

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tuỳ Bút
Chủ đề: tháng 9
Tác giả: Lê Bình Phương

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Bây giờ là tháng 9!
Có
ai còn nhớ những tháng chín năm xưa?
Tháng 9 mùa thu hay tháng 9 mùa
mưa?
Cùng một đất nước nhưng tháng 9 miền Bắc khác với tháng 9 miền
Nam.
Nếu ở miền Bắc, mưa giảm dần, tiết trời bắt đầu mát mẻ. Thì
ở miền Nam mùa vẫn còn mưa (tháng 5–tháng 11).
Tháng 9 là tháng
giao mùa giữa hạ (70%) và thu (30%). Nếu ở Hà Nội, mùa đang cuối hè,
sắp bước vào thu, phố Nguyễn Du sắp bắt đầu hoa sữa nở. Thì ở Sài Gòn,
trời vẫn oi bức, con đường Duy Tân cây dài, bóng mát vẫn là chiếc dù
che những sáng nắng, chiều mưa.
Trước 75, tôi chỉ biết mùa thu
qua sách vở!
Dù chỉ biết mùa thu Hà Nội qua những bài viết của
Tự Lực Văn Đoàn, qua những bài thơ "tiền chiến", qua những trang sách
của người Hà–Nội–di–cư. Nhưng tôi yêu Hà Nội từ thời đệ lục, đệ ngũ
(cuối thập niên 60s). Có nghĩa là yêu, trước khi có "Nhớ mùa thu Hà
Nội" (1985) của Trịnh Công Sơn, trước khi bài thơ "Em ơi, Hà Nội phố"
(1972) của Phan Vũ, được Phú Quang phổ nhạc.
Yêu, trước khi có
"Hà Nội mùa vắng những cơn mưa", Trương quý Hải phổ nhạc bài thơ "Chia
tay người Hà Nội" của Bùi thanh Tuấn (1974–2026), một nhà thơ ở Bảo Lộc
nhưng có những câu thơ–Hà–Nội tuyệt vời!
Bây giờ, năm 2026 này,
bao nhiêu người "Hà–Nội–di–cư" (nhất là ở hải ngoại) còn nhớ Hà Nội? 72
năm rồi! Những cô gái, chàng trai "khi mới nhớn tuổi 15, 17" của Trưng
Vương, Bưởi, của Thăng Long, Albert Sarraut, v.v. thời 54 ấy, hôm nay,
trẻ nhất, cũng đã gần 90!
Bây giờ, bao nhiêu người
Sài–Gòn–di–tản, vượt biên còn nhớ Sài Gòn, "thủ đô yêu dấu nước Nam Tự
Do" (Văn Phụng)? 51 năm rồi! Những người "học trò mắt sáng với môi
tươi" của Gia Long, Petrus Ký, của Trưng Vương, Võ trường Toản, Chu văn
An, của Lê văn Duyệt, Hồ ngọc Cẩn, của Marie–Curie, Saint Paul, v.v.
thời 75 ấy, hôm nay, trẻ nhất, cũng gần 70!
Ca khúc nhớ Hà Nội
"nổi tiếng" nhất, có lẽ là "Hướng về Hà Nội" của (Ngô) Hoàng Dương
(1933–2017 / con trai nhà văn, nhà báo Trúc Khê Ngô văn Triện)!
Trước 75, tôi cứ nghĩ ông Hoàng Dương di cư nhưng không sáng tác nữa.
Bởi vì trong bài hát có ghi "Riêng tặng Hoàng Trọng..." Mà "vua tango"
thì di cư vào Nam.

Sau này mới biết, ca khúc được viết
khoảng cuối 53 đầu 54, trước khi có Hiệp Định Geneve, khi nhạc sĩ đang
ở ngoại thành... Hà Nội! Như một người ở Thủ Thiêm, đêm đêm "hướng về
Sài Gòn", nhìn "ánh đèn giăng mắc muôn nơi"!
Ngay lần đầu, nghe
từng chữ, thấm từng câu "Hướng về Hà Nội", lòng tôi đã buồn man mác! Cứ
như kiếp trước của cậu thiếu niên "miền Tây" là một chàng trai Hà Nội!
Toàn bài hát là những nốt hòa nhau, lời này tiếp lời kia, nhưng tôi yêu
nhất đoạn cuối:
"Lá sol
rề fá mi đồ!".
Đầu thập niên
80s, khi mới đến xứ người, tôi cầm đàn tha thiết:
"Sài Gòn ơi,
hướng về thành phố xa xôi...
Biết đâu ngày ấy anh về."
Vài
năm sau (1982), qua những tin tức "phấn khởi" của cộng đồng từ Hoa Kỳ:
"ánh sáng đã hé cuối đường hầm", tôi háo hức "Hãy tin ngày ấy anh về".
Bây giờ, 2026, thì chỉ còn ngậm ngùi "Biết bao là nhớ tơi bời"!
Có điều "lạ"
Nhiều nhạc sĩ Hà Nội (nổi tiếng trước 54) khi di cư
vào Nam, ngoài "Giấc mơ hồi hương" của Vũ Thành, có thể vì quá bận rộn,
tâm trí còn bàng hoàng trước cuộc sống mới (?), nên không có một sáng
tác (nhạc&lời) nổi tiếng nào về Hà Nội (Phạm Duy, Phạm đình Chương, Văn
Phụng, Hoàng Trọng, v.v.). Mà phải chờ "Hướng về Hà Nội" của một nhạc
sĩ trẻ (20 tuổi) ít người biết và, trớ trêu thay, lại chống di cư:
Hoàng Dương!
Ca khúc "Giấc mơ hồi hương" là một tuyệt tác được
nhạc sĩ Vũ Thành (1923–1987) viết năm 1956. Nghe nói ông là một
guitariste có hạng, nhưng các sáng tác của ông, phải nghe piano và,
nhất là, với một dàn nhạc giao hưởng, thì mới là "trên cả tuyệt vời"!
Tôi không đồng ý với tác giả khi ông tự cho rằng ca khúc được nhiều
người ưa thích "vì lời" mà thôi. Như nhạc sĩ Lê văn Khoa kể lại:
"Ông thường nói rằng 'Giấc Mơ Hồi Hương' được nhiều người ưa thích
chỉ vì lời mà thôi. Trong khi một số tác phẩm khác về phần nhạc, đối
với ông, hay hơn."
"Nếu quả tác phẩm đó nổi tiếng nhờ lời ca"
thì tôi có một điều ân hận là tất cả lời ca của bản "Giấc Mơ Hồi
Hương", tôi đã được gợi ý bởi một bài thơ tôi đọc trong một tạp chí văn
nghệ. Sở dĩ tôi nói ân hận là vì tôi đã quên tác giả... quên tên tác
giả của bài thơ đó... (ho)... Vậy để tạ lỗi cái việc quên tên tác giả
đó, tôi xin đọc lại cả bài thơ đó mà tôi còn nhớ mãi cho đến bây giờ,
sau hai mươi mấy năm:
'Ðau đớn nhìn Hà Nội
Khuất dần sau
sương rơi
Sông Nhị Hà sôi nổi
Cầu Long Biên xa rồi
Mắt nhìn
hình ảnh cuối
Lòng thấy nhớ khôn nguôi
Nghẹn ngào tâm sự cũ
Thôi rồi Hà Nội ơi...'"
Ông Vũ Thành "tư cách" quá! Chỉ riêng
một điều "ân hận" này của nhạc sĩ, đáng để cho người ta kính trọng ông
rồi! Chả bù với một số người, vì háo danh, ham lợi, đã trơ trẽn vơ sáng
tác người khác, nhận là của mình!
Với tôi, "Giấc mơ hồi hương"
là một ca khúc mà giai điệu là một trong những giai điệu "sang cả" nhất
trong các ca khúc miền–Nam–trước–75 (như một số ca khúc của: Cung Tiến,
Dương thiệu Tước...)
"Sang cả" thì không dính dáng gì đến... tây
phương. Tuy mấy nốt đầu của "Giấc mơ hồi hương":
"Sồn đô
Rề
mi sôn đố..."
"Lìa xa
thành đô yêu dấu..."
gợi nhớ đến
Rêverie của Schumann:
"Chiều rơi
từ nơi (nào)
xa vắng
(cũ)...
Mơ Mòng". –[Lời Việt: Phạm Duy]
Cũng như:
"Là
mi fá rề
là mi fa sôn..."
(Elle voit des films
cent fois
les mêmes...)
mở đầu bài "Magic' Boul'vard" (1991) của Francois
Feldman, giống giai điệu đầu trong "l'Été 42 (Oscar de la meilleure
musique originale 1972) của Michel Legrand:
"Đồ sôn lá fà
đồ
sôn la si"
(C'était l'été
quarante–deux
Encore un peu
entre l'amour..."
dù khác "ton": một "Fa thứ" (Hè 42), một "Ré
thứ" (Magic Boul'vard). Hay:
"I don't know why
you said
goodbye." –[(Boulevard / Dan Byrd – 1984)]
là một lặp lại của:
"Về đây đứng ngồi
đường xa quá ngại." –[(Chiếc lá thu phai /
Trịnh công Sơn – 1983)],
v.v.
Không chỉ có "những tư
tưởng lớn", mà "những giai điệu hay" cũng rất thường gặp nhau!
Nhưng "Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc" thì "dứt khoát" là của Tôn Dật Tiên
(1866–1925 / Chủ nghĩa Tam Dân: Dân tộc Độc Lập – Dân quyền Tự Do – Dân
sinh Hạnh Phúc). Không phải của một... bác nào cả!
Trở lại
"Hướng về Hà Nội". Chống di cư nhưng ông Hoàng Dương phải cám ơn những
tiếng hát di cư: Kim Tước, Thái Thanh, Anh Ngọc, Duy Trác, v.v. đã đưa
ca khúc của ông vào lòng người yêu nhạc miền Nam. Không có họ, sẽ không
ai biết đã có một "Hướng về Hà Nội", của một nhạc sĩ tên là Hoàng
Dương. Bởi vì nó, ca khúc đó, đã bị Đảng cấm vì "tiểu tư sản" quá! Chỉ
đến gần 4 thập niên sau (cuối 90s), "Hướng về Hà Nội" mới được phép phổ
biến!
Nhưng tôi chắc chắn những người nghe nó, sau khi được
phép... nghe, là nghe "cho biết vậy thôi". Chứ không nghe bằng cả tấm
lòng, bằng cả con tim như những người "miền Nam": di cư hay vượt biên,
di tản!
Chữ "di cư" thì tôi đã nghe từ bé ("di cư 1954") nhưng
di tản (chiến thuật) thì chỉ mới nghe sau này, sau khi Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa (QLVNCH) triệt thoái khỏi Quảng Trị (3/1972) Trong "Tự
điển Hán Việt" của Đào duy Anh chỉ có chữ "di cư" = đi ở nơi khác.
Không có di tản. Nhưng có "tản –cư" = ở tản tác ra nhiều nơi.
Trong Đại từ điển tiếng Việt của ông Nguyễn Như Ý: di tản (động từ) =
lánh đến một nơi xa để sinh sống.
Hai định nghĩa trên không cho
thấy có gì khác nhau giữa di cư và di tản (?). Nên, tôi nghĩ, cái khác
nhau giữa hai chữ, là "thời gian". Di cư = có tính toán trước, có thời
gian để chuẩn bị ra đi. Di tản = bất ngờ, không có thời gian để chuẩn
bị, phải đi "gấp" vì có ảnh hưởng đến sinh mạng.
Như thế, khi di
cư vào Nam, năm 54, nhiều người vẫn tin là sẽ có ngày "trở về mái nhà
xưa", trong khi, với người di tản, vượt biên trước 86, thì khác, nói
theo Nguyệt Ánh, "một lần đi là mất lối quay về".
Có lẽ vì thế
mà sau đợt di cư 54, chỉ có "Giấc mơ hồi hương" (1956). Nhưng sau 75,
ít nhất là trong 10 năm đầu, đã có biết bao nhiêu là "Sài Gòn ơi vĩnh
biệt". Có phải vì người ta "Một lần đi là vĩnh viễn xa nhau"(?). Có
phải vì mất quê hương một cách bất ngờ quá nên nhiều nhạc sĩ Sài Gòn
nổi tiếng, sau khi rời bỏ Sài Gòn (Cung Tiến, Phạm Duy, Phạm đình
Chương, Lam Phương, Trần thiện Thanh, Văn Phụng, Ngô Thụy Miên, Lê Uyên
Phương, Từ công Phụng, Hoàng Trọng, Trần Trịnh, Nhật Ngân, v.v.), tâm
trí rối bời, va chạm với cuộc sống mới, một nền văn hóa mới, đã không
có hứng thú để có một "hướng về Sài Gòn" (nhạc & lời) nào nổi tiếng.
Ngoài Trầm tử Thiêng với Đêm, nhớ về "Sài Gòn/1987" nhưng ít người biết
(?)!
Trái lại, Nam Lộc, người của thế giới "nhạc trẻ" trước 75
(viết lời Việt cho một số ca khúc nhạc ngoại quốc:
– Mây Lang
Thang (A Cowboy's Work is never done),
– Chỉ là giấc mơ qua (Yellow
Bird),
– Trưng Vương khung cửa mùa thu (Tell Laura I love her),
–
Một thời để yêu (Les amoureux qui passent),
– Tình ca cho em
(Goodbye to love), v.v.
là người đầu tiên (?) đã viết ca khúc về
Sài Gòn: "Sài Gòn ơi vĩnh biệt" (1975). Cũng như Nguyệt Ánh, cô tân
sinh viên năm 74 (?) của Sài Gòn đẹp lắm, với "Mưa Sài Gòn còn buồn
không em" và, nhất là, "Sài Gòn niềm nhớ không tên" của văn thi sĩ
Nguyễn Đình Toàn, người chỉ viết lời cho một số ca khúc của Vũ thành An
trước 75. Toàn những khuôn mặt "mới" trong âm nhạc! 51 năm sau, 3 ca
khúc này vẫn còn đúng với sự thật (não nề).
Người xa Sài Gòn, dù
có quay về VN, vẫn nhớ quay quắt Sài Gòn. Mưa Sài Gòn vẫn còn buồn bởi
những người "đi xa" không tìm đâu ra "những ngày cũ êm đềm...".
Và Sài Gòn, dù phải bị "mang tên xác người" (Phạm Duy), vẫn là Sài Gòn,
trong lòng người miền Nam. Không có thành Hồ, thành keo gì cả!
Nhưng các tên đường thì phải "chịu"! Không ai trách gì các thế hệ lái
"taxi", phát thư, v.v. sinh sau, đẻ muộn, chỉ làm việc với những tên
mới! Khi: "Nam Kỳ" khởi nghĩa tiêu "Công Lý" / "Đồng Khởi" vùng lên mất
"Tự Do". Với người Sài–Gòn–trước–75 "có mới cũng không nới được cũ" 51
năm rồi...!
Bây giờ là tháng chín!
Miền Nam không có mùa
thu. Nên tháng Chín đến với Sài Gòn chỉ là những đám mây lững thững
ngang trời, những cơn mưa chiều vội đến, vội đi như vòng tay người áo
trận, "24 giờ phép" vội vàng qua!
Tháng 9 đầu ngày, nắng Sài Gòn
vẫn vàng tươi, trong trẻo. Nắng soi những mặt người hối hả qua mấy ngã
Sài Gòn. Ngã ba, ngã tư, ngã sáu, ngã bảy, v.v. Nắng túa xuống những
hàng me già, rợp bóng lên những quán cóc vỉa hè. Thành phố thức dậy
bằng tiếng xe, tiếng rao hàng quen thuộc. Và mùi cà phê quyện trong
không khí còn đẫm hơi nước sau cơn mưa đêm.
Tháng 9 chiều về,
mây từ đâu kéo đến, che sắc Sài Gòn. Chỉ cần một cơn gió lướt qua, ai
cũng biết rằng mưa sắp đến. Mưa tháng 9 có khi ào ạt như muốn gột hết
bụi bặm, có khi chỉ là những hạt nhỏ li ti, lặng lẽ rơi trên tán lá, đủ
để làm dịu cái nóng còn sót lại từ buổi trưa oi bức.
Dường như,
sau mỗi cơn mưa, phố thị miền Nam như trẻ hơn một tí (?). Những hàng
cây như xanh hơn, bầu trời như cao hơn, và những con đường, vốn đông
đúc, bỗng mang một vẻ dịu dàng hiếm thấy. Ánh nắng cuối ngày len qua
tầng mây, rơi xuống những đóm nước, khiến mặt đường lấp lánh như những
mảnh gương nhỏ.
Miền Nam chỉ có hai mùa mưa, nắng (thêm "mùa sao
sáng" lúc Giáng Sinh, và "mùa xuân" lúc gần Tết!). Nhưng, với tôi,
tháng Chín ở Sài Gòn dường như là một mùa riêng. Đó là mùa của những
lần hẹn hò phải tới, phải đội mưa mà đi, dù cổ có... dài thêm mấy cm!
Đó cũng là mùa của những lần trú dưới mái hiên cùng một người xa lạ,
của điếu thuốc lẻ loi trong một quán cóc bên đường, v.v.!
Người
xa Sài Gòn, sau mấy mươi năm, vẫn còn nhớ một nụ cười tóc ngắn giữa
dòng xe đông đúc sáng đầu ngày hay một ánh mắt đong đưa sau một cơn mưa
chiều vội vã.
Ôi, Sài Gòn: một sáng, một chiều tháng Chín!
Bây giờ là tháng Chín.
Ở Châu Âu và Bắc Mỹ, (cũng như ở Việt
Nam trước 75), tháng 9 là tháng của một khởi đầu.
Sau mấy tháng
hè, với "người lớn", tháng 9 là tháng trở lại: sở làm, hãng xưởng, cửa
tiệm, nhà hàng, phòng mạch, garage, đơn vị, v.v. Từ người công nhân đến
ông (bà) Tổng thống, cũng đều "Trở lại em... yêu "! Dù không yêu cũng
phải ráng mà trở lại! Với giới sinh viên, học sinh, tháng 9 là một đoạn
đời mới. Một đoạn đời trong tuổi học trò. Niên học mới, lớp mới, bạn
mới, cô thầy mới, trường mới (nhất là một số con em các gia đình công
chức, quân nhân, dọn nhà theo công vụ). Nhưng không phải ai cũng vậy.
Một số học sinh, sinh viên phải "làm lại cuộc đời" vì bị "ở lại" hay
"thi hỏng". Lớp "tiếp liên" dành cho những cô, cậu không đậu vào "đệ
thất trường công lập". Với những anh lớn hơn, có không ít những chàng
17, 18, phải chép miệng:
"thà như giọt mưa,
thi hỏng mất rồi,
ta đợi ngày đi!".
Nhất là sau lệnh "đôn quân" năm 1972. Người
học đúng tuổi, chỉ cần "ở lại lớp" (thi rớt) 1 năm, là "xếp bút nghiên,
theo việc binh đao"!
Trước đây, nói đến ngày tựu trường, đa số
học sinh "miền Nam" nghĩ ngay đến câu văn Thanh Tịnh:
"Hằng năm,
cứ vào độ cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những
đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của
buổi tựu trường. Tôi quên làm sao được buổi mai hôm ấy, một buổi mai
đầy sương Thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con
đường dài và hẹp...".
Một bài viết hay nhưng... không đúng với
ngày tựu trường ở miền Nam! Miền Nam không có mùa thu, không có "lá
ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc", không
có "sương Thu và gió lạnh". Chịu ảnh hưởng nền giáo dục Pháp, ngày tựu
trường ở miền Nam, trước 75, là ngày thứ hai tuần đầu tháng 9. Học trò
miền Nam bước vào năm học mới bằng những đám mây xám, những cơn mưa bất
chợt, và màu xanh mướt của cây cối sau nhiều ngày được tưới đẫm.
Sáng tựu trường, ông Mặt Trời thường dậy rất sớm. Cho nắng trải
vàng con đường đến trường nhộn nhịp những áo trắng, quần xanh, những tà
áo xôn xao, những tiếng cười trong trẻo! Nhớ, năm đệ Tứ (Pháp văn) 2,
sau 3 tháng hè, gặp lại bạn bè. Thì đã có vài tên "bể tiếng", giọng nói
ồ ề. Lớp đệ tứ P1 kế bên, đã có một vài cô cúi đầu trốn nụ cười "thơ
ngây" của tôi! Từ giây phút đó, tôi bỗng thấy mình lạ hẳn đi!
Khi nhớ về những ngày tựu trường tuổi nhỏ, tôi nhớ cả "mùi tựu trường"!
Đó là mùi đất ướt bốc lên từ sân trường sau cơn mưa. Là mùi sách
mới quyện với mùi áo mưa chưa kịp khô. Là mùi phấn trắng lẫn với mùi lá
cây sau cơn dông đầu chiều. Những mùi hương ấy chưa bao giờ tôi nhớ,
vậy mà bây giờ, sau hơn mấy... mươi năm, chợt trở về!
Mỗi người
đều có những ngày tựu trường để nhớ. Với tôi, đó là tiếng chuông leng
keng trường nữ, tiếng trống thùng thùng trường nam, thời tiểu học,
tiếng chuông điện thời trung học, đại học trong ngày tựu trường!
Lần đầu tiên, bước vào lớp trong ngày đầu niên học trên xứ người xa
lạ, tôi, gã sinh viên da... vàng nhất giữa đám tóc vàng, mắt xanh, nghe
xung quanh lao xao cái thứ tiếng không phải "tiếng mẹ sinh từ lúc nằm
nôi". Trong ngày, bận bịu làm quen với không gian mới, bạn bè mới, tôi
chưa thấy gì nhưng buổi tối, khi một mình ngồi ngoài ban công với điếu
thuốc, tôi bỗng chợt buồn, nỗi buồn xen nỗi tủi thân! Và tôi chợt nhận
ra, rằng tôi chưa hề (?) đọc một bài thơ nào, hát một ca khúc nào về
Ngày Tựu Trường!
Không biết sao chỉ có những ca khúc về ngày bãi
trường, mà toàn là ca khúc buồn?! Từ "90 ngày qua chứa chan tình
thương" (Nỗi buồn hoa phượng) cho đến "Hôm nay đây còn vui trông thấy
nhau..." (Ngày tạm biệt). Từ "Tiếng ve nức nở chan chứa / Sân trường
còn lại hai đứa / Cầm tay nhau nói nhiều cũng buồn" (Thương ca mùa hạ)
cho đến: "Ngày biệt ly hai đứa đứng nhìn nhau, anh cài cành hoa tím..."
(Lưu bút ngày xanh) Buồn? – Nhưng, có thật buồn không?
Suốt thời
đi học, chưa bao giờ bạn bè chúng tôi buồn trong ngày bãi trường, ngay
cả năm cuối trung học, mà lần đầu, tôi được một tên bạn mời viết cho
vài chữ trong cuốn lưu bút của hắn. Dĩ nhiên là không có cái màn "dù
cho ảnh có phai màu / xin đừng xé bỏ đau lòng bạn thân". Trái lại,
chúng tôi hân hoan cười nói, đùa giỡn, trừ những người bị "ở lại" hay
phải "thôi học". Như thi sĩ Xuân Tâm (1916–?) đã viết trong "Lời tim
non" (thi nhân VN / Hoài Thanh & Hoài Chân):
"Sung sướng quá,
giờ cuối cùng đã hết
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về
Chín mươi
ngày nhảy nhót ở miền quê
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!
Một nét mặt trăm tiếng cười rộn rã
Lời trên môi chen chúc nối nghìn
câu
Chờ đêm nay, sáng sớm bước lên tàu
Ăn chẳng được, lòng nôn
nao khó ngủ.
Trong khoảnh khắc sách, bài là giấy cũ
Nhớ làm
chi. Thầy mẹ đợi, em trông
Trên đường làng huyết phượng nở thành
bông
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.
Kiểm soát kỹ có
khi còn thiếu sót
Rương chật rồi khó nhốt cả niềm vui
Tay bắt
tay, hồn không chút bùi ngùi
Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng."
Cám ơn nhà thơ đã nói hộ chúng tôi!
Bây giờ là tháng Chín.
Nếu tháng Chín là tháng mở đầu cho một niên học, thì với người miền
Nam, đó là một tháng bắt đầu cho một khép lại. Khép lại một chiến
trường tang thương nhất, khốc liệt nhất trong lịch sử Việt Nam: chiến
trường Quảng Trị, trong "mùa hè đỏ lửa" 72! "Mùa Hè Đỏ Lửa" là tên cuốn
bút ký của nhà văn Quân Đội Phan Nhật Nam (1973).
Lúc còn đi
học, đó là cuốn bút ký chiến tranh hay nhất mà tôi được đọc! Bây giờ,
2026, 53 năm sau, sau khi đã đọc thêm vài bút ký chiến tranh của "bên
này" cũng như của "bên kia" (Bảo Ninh, Đặng Thùy Trâm), v.v. tôi vẫn
cho "Mùa Hè Đỏ Lửa" là cuốn bút ký chiến tranh trung thực nhất, hay
nhất! Không chịu ảnh hưởng của một sức ép chính trị, một chính sách
tuyên truyền nào!
Nhờ "Mùa Hè Đỏ Lửa", mà tôi, dù đã yêu người
LÍNH VNCH qua các bài hát (kích động) LÍNH của "thần tượng" Hùng Cường
từ cuối thập niên 60s – đầu 70s (Thiên thần mũ đỏ, Cọp Biển, Lính mà
em, Lính thành phố, v.v.), lại càng yêu hơn nữa!
Yêu, không chỉ
"An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân",
không chỉ
"đâu cánh Dù tung gió
đây cánh Dù ôm kín đời
anh." –[Anh không chết đâu anh/Trần thiện Thanh]
Không chỉ vì màu
"mũ xanh" Thủy Quân Lục Chiến, "mũ nâu" Biệt Động Quân, "mũ đen" Thiết
Giáp, v.v. Mà yêu, từ 11 Sư Đoàn chủ lực, Không Quân, Hải Quân, v.v.
yêu đến Địa Phương Quân, yêu sang những "thiên thần áo trắng" trên
chiến trường. Như ông "đốc" Tính "điên" của Tiểu Đoàn 9, ông "toubib"
Liệu của Tiểu Đoàn "Song Kiếm Trấn Ải" Nhảy Dù... Yêu hết. "Yêu, cho
bao nhiêu mà vẫn thấy không nhiều..." như một lời hát tôi viết! Trừ
những tên "nằm vùng" mặc áo Lính, "đi lính Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản"!
Trận chiến "Mùa Hè Đỏ Lửa" không chỉ xảy ra trong mùa hè 72. Mà nó
đã bắt đầu từ mùa xuân, từ ngày 30/3/1972. Khi Hà Nội ngang nhiên xé
nát hiệp định Geneve, xua gần 200,000 quân vượt biên giới, tấn công
miền Nam. Ở 3 mặt trận chính: Vùng 1 (Quảng Trị, Huế), Vùng 2 (Kontum,
Bình Định), Vùng 3 (Bình Long), và Vùng 4 (tấn công rải rác các tỉnh
Long An, Kiến Tường, Kiến Hòa, Gò Công, Long Xuyên, v.v.).
Nếu
chiến trường Vùng 2 Kontum, mở đầu với cái chết (!) của "Người ở lại
Charlie" Nguyễn đình Bảo, người anh cả TĐ 11 Nhảy Dù, bắt đầu từ tháng
4 và chấm dứt tháng 5, sau chiến thắng Kontum của "Đường Sơn Đại Huynh"
Đại tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư Đoàn 23, và chiến thắng Bình Định của Sư
Đoàn 22 (Đại tá Phan đình Niệm). Thì chiến trường Bình Long, kéo dài từ
tháng 4 đến tháng 6, với Sư Đoàn 5 của Đại tá Lê văn Hưng và các đơn vị
bạn: Nhảy Dù, Biệt Kích Dù (An Lộc địa sử ghi chiến tích), Sư Đoàn 9,
Biệt Động Quân, Địa phương quân, v.v., rồi, từ tháng 6 đến tháng 8 ở
Vùng 4. Riêng, ở Vùng 1, thị xã Quảng Trị, trong đó có Cổ Thành Đinh
công Tráng, là cục xương khó nuốt nhất của QLVNCH!
Nhiều bài
viết về trận chiến "sống mái" này, trên "mạng". Biết người, biết ta.
Những bài nào viết "Thành Cổ" thì tôi cho đi chỗ khác chơi vì biết "nổ
sảng", "chuyển bại thành thắng" là "nghề của Vẹm". Chỉ giữ lại các bài
viết về "Cổ Thành" mà tôi biết, tôi tin là trung thực. Bởi chúng được
viết từ những tay súng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến trực tiếp tham gia
chiến trận. Đồng đội của họ còn đầy cả nơi đây, muốn "nổ" cũng kiêng
đồng đội. Chứ không phải của ông Trưởng, Tư lệnh Vùng, ông Lưỡng, Tư
lệnh Dù, ông Lân Xếp sòng Cọp Biển. Vả lại, đã là "thiên thần", là "cọp
biển" thì:
Sợ ai mà phải "nổ" / Như mấy tay... "thành Cổ"? Xin
mở một dấu ngoặc ở đây:
Cổ, tiếng Hán Việt, nghĩa là "xưa".
"Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi." –[Tự Đức?]
Như "Cổ kim hòa điệu". Cổ nhạc. Cổ văn. Cổ thi. Cổ mộ (Cổ
mộ phái / Tiểu Long Nữ – Dương Qua). Cổ độ (cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ
/ Cung Oán ngâm khúc). Cổ vật. Thời cổ đại. Cổ phong (tính cách đời xưa
/ thơ thất ngôn, cổ phong). Chuyện cổ tích. Nhạc cổ điển. Cổ lỗ (sĩ),
v.v.
Thành Đinh công Tráng (Quảng Trị) được xây bởi các "cổ
nhân" triều Nguyễn. Gọi Cổ Thành thì vừa đúng vừa văn chương. Dùng chữ
"Thành cổ" không phải sai nhưng nó vừa "quê" vừa "đặc cán mai"! Chưa
nói là nghe "thành cổ" thì khó mà không liên tưởng đến... "xôi cổ":
tiếng lóng của dân chơi cầu 3 cẳng năm xưa. Dù đó là 2 "phạm trù" khác
nhau!
Thật ra, gọi "Cổ thành" ra "Thành cổ" vì mặc cảm thua
thiệt, "Cách Mạng" chỉ muốn làm ngược lại với... "Ngụy" thôi! "Tiểu
nhân đắc chí" mờ!
Sau khi Quảng Trị thất thủ, 3/5/72, Tư lệnh
Vùng 4: Tướng Ngô Quang Trưởng, được Tổng thống Thiệu chỉ định vào chức
vụ Tư lệnh Vùng 1, thay Tướng Hoàng xuân Lãm. Một quyết định hợp lý,
hợp tình của vị Tổng tư lệnh!
Hợp lý vì: thay một Tư lệnh vùng
bằng một Tư lệnh vùng. Trong 4 năm (66–70) ở Huế, với chức Tư lệnh,
Tướng Trưởng, ngoài việc đã gầy dựng Sư Đoàn 1 Bộ Binh thành 1 trong
những Sư Đoàn thiện chiến nhất miền Nam (nếu không muốn nói Sư Đoàn 1
là Sư Đoàn... "number One"!), còn là một "trở về mái nhà xưa" của một
người đã biết khá rõ địa hình Vùng 1.
Hợp tình vì: Tướng Trưởng
từng là Tiểu đoàn trưởng TĐ 5, rồi Tư lệnh Phó Sư Đoàn Nhảy Dù. Mà Nhảy
Dù và Thủy Quân Lục Chiến là hai đơn vị chủ yếu đang trấn đóng miền
giới tuyến. Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù: Đại tá Lê Quang Lưỡng
(thăng cấp chuẩn tướng 8/72 / Tư lệnh Sư Đoàn 11/72), Tư lệnh Thủy Quân
Lục Chiến: Đại tá (thăng cấp chuẩn tướng 6/72) Bùi thế Lân; Đại tá Lữ
đoàn trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù: Trương vĩnh Phước và Đại tá Tư lệnh Phó
Sư Đoàn 1: Nguyễn văn Điềm, đều là bạn "đồng song", tốt nghiệp Khoá 4
Cương Quyết Thủ Đức (3/1954) với Tướng Trưởng.
Cùng với "Khoá 4
Cương Quyết Thủ Đức" lại có thêm "Khoá 4 phụ Cương Quyết Đà Lạt"
(10/1954). Với 3 ông Lữ đoàn trưởng:
📌 Đại tá Trần Quốc Lịch
của Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù,
📌 Đại tá Ngô văn Định của Lữ Đoàn 258,
và
📌 Đại tá Phạm Văn Chung của Lữ Đoàn 369 TQLC, người đã cầm
quân đứng mũi chịu sào, ngăn giặc phía bên này sông Mỹ Chánh!
Cũng phải nói đến cái duyên "tao ngộ" của một số sĩ quan Khoá 16 Đà Lạt
(1959–1962): Nhảy Dù có Thủ Khoa Bùi Quyền (Tiểu Đoàn phó TĐ5ND), Thám
Hoa Trần đăng Khôi (Tiểu đoàn trưởng TĐ7ND); TQLC có Bảng Nhãn Nguyễn
Xuân Phúc (Tiểu đoàn trưởng TĐ2 Trâu Điên / rồi Lữ Đoàn Phó 147),
Nguyễn văn Cảnh (Tiểu đoàn trưởng TĐ 3 Sói Biển), Đỗ hữu Tùng (Tiểu
đoàn trưởng TĐ6 Thần Ưng), Nguyễn Kim Đễ (Tiểu đoàn trưởng TĐ 9 Mãnh
Hổ)!
Có thể nói, một cách tổng quát, trận "Quảng Trị" là trận
của "gia đình", của 3 khoá: 2 (Võ khoa) "Cương Quyết" (1954) và 1 (Võ
Bị) "Ấp Chiến Lược" (1962), trong chiến dịch Lam Sơn "tái chiếm Quảng
Trị" của Tướng Trưởng!
Bắt đầu từ 28/6/72. Với Sư Đoàn Nhảy Dù
là lực lượng tấn công chính.
Sau gần hai tuần, ngày 15/7, TĐ5ND
đã tiến đến sát bờ Cổ thành. 3 ngày sau, 18/5, Cờ Vàng đã bay cao trên
Cổ thành, nhưng chỉ vài "giây" (?) sau, người cắm nó: Binh Nhất Hồ
Khang và 3 đồng đội, đã hy sinh dưới hỏa lực hùng hậu của Cộng quân! 10
ngày sau, 25/7, TĐ5ND "tái bản" cắm cờ. Nhưng khi cờ được dựng lên
không lâu thì bị 2 chiếc A37, thay vì dội bom thẳng vào cột cờ Tiểu khu
Quảng Trị thì lại "quân ta đánh bom quân mình"! 4 quả bom đã làm tê
liệt hơn 50% 3 Trung Đội tấn công của TĐ5ND! Ngày hôm sau, 26/7, được
tin Bắc quân sẽ tung thêm 2 "Sư" (đoàn / gọi theo danh từ VC) vào Quảng
Trị, trợ lực cho "Sư" 325, Tướng Trưởng quyết định giao cuộc tái chiếm
Cổ Thành cho Sư Đoàn TQLC. Lực lượng Nhảy Dù chịu trách nhiệm bảo vệ
phòng tuyến Thạch Hãn, và khống chế lực lượng tăng viện của địch ở mặt
trận phía Tây.
Nhất tướng công thành:
Tái chiếm Cổ Thành,
không chỉ có "nhất tướng" Bùi thế Lân. Mà là tất cả chiến hữu của Sư
Đoàn. Dầu trực tiếp tấn công là 2 Lữ Đoàn 258, 147.
Theo Đại tá
Ngô văn Định:
"Tướng Bùi Thế Lân, quyết định dùng LĐ 258 do Đại
tá Ngô Văn Định (Đồ Sơn) chỉ huy gồm 5 TĐ tác chiến 1, 2, 5, 6, 9, và 1
TĐ Pháo Binh 105 ly TQLC tiến đánh phía Tây–Nam cổ thành". "LĐ147 do
Đại tá Nguyễn Năng Bảo (Bắc Ninh) chỉ huy gồm 3 TĐ tác chiến 3, 7, 8,
và 1 TĐ pháo binh TQLC làm lực lương tấn công ở phía Đông cổ thành. LĐ
369 do Đại tá Nguyễn thế Lương (Lâm Thao) chỉ huy làm thành phần trừ bị
cho Sư Đoàn".
Đến sáng sớm 15/9/1972, TĐ 3 cho hai Đại Đội 2 & 3
làm cỏ hết các chốt tử thủ của Bắc quân, từ cửa Hữu "làm" sang cửa Tả
Cổ Thành. "Sau gần 24 giờ chiến đấu không nghỉ, những người lính của
Ðại Ðội 2 Tiểu Ðoàn 3 TQLC đã dựng ngọn cờ trên cổng thành cửa Tả vào
mờ sáng ngày 15 tháng 9 năm 1972." –[Đại đội trưởng Giang văn Nhân].
Lễ thượng kỳ chính thức ở Cổ Thành Quảng Trị là ngày
16/9/1972.
Vạn cốt khô:
Đại tá Ngô văn Định, người trong
cuộc, viết:
"Để đo lường được thế nào là cuộc chiến kinh hoàng
nhất thì phải dựa theo sự tổn thất. Sau 52 ngày kể từ ngày thay thế
SĐND (27/7/1972) đến ngày hoàn thành nhiệm vu, đã có trên 3500 quân
nhân TQLC hy sinh, nhiều ngàn người bị thương.
Trong khi đó về
phía quân đội Bắc Việt thì các SĐ 308, 304, 325, và các Trung Đoàn
chiến xa đã bị tổn thất nặng nề; riêng hai Trung Đoàn Triệu Hải phòng
thủ trong cổ thành và Trung Đoàn 48 phòng thủ trong thị xã coi như bị
xoá sổ: 5542 quân BV bị chết tại trận, 83 bị bắt sống làm tù binh, vũ
khí tịch thu được đủ loại chất thành đống".
Riêng "phía bên
kia", Thiếu tướng Lê Phi Long, nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến Bộ
Tổng Tham mưu, cánh tay mặt Tướng Giáp, thú nhận:
"Chiến dịch
Quảng Trị kéo dài, thương vong rất lớn, có thể nói là lớn nhất so với
tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến. Mỗi lần nghĩ lại tôi
rất đau lòng. Ta đã tung hết lực lượng, đã kiệt quệ. Có lúc tôi đã phải
điều học viên trường Lục Quân về gần thủ đô lập một Lữ Đoàn để bảo vệ
Trung ương, vì hết cả quân.... Mãi đến bây giờ (2008), tôi và nhiều
đồng nghiệp vẫn chưa hiểu vì sao ta phải cố thủ thành cổ với một giá
đắt như vậy, ai chủ trương, ai chịu trách nhiệm trước lịch sử?"
Theo ông Lâm Vĩnh Thế:
"Một điều gần như chắc chắn là 2 Trung
Ðoàn 48 và Triệu Hải của Sư Ðoàn 320 B, đã tử thủ trong thị xã và Cổ
Thành, đã bị tổn thất rất nặng, gần như đã bị xóa sổ. Trong tài liệu
chính thức của Việt Nam cộng sản gần đây, 'công bố tại mít tinh kỷ niệm
40 năm' của trận đánh, Miền Bắc công nhận họ đã tổn thất 36,000 quân,
và quả thật, 2 Trung Ðoàn 48 và Triệu Hải đã bị xóa sổ. Trung Ðoàn
Triệu Hải từ 1,500 quân chỉ còn lại không tới 1 Tiểu Đội (khoảng 12
người), và Trung Ðoàn 48 đã bị tổn thất hơn 80% quân số. Về hồi ức cá
nhân, Ðại tá Vũ Trung Thướng, trong trận Quảng Trị năm 1972 là Chính
Trị Viên của Ðại Ðội 5, Tiểu Ðoàn 2, Trung Ðoàn 48, Sư Ðoàn 320 quân
Bắc Việt, đã kể lại như sau:
'... từ ngày 28/6 đến ngày
16/9/1972, Đại Đội 5 của tôi từ 120 quân, nhưng sau đó chỉ còn 17 người
sống sót.' Mới đây nhứt, ngày 16/1/2018, Đội Quy Tập Hài Cốt Liệt Sĩ
584 của Bộ Chỉ Huy Quân Sự tỉnh Quảng Trị đã cho biết vừa tìm thấy thêm
12 hài cốt tại thôn Tân Mỹ, xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị. Chắc chắn,
trong tương lai, sẽ còn có thêm nhiều, rất nhiều, những vụ tìm thấy và
khai quật được hài cốt của các binh sĩ Bắc Việt đã bị chôn vùi tại khu
vực thị xã Quảng Trị và Cổ Thành Ðinh Công Tráng trong trận đánh đẫm
máu nhứt trong Chiến Tranh Việt Nam này."
Đền nợ nước! Hy sinh!
Tử trận!, v.v. Nhiều từ nhưng chỉ để nói lên một nghĩa: Chết! Một chữ
"cụt ngủn" nhưng bao nhiêu là đau thương. Của thân nhân. Của chiến hữu.
Của bạn bè! Ngày còn bé, nhìn những chiếc GMC chở 1, 2 quan tài phủ cờ
vàng, chạy ngang nhà, tuy chưa có ý niệm gì nhiều, nhưng tôi nhớ là
"thằng bé 8, 9 tuổi" đang chơi trước sân, đưa mắt nhìn theo, lòng chợt
thấy buồn buồn! Năm 10 tuổi, khi mất đứa em út, thằng... bạn nhỏ của
tôi, tôi mới biết thể nào là nỗi buồn mất người thân!
Người ta
chỉ thực sự cảm nhận được ý nghĩa của tiếng "Chết", của nỗi đớn đau,
mất mát, của nỗi buồn ghê gớm. Khi "nó", cái Chết, đến với người thân
của mình!
Hôm 22/7/2026, tôi chợt nghĩ đến Tổng thống Thiệu, khi
xem đoạn video quay cảnh Tổng thống Donald Trump mặc veste xanh, đeo cà
vạt đỏ, cùng vài viên chức Quốc Phòng, đứng nghiêm, giơ tay chào theo
kiểu nhà binh, ngay trước bửng phi cơ, trước 4 quan tài phủ quốc kỳ Mỹ
của 4 quân nhân Hoa Kỳ thiệt mạng trong một cuộc oanh kích của Iran
trước đó!
Tôi chưa bao giờ thấy ông Thiệu đứng chào quan tài các
chiến hữu của ông (ngoại trừ một vài tang lễ của các cấp chỉ huy quan
trọng (?). Nhưng, có một tấm ảnh của ông đã làm tôi vô cùng xúc động.
Đó là tấm ảnh chụp lúc ông đang quỳ gối, cầu nguyện trong Thánh Đường
La Vang đổ nát, ngày 20/9/1972.
Ngày 20/9/1972, trên đường viếng thăm, chúc mừng các chiến hữu ở thị xã Quảng Trị, khi xe
ngang qua Thánh đường La Vang, ông đã xuất kỳ bất ý, nói Đại tá Định
ngừng xe để ông vào tạ ơn Đức Mẹ!
Ngược lại với Việt Nam Cộng
sản, tất cả những nhà Lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa đều là những người có
Đức Tin! Nhân vô thập toàn. Thích hay không thích, người ta cũng phải
công nhận là sống dưới sự lãnh đạo của một người có Đức Tin thì cũng
"an tâm" hơn là sống dưới sự lãnh đạo của một kẻ Vô Thần hoặc, kinh
khủng hơn, của một đám Vô Thần!
Ông Thiệu là một Tổng Thống dân
cử. Ông không phải là "cha già dân tộc". Không ai (dám) gọi "cha già
dân tộc" là "tonton" hay... "Tám Thẹo" như một số báo chí miền Nam thời
đó. Nhưng "Tonton" có nhiều điểm mà "Cha già" không có. Ông can đảm hơn
(thường thị sát mặt trận, thăm hỏi, ngợi khen chiến hữu, trong lúc
chiến trường chưa im hẳn tiếng súng). Ông không viết sách ca tụng...
ông. Ông "đạo đức" hơn, luật "Người cày có ruộng", do ông đề xuất, đã
mang lại những khuôn mặt rạng rỡ, tiếng cười sảng khoái, hoàn toàn đối
nghịch với "Cải Cách Ruộng Đất" của "Cha già": chỉ có máu và nước mắt!
Ông không có nhiều... vợ như "Cha già"!, v.v. và, điều quan trọng nhất,
ông không "đạo đức giả" (chữ của ông Vũ thư Hiên), không "đóng phim",
không cầm tinh con cá... sấu như "Cha già" (!): năm 1953 viết bài "Địa
chủ ác ghê" (ký C.B.) trên báo Nhân Dân số 125 (7/1953) trong chiến
dịch Cải Cách Ruộng Đất, kết tội Bà Nguyễn thị Năm (Cát Hanh Long), một
nhà đại tư sản, đã giúp đỡ "kháng chiến" rất nhiều. Kết quả là bà Năm
bị xử bắn để làm gương! Nhưng chỉ vài năm sau, trước làn sóng phản đối
của "nhân dân", ông Hồ "xin nhận khuyết điểm". Ông hối hận đến phát...
khóc (!) trước hàng trăm đại biểu Quốc Hội khoá 6 (bắt đầu từ cuối 1956
– 01/1957)! [*]
Sáng chửi, tối khóc! Khóc dễ dàng như Lưu Bị,
Kim Cương! "Bác" đúng là một kịch sĩ "vĩ đại"! Thế nên mới có một số
trí thức du học bên Tây năm xưa bị "Bác" dụ khị trở về nước, để rồi:
tàn một đời... gươm! (Trần đức Thảo, Nguyễn mạnh Tường, v.v.)

Từ ngày 16/9/1972, Cổ Thành không chỉ là một địa danh. Mà còn
là một ký ức, một vết thương của lịch sử. Một vết sẹo lớn không bao giờ
lặn của Việt Nam!
QLVNCH đã trả một giá đắt để lấy lại các vùng
đất mà các chúa Nguyễn đã dày công khai phá. Bởi vì một tấc đất không
chỉ là một tấc vàng. Mà còn là xương máu, công lao, là sự hy sinh, là
niềm kiêu hãnh, danh dự, v.v. của tiền nhân.
Cuộc tái chiếm
Quảng Trị không chỉ là một chiến thắng quân sự. Đó là chứng tích của
lòng can đảm, của ý chí không chịu khuất phục trước mọi cuộc xâm lăng,
của một thế hệ đã chọn đứng lại nơi lằn ranh giữa sự sống và cái chết
để gìn giữ điều họ tin là chính nghĩa.
Dẫu lịch sử đã bị người
Cộng sản viết lại, dẫu những chứng tích đã bị xóa đi! Dẫu thế nào đi
chăng nữa thì sự hy sinh của những người Lính VNCH năm xưa vẫn không đi
vào quên lãng. Mặc dầu nó đã thuộc vào quá khứ.
Cổ Thành năm
xưa, bây giờ, đã bị thay bằng... Thành Cổ! Nhưng không phải vì thế mà
không ai biết đến "Cổ Thành".
Cổ Thành của Quảng Trị, từ sau 75,
là một đài tưởng niệm không mái, đã được những người Dân, người Lính
VNCH, dựng lại. Bằng ký ức, bằng nước mắt, và bằng những nụ cười hãnh
diện!
Ngày nào còn có người cúi đầu trước Cổ Thành, qua những
trang Chiến Sử, qua những hình ảnh cũ, những bài viết nhớ lại, những
quyển hồi ký, v.v. xuất hiện ở hải ngoại, trên các website "VN–Tự Do",
với lòng biết ơn. Thì ngày đó, những người lính trong cuộc tái chiếm Cổ
Thành năm 1972 vẫn chưa bao giờ thực sự rời khỏi Quảng Trị!
Có
những điều không bao giờ cũ. Đó là hình ảnh những người lính "mũ đỏ",
"mũ xanh", cùng một số chiến hữu các đơn vị bạn, đã ngã xuống trên
những con phố tan hoang của thị xã Quảng Trị, trên từng bức tường đổ
nát của Cổ thành, mang theo lời thề giữ đất bằng chính hơi thở cuối!
Điều còn lại sau mọi biến động của lịch sử không phải là chiến thắng
hay chiến bại. Mà là SỰ THẬT, là lòng BIẾT ƠN và niềm HY VỌNG.
"Đem đạo nghĩa thắng hung tàn
Lấy trí nhân thay cường bạo." –[Bình
Ngô Đại Cáo]
Bây giờ là tháng Chín.
Tháng của "mùa–ký–ức" trong tôi!
Xin tri ân QLVNCH đã cho quê hương 21 năm "Nắng đẹp miền
Nam"!
"Xin cám ơn người nằm xuống"! [**]
BP
07/08/2026

Tác giả cước chú:
Tham khảo:
📌
cỏ thơm
📌
bên thắng cuộc
📌
tái chiếm cổ thành quảng trị ngày 16/9/1972
📌
tái chiếm quảng trị: trận đánh đẫm máu nhất trong chiến tranh việt nam
📌 vietnam war
– quảng trị
[*] đêm giữa ban ngày
(Trong hành xử ông là một diễn viên kỳ tài, như sau này tôi được biết. Cha tôi có kể chuyện khi đi
thăm bức tường công xã Paris ở nghĩa trang Père Lachaise (1946), có các quan chức Pháp tháp tùng, ông Hồ sụt sùi khóc,
lấy khăn tay thấm nước mắt. Trở về khách sạn, cha tôi hỏi làm sao ông khóc được, ông trả lời: "Mình làm chính trị,
khi cần khóc phải khóc được, khi cần cười phải cười được, mới làm chính trị được chứ". Cha tôi có ghi lại việc này
trong hồi ký "Tháng Tám cờ bay", được báo Văn Nghệ in phần đầu trong năm 1994).
[**] Ngân Khánh: ca khúc "Một mai giã từ vũ khí"

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch


|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
bp
nguồn: internet eMail by lbp chuyển.
Đăng ngày thứ Bảy, November 7, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH