Long,
– K. Tông,
– Đỗ
Nguyên Sanh,
– Nguyễn Văn Hòa,
– Nguyễn Hữu Lộc,
– Phạm
Viết Khải,
– Nguyễn Văn Thích,
– Nguyễn Xuân Ánh,
–
Trần Ngọc Bửu,
– Vũ Huy Cần,
– Trương Cự Chính,
–
Nguyễn Văn Chuyên,
– Phạm Văn Chuyên,
– Trần Thanh Đồng,
– Nguyễn Văn Giỏng...”, và còn còn nữa.
Làm sao kể hết,
cứ lần lượt hiện về. Họ nhìn tôi trong nỗi buồn cảm thông, nhưng
không thiếu sự trách móc, khi tôi vẫn còn sống sót mà không bảo
vệ được Tổ Quốc, mà không trả được món nợ máu mà quân thù đã
mang đến cho họ: những đồng đội, chiến hữu của tôi.
“...
Tôi cũng biết...
Dù các anh đã chết...
Nhưng nỗi căm hờn
còn mãi ở tâm linh,
Xin một mai khi Đất Mẹ thanh bình,
Tôi
sẽ lấy máu quân thù tô vào nơi mộ chí!”
Và... đó cũng
chính là món nợ mà tôi, 1 chiến binh 81 Biệt Cách Nhảy Dù còn
sống đang, và sẽ phải tiếp tục trả cho họ.
“Là
người lính Biệt Cách Dù,
Chưa bao giờ sợ mình cô đơn trong
chiến đấu.
Nhưng tại sao bây giờ,
Lại sợ mình che giấu nỗi
niềm riêng!
Sợ phải cưu mang bao nỗi muộn phiền!
Sợ phải
sống trong triền miên khiếp sợ?”
HẾT
BCD Lê Đắc Lực

Cont’d: 1ời bạt...
nguồn: hội quán phi dũng
Local links:
Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục
HẾT


Lời Bạt
Đọc tác phẩm “TÀN CƠN BINH LỬA” của Cựu Đại uý BCD, LÊ ĐẮC LỰC.
–Kha Lăng Đa.
***
Tôi rất
hân hoan khi nhận được tác phẩm “Tàn Cơn Binh Lửa” của Cựu Đại
uý BCD Lê Đắc Lực gởi tặng tôi. Dù bận nhiều công việc gia đình
và giáo xứ chuẩn bị đón mừng ngày đại lễ Giáng Sinh năm 2014,
nhưng tôi vẫn dành thì giờ để đọc tác phẩm của Lực – người bạn
nhiều cảm mến của anh em tôi.
Thật tình mà nói, chuyện kể
của BCD Lê Đắc Lực có sức hấp dẫn khiến tôi đọc không ngừng,
đọc... ngấu nghiến qua lời văn trong sáng, giản dị, chân thành
và rất... lính! Người lính BCD. Lê Đắc Lực với thân hình cường
tráng, hùng dũng, hiên ngang, từ một thư sinh xếp bút nghiên đi
đáp lời sông núi. Chàng trai thời loạn này luôn tự nhủ với lòng
mình:
Làm trai cho đáng nên trai,
Xuống Đông, Đông
tĩnh, lên đoài, đoài tan.
Vì vậy nên anh đã tình nguyện
đầu quân vào Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt khi mãn Khoá 24 SVSQ
Trừ Bị – Thủ Đức.
Lực đã hoàn thành nhiệm vụ của Cấp chỉ
huy Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, Biệt đội trưởng, anh và
đồng đội quá gan dạ, dũng cảm, bất chấp mọi hiểm nguy qua các
trận: Chiếm lại Đài Phát Thanh Nha Trang trong Tết Mậu Thân (Đợt
1), Trận nhảy vào Mật khu A–shau, Trận Chợ Cây Quéo, Chợ Cây Thị
(Mậu Thân Đợt 2), Trận Đồng Xoài, Trận nhảy vào Chiến khu Ba
Lòng, trận Đức Cơ, Trận Mật khu An Lão, Chiến Trường Tam Biên,
Trận An Lộc, Trận Cổ Thành Quảng Trị, Trận Bến Thế – Bình Dương,
Trận Xóm Đạo Tha La (Trảng Bàng – Tây Ninh), Trận Tân Phú Trung
(Hóc Môn), Chiến khu D, Mật khu Mây Tào, Trận Phước Long. Tôi
thấy được và khâm phục ý chí quyết chiến, quyết thắng của Tiểu
Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù (Sau là Liên Đoàn 81 BCND), một đơn vị
thiện chiến, đa năng, đa hiệu với đặc tính chiến thuật là thám
sát, phản du kích, và trận địa chiến. Nhờ hiểu được địch tình do
những toán thám sát 6 người (2Mỹ+4Việt) đã xâm nhập vào Mật khu,
sào huyệt của VC để thu lượm tin tức, bắt sống địch làm tù binh
để khai thác nên đơn vị đánh đâu thì thắng đó! Đúng như Binh Thư
Tôn Tử có câu “Biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng”.
Sở trường của Biệt Cách Dù là đánh ban đêm, tạo yếu tố bất
ngờ để diệt địch. Đơn vị lại được chỉ huy bởi Đại tá Phan văn
Huấn – một Cấp chỉ huy, lãnh đạo tài đức vẹn toàn. Ông đã giỏi
về chiến thuật mà còn có óc sáng tạo. Trong tận An Lộc, ông đã
dùng đạn lép của Pháo Binh chế thành mìn chống chiến xa đạt hiệu
quả tối đa, đã diệt được 10 xe tăng của VC và toán đặc công của
địch theo sau xe tăng cũng bỏ mạng.
Một chiến thuật độc
đáo của BCD là gọi súng cối tác xạ 10 quả liên tục để diệt chốt
địch. Khi chiến sĩ BCD đã đến gần mục tiêu, súng cối (được mật
báo trước), bắn 7 quả đạn nổ và 3 quả đạn sau cùng thì bắn đạn
lép. Địch nghe tiếng “depart” của súng cối thì ẩn núp, không dám
ngoi đầu lên. Lợi dụng thời khắc của 3 quả đạn lép, chiến sĩ BCD
tiến lên, tiếp cận và ném lựu đạn diệt chốt. Tôi thấy vui vui
với chiến thuật này là khôi hài gọi đó là “Chiến thuật 7 nổ 3
lép”. Lối đánh của BCD rất khôn khéo, mưu lược. Nếu không biết
được vị trí các chốt bố phòng của địch thì họ dùng “Chiến Thuật
Tấn Công Giả” để “nhử” cho địch nổ súng kháng cự. Nhờ vậy mà họ
biết được địch quân bày trận tuyến như thế nào, vị trí các chốt
phải diệt như trong trận Tân Phú Trung – Hóc Môn, BCD đã diệt
chốt bằng chiến thuật “Bảy nổ 3 lép”.
Nơi nào chiến
trường sôi động, áp lực địch quá nặng nề thì Bộ Tổng Tham Mưu
QLVNCH điều động LĐ81BCND đến để tăng cường, giải quyết chiến
trường. Họ đã đem lại cho QLVNCH nhiều chiến thắng vinh quang.
Đoàn quân tinh nhuệ 81BCND được tuyển mộ sau thời gian thụ
huấn ở các quân trường, khi về đơn vị, họ lại được huấn luyện
đặc biệt về võ thuật, chiến thuật, và chiến tranh chính trị (học
cách cư xử với nhân dân...). Đối với đồng đội. họ khắng khít yêu
thương nhau, đồng tâm, nhứt trí trong tình “Huynh đệ chi binh”.
Nhờ biết đối đãi tối với dân bằng tình “Quân Dân Cá Nước”
trong vùng hành quân nên dân chúng đã cung cấp cho họ nhiều tin
tức về địch quân như trong trận Xóm đạo Tha La. Khi chiến thắng
trận Chợ Cây Quéo, Cây Thị, trận Bến Thế – Bình Dương, chiến sĩ
BCD được nhân dân chào đón hai bên lề đường và tặng quà cho họ.
Nói về “Người Anh Cả” của LĐ81BCND là Đại tá Phan văn Huấn
thì yêu thương anh em thuộc cấp và binh sĩ như tình huynh đệ.
Khi BCH 1 Chiến Thuật và Biệt Đội 811 và 814 bị mất liên lạc ở
trận Phước Long, ông đã mất ăn, mất ngủ, và đã ngồi trên phi cơ
L19 bay quan sát trên vòm trời Phước Long. Qua 2 ngày, 2 đêm,
ông mới liên lạc được với BĐ814 do BCD Lê Đắc Lực chỉ huy vượt
sông Dak–Lung, băng rừng đi về phía Đông Đông–Bắc. Ông đã hướng
dẫn đàn em đến một trảng tranh giữa rừng để gọi phi cơ trực
thăng đến bốc tất cả về căn cứ Hành Quân của LĐ81BCND ở Suối Máu
– Biên Hoà.
Luôn nghĩ đến số phận không may của nhân dân
khi đơn vị hành quân tái chiếm những vùng bị VC chiếm đóng, để
tránh sự thiệt hại nhân mạng và tài sản của dân lành, ông đã ra
lệnh cho đơn vị không dùng pháo binh nặng như 105, 155ly để yểm
trợ mà chỉ dùng chiến thuật sở trường của đơn vị và súng cối
60ly, 81ly để diệt chốt địch. Do đó mà 81BCD có những tay thiện
xạ súng cối như Trung uý Trần Duy Bình, Đại đội trưởng Đại Đội
2, Trung uý Cao Kỳ Sơn và Trung sĩ Đỗ Đức Thịnh bắn súng cối
mười quả trúng mục tiêu đủ mười quả!
Trước ngày
30/4/1975, Bộ TTM có kế hoạch di tản các Cấp chỉ huy rời khỏi
Việt Nam, nhưng ông nhứt quyết không đi, ông ở lại với anh em
đến giây phút cuối cùng. Để trả giá cho quyết định: “trọn tình,
trọn nghĩa” với anh em 81BCND, ông đã bị VC giam cầm và lao động
khổ sai 13 năm trường trong ngục tù cộng sản ở miền Bắc.
Riêng tác giả của “Tàn Cơn Binh Lửa” thì khi nhận chức vụ Trưởng
Khối Chiến Tranh Chính Trị, anh đã nhiệt tình, chăm lo cải thiện
đời sống của anh em chiến sĩ BCD, lo cho đời sống của cô nhi,
quả phụ, và cựu quân nhân BCD có chỗ làm việc để sinh sống.
Qua những thành tích mà BCD Lê Đắc Lực đã đạt được, anh thật
xứng đáng được nhận lãnh danh hiệu “Chiến sĩ xuất sắc” nhân ngày
Quân Lực 19/6/1974 và xứng đáng được Tổng thống ân thưởng “Ưu
Dũng Bội Tinh” sau trận triệt hạ “Mật khu Mây Tào” cho một chiến
sĩ đã nhiều phen vào sanh ra tử với 16 Anh Dũng Bội Tinh các cấp
và 4 Chiến Thương Bội Tinh. Anh là một sĩ quan của QLVNCH, văn
võ song toàn.
Đọc “Tàn Cơn Binh Lửa”, tôi có cảm tưởng
mình đang xem phim “Combat”. Tôi ngậm ngùi thương anh em chiến
sĩ BCD đã hy sinh trong nhiều trận khốc liệt, nhứt là trận An
Lộc mà cô giáo Pha bị thương, được các chiến sĩ BCD cứu chữa,
hàng ngày, nhìn thấy các anh đắp mộ cho anh em tử sĩ dưới lằn
mưa đạn của địch quân, khói lửa mịt mù, cô đã xúc cảm sáng tác
hai câu thơ:
“An Lộc Địa, Sử Ghi Chiến Tích
Biệt Cách
Dù Vị Quốc Vong Thân!”
Tôi rất đau đớn khi biết được VC
đã giết 2 toán Thám Sát BCD bị kẹt trong Chiến khu D sau ngày
30/4/1975 ra hàng, bị VC giết tất cả, thả trôi sông và ném xác
xuống giếng hoang. Vậy mà chúng đã rêu rao chính sách “khoan
hồng nhân đạo”, “đánh kẻ chạy đi chớ không đánh người chạy lại”.
Sau đó, 2 toán còn lại ra trình diện, chúng đưa vào trại tù chớ
không sát hại nữa vì chúng sợ bị nhân dân phẫn uất.
Tác
phẩm “Tàn Cơn Binh Lửa” đã ghi lại chứng tích tội ác của VC đã
pháo kích giết dân lành chạy giặc trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”,
trong trận “Cổ Thành Quảng Trị” và hai bên đầu cầu Thác Mơ trong
trận chiến Phước Long. Tác phẩm cũng đã ghi lại bằng chứng vi
phạm Hiệp Định Paris của VC.
Tôi ngậm ngùi, xót thương
cho 2 em bé 6, 7 tuổi, (con của Trung sĩ Hà Văn Hiến, phục vụ
tại Tiểu Khu Bình Long) tên Hà thị Loan và Hà thị Nở được đơn vị
BCD cứu thoát khỏi một cái hầm dưới chân đồi Đồng Long sau 2
tháng trường ẩn trốn trong hầm, chịu đói khát đến nỗi thân hình
chỉ còn da bọc xương, quần áo rách tả tôi, bẩn thỉu. Mẹ của 2 em
đã cõng đứa em trai 4 tuổi, dẫn 2 em chạy giặc. Chẳng may bị đạn
pháo kích của VC, mẹ của 2 em chết tại chỗ, đứa em trai bị
thương ở chân. Hai em đã thay phiên cõng đứa em trai chạy đến
cái hầm ấy. Đứa em trai chết trong đêm đó. Hai em không chôn
được xác nên để trong hầm đến rục rã. Nhờ lượm được mấy bao gạo
xấy, 2 em ăn qua ngày. Khi hết gạo, chờ ban đêm im tiếng súng, 2
em ra ngoài kiếm rau cỏ mà ăn. Hai em được đưa về Bộ Chỉ Huy
Hành Quân, giao cho Ban Quân Y của Bác sĩ Nguyễn Thành Châu khám
và chữa bệnh. Năm 1973, hai em được Tổng Cục CTCT đưa lên Đài
Phát Thanh thuật lại chuyện gian khổ, đói khát, và hãi hùng của
2 em. Đến năm 1974, hai em được một người Mỹ nhận làm con nuôi
và hiện đang sống tại Hoa Kỳ. Đó là một cảnh đau lòng của “tử
biệt sanh ly” trong muôn ngàn hoàn cảnh khác do VC gieo rắc cho
nhân dân, đến đâu chúng cũng dùng nhân dân làm bia đỡ đạn cho
chúng.
Tác giả đã kể lại các trận đánh có sự kiểm chứng
của các chiến hữu, các Cấp chỉ huy của các đơn vị liên hệ, Chỉ
huy trưởng LĐ81BCND nên tập hồi ký được trung thực, có tính chất
tài liệu như những trang Quân sử hào hùng của LĐ81BCND và để bổ
sung cho Quân Sử VNCH. Đó là giá trị cao quý của tác phẩm “Tàn
Cơn Binh Lửa” của BCD Lê Đắc Lực.
ĐỌC THƠ CỦA LÍNH DÙ LÊ
LỘ ĐỨC
Người chiến sĩ mũ xanh Lê Đắc Lực lại là một nhà
thơ (Lê Lộ Đức). Lời thơ của anh là tiếng lòng xuất phát từ con
tim yêu Tổ Quốc, yêu quê hương, yêu thương anh em đồng đội, và
người yêu ở hậu phương ngày tháng mong chờ. Một quân nhân luôn
đề cao Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm như anh đã mang nặng tình
cảm, ý chí quyết chiến quyết thắng, vì chính nghĩa Quốc Gia, ra
đi không hẹn ngày trở lại. Anh đã không ngần ngại cho người yêu
biết trước con đường sinh tử của người chiến sĩ phải đi qua:
Có thể một ngày gần đây em sẽ rõ
Khi quê hương đã sạch
bóng quân thù
Trong nghĩa trang giữa những hàng bia mộ
Có
tên anh...
Một Biệt Cách Dù đã vị quốc vong thân.
Trong bài thơ “Chân dung Chiến Sĩ 81 Biệt Cách Dù”, những câu
đầu, anh đã giới thiệu lòng quả cảm, chí hy sinh, xem thường cái
chết của Chiến Sĩ Biệt Cách Dù, đã dâng hiến cả đời mình cho đất
nước:
Khi nói về người lính 81 Biệt Cách Dù,
Chúng ta
không thể nào không nghĩ đến,
Lòng quả cảm, sự hy sinh vô bờ
bến,
Trọn cả cuộc đời dâng hiến quê hương,
Họ hiên ngang
trên khắp các chiến trường,
Coi cái chết tựa lòng hồng, rất
nhẹ!
Trong cuộc sống lưu vong ở hải ngoại sau ngày quốc
hận đau thương, anh vẫn khẳng định lập trường vì nước vì dân,
nuôi chí căm thù, mong rửa hận cho non sông.
Biệt Cách Dù
sống chỉ vì lý tưởng,
Trách nhiệm chưa thành, há lẽ khoanh
tay,
Giờ đã điểm, hãy vươn mình đứng dậy,
Giương cờ vàng
Chính Nghĩa Quốc Ga,
Hãy chung vai quyết lấy lại sơn hà,
Hãy lần nữa viết thêm trang sử mới,
“Việt Nam sử ngàn năm ghi
chiến tích,
Biệt Cách Dù đã vị quốc vong thân”.
–(Chiến sĩ
kiên cường)
Chí anh hùng nung nấu, chiến sĩ Biệt Cách Dù
bền lòng trung dũng trong kiếp sống tang bồng, ngang dọc, vượt
núi, băng rừng, truy thù, diệt địch để trả nợ non sông. Nghe
danh Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, quân địch phải khiếp đảm,
kinh tâm!
Địch khiếp sợ trước uy danh lừng lẫy,
Chúng
kinh hồn, người lính chiến mũ xanh,
Hùm thiêng một cõi tung
hoành,
Dấu chân Biệt Cách lưu danh muôn đời!
–(Họ là ai)
Trong bài “Tiếc thương” để tưởng niệm các chiến sĩ 81BCD đã
anh dũng hy sinh tại Chiến khu D, anh đã viết bài thơ qua nước
mắt nhạt nhoà khi nghe tiếng chuông từ giáo đường vọng lại:
Anh vẫn nhớ
Mới ngày nào đó, anh còn trông đủ mặt
Nét
môi cười rạng rỡ buổi liên hoan
Các em ra đi, anh tiếc nuối
vô vàn!!!
Trong hoang vắng, thấy như mình cô độc.
Để
kính dâng hương linh các anh hùng tử sĩ của QLVNCH đã hy sinh vì
Tổ Quốc, lời thơ của anh như lời than cùng Mẹ Việt Nam. Trong
cuộc chiến huynh đệ tương tàn, biết bao người đã nằm xuống trong
cảnh điêu tàn, đổ nát của quê hương. Rốt cuộc, anh phải mang
thân phận một bại binh:
Tay buông súng mà máu trào thành
lệ,
Cuối tháng Tư buồn, tang chế đêm đen.
Nhưng qua
bao năm dài sống lưu vong nơi hải ngoại, anh luôn hướng về Mẹ
Việt Nam với trăm nghìn nỗi nhớ thương và nuôi ý chí quang phục
quê hương:
Kính thưa mẹ, con là con của mẹ
Ba mươi năm
dài phiêu bạt tha phương,
Trong lòng con dào dạt một tình
thương
Dành cho mẹ với trăm ngàn nỗi nhớ!!!
Con đã sống,
đã qua nhiều trăn trở,
Phải diệt sạch giặc thù, quang phục
quê hương
Đời của con chỉ có một con đường,
Cho dù chết để
rửa hờn sông núi.
Trở về những ngày tháng của thuở “Anh
tiền tuyến, em hậu phương”, Chiến sĩ BCD Lê Đắc Lực đi làm kiếp
trai hùng, đã ước hẹn buổi tao phùng với người em gái hậu phương
Lê Thanh Hà:
Phải đứng lên,
Hai cánh tay này xin trao
đất nước,
Tiêu diệt giặc thù, xoá sạch điêu linh,
Một mai
quê mẹ thanh bình,
Anh, em chung lối trọn tình trăm năm.
Trong chuỗi ngày sống lưu vong nơi xứ lạ quê người, anh đã
mang nặng nỗi ưu tư cho thân phận mình với hình ảnh quê hương,
cố quốc xa vời bên kia nửa vòng trái đất:
Chiến trường
xưa, kiếp chinh nhân,
Phong trần lửa đạn, bước chân quân
hành.
Phù du, đời cũng trôi nhanh,
Mơ tìm lối thoát mong
manh mây trời.
Đã qua một nửa đời người,
Lời thề non nước
ngậm ngùi dở dang.
–(Thân phận)
Luôn giữ khí tiết và giữ
danh dự của màu cờ sắc áo, người chiến sĩ BCD trong hoàn cảnh
nào cũng luôn đối diện với lương tâm, không làm điều ô nhục để
tủi vong linh các vị anh hùng tử sĩ và luôn giữ trong tim hình
ảnh đẹp của nếp sống oai hùng:
Qua cuộc chiến, màu áo
rừng duyên nợ,
Sống chết oai hung, sát cánh bên nhau.
Chiếc Nón Xanh huyền thoại ngẩng đầu cao,
Hoa dù nở giữa trời
xanh lộng gió.
............
Đời Biệt Cách
Cưu
mang nhiều hoài bão,
Dâng hiến đời, vì Tổ Quốc hy sinh,
Sống hiên ngang, chết cũng phải liệt oanh,
Không hèn nhát,
không đầu hàng trốn chạy.
–(Nỗi niềm)
Ý chí kiêu hùng,
bất khuất vẫn luôn sống trong tâm khảm của người chiến sĩ BCD:
Có phải các anh?
Những người lính Biệt Cách Dù
Là
những anh hùng trong trận chiến
Là hùm thiêng, là nanh vuốt
Thần Điêu
Chỉ chiến thắng, chẳng bao giờ chiến bại.
Những người chiến sĩ can trường 81 BCD đã đem máu thắm viết nên
trang sử hào hùng của Dân Tộc lưu truyền mãi đến ngàn sau:
Có phải các anh?
Những chiến sĩ Biệt Cách Dù,
Máu đã
loang đầy rừng rú,
Máu chan hoà, máu nhuộm thắm Trường Sơn,
Máu dâng cao, máu sôi sục từng cơn,
Máu uất hận, máu căm hờn,
Máu tuôn trong ngày “Tàn cơn khói lửa”
Và,
Dòng máu ấy sẽ
mãi còn luân lưu muôn thuở!!!
Thơ của BCD Lê Lộ Đức mang
tính ấn tượng hơn là trừu tượng. Có lẽ anh là lính nên “ăn ngay,
nói thẳng” như thơ lính của Trạch Gầm mà tôi thích đọc. Những
vần thơ như thiên hùng ca, tác động tình yêu nước, tinh thần
chiến đấu, và ca tụng chiến thắng vinh quang, ý chí hào hùng bất
khuất của người chiến sĩ BCD là những bài thơ đáng được trân
quý, lưu truyền cho thế hệ mai sau biết được tâm tình, khí tiết
của BCD nói riêng và của QLVNCH nói chung. Có thể nói BCD Lê Lộ
Đức đã buông súng nhưng cầm bút để tiếp tục đấu tranh khi nhiệm
vụ của anh chưa hoàn thành.
KHA LĂNG ĐA
Local links: Lời giới thiệu
| 01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
Lời bạt |
Mục lục


tkd ghi chú:
[*] “Tàn
Cơn Binh Lửa” lúc đầu chỉ là chương cuối,
đã được tkd đăng trên trang web này vào ngày thứ Tư, March 15, 2023 dưới dạng bút ký tựa “Tàn Cơn
Binh Lửa”, do nick “cathy” chuyển qua
eMail. Mới đây diễn đàn lại gửi thêm cho tôi các chương khác
trích từ quyển sách của tác giả BCD Lê Đắc Lực
do chính tác giả xuất bản. Và vì thế, trang web này vẫn mang
tựa cũ “Tàn Cơn Binh Lửa” nhưng
thêm các chương khác của quyển sách. Trân trọng. –tkd

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)


Nhạc nền:
LĐBC81ND Hành Khúc:
MP3;
MIDI (1.2MB); Nhạc bản
PDF



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by cathy chuyển
Đăng ngày Thứ Tư, March 15, 2023
Cập nhật ngày Thứ Ba, November
11/2025 – Đổi sang dạng sách
Cập nhật ngày Thứ Ba, April 8/2025
– đổi sang hệ thống bootstrap framework 5.x
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH