
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự truyện
Chủ đề:
lính kể
Tác giả:
Trần Phước

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Những tháng gần đây, tin quốc tế và nhứt là tin Hoa Kỳ hằng ngày đều đề cập tới sự thách thức (showdown) Irak, nói rõ ra là có nên đánh Irak hay không? Và ngày 26 tháng 2 năm 2003 vừa qua chính Tổng thống G. Bush cũng đã nói với quốc dân Hoa Kỳ về viễn ảnh tương lai Irak, chung quy cũng chỉ là nêu lý do, trưng ra bằng chứng, để lấy đó mà đánh Irak một cách chính đáng vì dư luận quốc tế qua Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc gồm 5 nước, trong đó có 3 nước Nga, Pháp, Tàu không đồng ý. Dẫu chưa đánh thực sự, nhưng lực lượng quân sự Hoa Kỳ đã chuyển tới Vùng Vịnh Ba Tư, trong đó có con của chúng tôi, là một sĩ quan cấp tá hoa tiêu của đoàn quân Thủy Quân Lục Chiến.

Nó là đứa con thứ bảy trong gia đình mười đứa,
về trai, là đứa thứ tư trong số năm đứa. Hồi còn bé, mới sáu
tháng đã biết tự tiết chế vấn đề vệ sinh cá nhân. Nhằm lúc
tôi bị biệt phái phục vụ tại Trường Ðại Học Quân Sự Ðà Lạt
ba năm, từ năm 1966 đến năm 1969, lúc ấy nó còn quá nhỏ chưa
đầy một năm, mới chập chững biết đi, tôi thường đem nó theo
mỗi lúc tôi đi công tác ở Nha Trang, vì nó thích đi tàu bay.
Thấy ý thích của con như vậy, nên nhà tôi đã may cho nó
những bộ đồ bay bằng vải dù màu trắng, đỏ, và rằn ri cùng
với mũ lưỡi trai. Nó thích ăn nhứt là món trứng chiên,
thường gọi là oeuf sur plat, và uống coca cola. Vì thương
con, nên ngày nào cũng cho nó ăn hai quả trứng, đến nỗi da
nó vàng. Ði khám, bác sĩ cho hay là kết quả của sự ăn quá
nhiều trứng. Chúng tôi làm cha mẹ, thật là dại dột vì thiếu
kinh nghiệm. Sau đó phải bắt buộc ngưng ăn món trứng chiên
kia, nhưng nó không bao giờ vòi vĩnh hay khóc la vì không
được ăn món ưa thích độc nhất này, bởi rằng nó là đứa con
hết sức dễ dạy. Cho dẫu nó đang ăn ngon miệng, nhưng nếu bảo
nó ngưng ăn nửa chừng, nó ngưng ngay không chút phàn nàn.
Ngay đến giờ ngủ cũng vậy, nó đang vui chơi, có ai bảo đi
ngủ, nó đi ngủ ngay. Nhiều lần mấy người giúp việc vì muốn
rảnh rang nên bảo nó đi ngủ không đúng giờ, bị tôi rầy la
khi bắt gặp.
Sau khi tôi trở về lại Không Quân, điều
hành Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp ở Trung Tâm Huấn
Luyện Không Quân, Nha Trang vào cuối năm 1969 đầu năm 1970,
nó chưa đầy năm tuổi, nhưng đã tỏ ra cần mẫn giúp việc lặt
vặt trong nhà và rất hiếu thảo không những đối với chúng tôi
mà ngay cả đối với anh chị em trong gia đình nữa. Bữa ăn nào
nó cũng đi lấy nước cho cả gia đình trước khi ngồi vào bàn
ăn. Vì bé bỏng, làm việc chậm chạp, nên có nhiều bữa ăn có
món ăn ngon, chúng tôi vì bận, ăn sau, các anh chị nó ăn hết
phần ngon của nó. Chẳng những thế, mà lại có đứa lớn còn
trêu chọc nó, rằng hết đồ ăn rồi, mày ăn cơm với nước cá
cặn. Nó chẳng một lời đáp lại. Biết như thế, nên chúng tôi
bảo nó cùng ngồi ăn một lần với gia đình, nó vâng lời ngay,
nhưng nó không vui, có cảm tưởng rằng, phải có bổn phận phục
dịch các người lớn và giúp đỡ các em. Bởi vậy nên bữa nào có
đồ ăn ngon, chúng tôi thường hay để riêng phần cho nó, vì nó
ăn uống rất điềm đạm.
Hồi còn bé nó đã thích bay và
đã biết nhận dạng các loại phi cơ, chưa đầy sáu tuổi nó đã
có dấu chỉ biết điều khiển máy bay. Vào cuối tuần, tôi hay
bay một mình bằng T–41, để góp một số giờ bay cho đơn vị,
tôi thường cho nó đi theo. Khi lên trời, tôi chỉ bảo cho nó
cách bay. Sau khi đã điều chỉnh tàu bay bằng *trim* rất cẩn
thận. Xong, tôi bảo nó “Bây giờ con bay một mình, nhắm hướng
đó... và giữ thăng bằng như thế này..., cha ngủ đây.” Rồi
tôi nhắm mắt giả vờ ngủ. Nó biết cách sử dụng tay lái, qua
lại, lên xuống. Có lần bay về, nó mách với nhà tôi, hôm nay
nó suýt chết bởi tàu bay A–37 của chú Lạc đâm vào tàu bay
nó, vì tôi ngủ để nó bay một mình, trong lúc có A–37 bay xẹt
trước mũi tàu bay nó. Chúng tôi cùng ở chung cư xá với gia
đình cố Ðại tá Ðặng Văn Lạc trong khu cư xá sĩ quan Long
Vân, Căn Cứ Không Quân Nha Trang. Mỗi khi anh Lạc đi bay về,
anh đi ngang qua cổng cư xá chúng tôi trước khi vào nhà anh;
bữa nào con chúng tôi bắt gặp cũng chạy lại chào, anh Lạc
thấy nó ăn mặc đồ bay nên cũng dừng lại bông đùa với nó một
vài câu, nên nó tôn sùng chú Lạc lắm, mỗi lúc thấy A–37, nó
reo lên, kìa kìa tàu bay của chú Lạc đang bay đó.

Đời niên thiếu
Ngày mất nước ra đi, nó chưa
đầy mười tuổi. Bốn năm đầu gia đình chúng tôi định cư ở
Greenville, New York. Ba anh trai nó đi học trường xa, nay
nó trở thành trai lớn trong gia đình, giúp tôi quán xuyến
mọi công việc nặng nhọc, trong đó có việc xúc tuyết về mùa
đông và cưa cây về mùa hè. Mùa đông tuyết rơi ngập đuờng sá,
để xe cộ có thể lái ra đường, đi làm việc hay đi công
chuyện, tôi và nó bắt buộc phải xúc tuyết các lối ra vào
bằng xẻng, trong lúc dân địa phương dùng máy móc. Có bữa
thấy mặt nó đỏ ửng vì lạnh, tôi bảo nó ngưng tay, vào nhà
nghỉ ngơi, nó trả lời “Con chưa lạnh và chưa mệt.” Ngoài
trời tuyết lạnh, trong nhà thiếu ấm, mặc dầu nhà chúng tôi
đang ở có hai hệ thống sưởi, một lò đốt dầu, một lò đốt củi,
nhưng vì chúng tôi không đủ tiền cho chi phí này. Cảm thông
nỗi thiếu thốn của gia đình chúng tôi, các nhà thờ và nhà
giàu địa phương với vườn tược bát ngát, cây cối um tùm, đã
cho phép chúng tôi vào vườn của họ thâu nhặt các cây gỗ
chết, nên vào những ngày nắng ráo, tôi và nó thường hay vào
cưa cây ở những vườn này, đem củi về đốt lò sưởi trong sáu
tháng liền.
Có bữa hai cha con chúng tôi, vì không
biết, nên bị cây độc (poison ivy) làm ngứa cả thân mình,
chữa trị cả tháng không hết. Nay vết sẹo vẫn còn trên hai
cánh tay nó, thấy mà đau lòng. Nó người nhỏ, sức yếu, nên nó
đã nghĩ cách làm một cái xe chở gỗ bằng những khúc cây kết
lại, rồi buộc dây kéo gỗ từ trong vườn ra ngoài đường. Không
những thế, nó còn biết sửa chữa các máy móc trong nhà, hoặc
chế biến hay ráp nối những cơ phận hư hỏng của các đồ chơi
trẻ con bằng máy móc, thành những vật hữu dụng. Bởi vậy các
anh nó đặt tên cúng cơm cho nó là *Thằng Beo*
Văn 10
tuổi
Đầu tháng 8 năm 1979, gia đình chúng tôi trốn
chốn lạnh lẽo khổ nhọc, dời về Houston, lúc đó nó vừa đúng
mười bốn tuổi, một thiếu niên khỏe mạnh. Nó vừa đi học vừa
đi làm cho hãng Handy Dan trước kia, chuyên bán những vật
liệu làm nhà (hãng này sập tiệm bởi hãng Home Depot), nên
việc sửa chữa nhà cửa nó rất rành. Nó tự thay quạt trần một
mình không cần ai giúp đỡ, vừa cao, vừa nặng, trèo lên tụt
xuống trần nhà vừa nhỏ hẹp vừa nóng cháy người. Cũng như nó
tự ráp ván (paneling) cho phòng ăn một cách ngay ngắn thành
thạo chỉ trong nửa ngày. Ngoài ra, nó còn tham gia vào những
đội Thiếu Sinh Thiện Nguyện, được mặc đồ lính. Rất nhiều
cuối tuần lễ, nó cùng toán Thiếu Niên này đi tìm kiếm những
người mất tích và nhứt là đi kiếm tàu bay bị tai nạn trong
các rừng sâu. Đây là dấu hiệu báo trước về ý định nó muốn
sau này trở thành một người lính phi công. Mỗi lần đã tìm
thấy xác tàu bay bị nạn trong rừng, sau khi về nhà tuy mệt
nhọc đói khát và áo quần ướt sũng, lẽ ra nó cần ăn uống và
nghỉ ngơi, nhưng nó rất vui vẻ kể lại mạch lạc công tác khó
nhọc vừa qua, mặc dầu nó là đứa con ít nói nhứt nhà, và tỏ ý
tán phục người phi công.
Đời lính tráng
Năm
đang học trung học vào những năm cuối, nó cũng như hầu hết
mọi học sinh khác muốn tiếp tục học vấn, đều làm đơn xin vào
các trường đại học. Chúng tôi cứ nghĩ rằng nó sẽ chọn một
trong ba trường của Texas, như đại Học Houston, đại Học
Austin, hay đại Học Rice như các anh chị nó đang học. Nhưng
năm 1983 sau khi ra trường trung học hàng thứ bảy trong lớp,
nó báo cho chúng tôi biết là nó đã chọn trường Texas A&M.
Chúng tôi rất đồng ý, vì đây cũng là một trường tốt của
Texas. Đến khi nó bảo trong bốn năm đại học, nó sẽ theo
chương trình quân sự ROTC, ngành Marines tức là đoàn Huấn
Luyện Sĩ Quan Trừ Bị, Thủy Quân Lục Chiến, nhà tôi hết sức
ngạc nhiên, tôi cũng giao động, nhưng cố trấn an, hỏi:
– Tại sao con chọn Quân Chủng khó khăn và có tiếng cực
nhọc như vậy?
– Vì con thích.
Nó trả lời không
chút ngập ngừng và tiếp:
– Con sẽ học lái tàu bay.
Bây giờ đến phiên tôi há hốc mồm vì quá ngạc nhiên. Vì
không những nó chọn Quân Chủng đã khó, mà còn muốn trở thành
một hoa tiêu của Thủy Quân Lục Chiến lại càng khó hơn, vì
lực lượng không quân cơ hữu quá hạn chế, tức là số hoa tiêu
được lựa chọn cũng ít hơn, tất nhiên tiêu chuẩn lựa chọn
càng gắt gao hơn. Sau một vài phút bình tâm, tôi bèn nói:
– Nếu muốn trở thành một phi công, thì tại sao con không
chọn Không Quân hay Hải Quân Không Quân có phần dễ dàng hơn
vì có nhiều cơ hội?
Nó đáp:
– Con muốn là
người Việt Nam, chứ không muốn là người Lào hay Cao Miên.
Nghe vậy, tôi mỉm cười, nó tưởng tôi chưa hiểu, nên giải
thích thêm, rằng Thủy Quân Lục Chiến mới oai hùng như người
Việt chúng ta, còn Hải Quân là Lào, Không Quân là Miên. Đa
số quân nhân đều có thiên kiến, cho rằng Quân Binh chủng
mình đang phục vụ là oai hùng hơn cả, nên thường nêu ra
những ưu điểm trội nhứt của Quân Binh chủng mình, nhưng
không ai có lối so sánh lệch lạc và trẻ con như con chúng
tôi. Suy ra cũng không lấy chi làm lạ, vì nó còn quá trẻ,
chưa đầy mười tám tuổi, suy nghĩ non nớt lại tiêm nhiễm
những quảng cáo tuyên truyền trong đường lối tuyển mộ của
Thủy Quân Lục Chiến. Như vậy chứng tỏ nó đã có định kiến và
nay nhớ lại trong phòng ngủ của nó treo đầy những hình ảnh
về Thủy Quân Lục Chiến. Tôi thấy không cần giải thích hay
tranh luận gì thêm vì ước định của nó vừa mới bắt đầu, cần
khuyến khích nó mới phải, nên tôi ôn tồn bảo:
– Ừ,
Thủy Quân Lục Chiến hay, cha mong con đạt được những gì như
ý con nguyện.
Nó không đáp lại, nhưng nhìn trong ánh
mắt thấy nó vui, như vừa mới chinh phục được tôi.
Văn
Cadet

Thời Sinh Viên Sĩ Quan
Đầu năm
học 1983–1984, chúng tôi chở nó đến trường Texas A&M ở
College Station, cách Houston, nơi chúng tôi đang ở hai giờ
lái xe. Thành phố College Station nhỏ mà có được một đại học
to lớn với những địa ốc rải rác khắp nơi và số khóa sinh
trên dưới bốn mươi lăm ngàn người, nên có thể nói được đây
là thành phố Texas A&M vì mọi sinh hoạt và dịch vụ đều liên
quan tới đại học này.
Chúng tôi giúp nó mang đồ đạc
vào nơi lưu trú; thấy phòng ốc tuy chật hẹp, nhưng khang
trang và đầy đủ tiện nghi, nên chúng tôi cũng an tâm. Trước
khi ra về, chúng tôi an ủi nó đôi lời và dặn dò, nếu cần gì
cứ gọi về nhà, chúng tôi sẽ thỏa mãn hay đến thăm vì kể ra
cũng gần. Hai tuần lễ sau chẳng được tin con gọi về, nhà tôi
sốt ruột, dục tôi chở đi thăm nó vào cuối tuần. Khi đến nơi,
vừa bước xuống xe đã thấy nó đứng chờ sẵn ở bên ngoài phòng
trại. Chúng tôi hết sức sững sờ khi nhìn thấy nó với đầu
trọc là lẽ dĩ nhiên, nhưng hình hài nó hốc hác tiều tụy
không thể ngờ được, nhà tôi vừa ôm nó vừa khóc và bảo tôi
khuyên nó bỏ chương trình quân sự này đi, vì cho rằng chỉ
mới một thời gian ngắn mà nó đã ốm o, hư hao như thế, không
biết sau này nó có thể chịu đựng được không, sợ rằng sẽ ảnh
hưởng tới vấn đề học văn hóa của nó. Tôi đã từng phục vụ
Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang trong một thời
gian dài, nên rất thấu hiểu, đây là thời gian huấn nhục của
các Sinh Viên Sĩ Quan của các Quân Trường. Tôi nói sơ qua
cho nó biết về những khổ nhục gian lao trong mấy tuần lễ tới
sẽ còn nặng nề hơn nữa. Rồi tôi hỏi:
– Con có thể
chịu đựng được không?
Nó đáp không chút ngập ngừng:
– Con chịu đựng được.
Tuy nghe nó nói cương quyết
như vậy, ngay như tôi đã từng trải qua mà khi ra về cũng cảm
thấy xót xa, huống nữa là nhà tôi, dĩ nhiên rất buồn.
Sau thời kỳ huấn nhục, nó cùng bảy bạn đồng khóa về nhà
thăm chúng tôi. Nhà tôi rất mừng nay gặp lại con với hình
hài khỏe mạnh, đầu đã được phép để tóc dài nửa phân. Nhà tôi
làm bữa cơm thết đãi chúng nó với các món ăn thường như chả
giò, cơm chiên, và tôm rang muối. Khi ăn, chúng nó xin phép
dùng tay bốc ăn một cách tự nhiên và rất lanh lẹ, ngay cả
khi ăn cơm chiên. Vừa ăn, chúng nó vừa kể lại những hình
thức huấn nhục trong thời gian qua, trong đó có chuyện lúc
ngồi ăn là đáng ghi nhớ hơn cả. Khi ngồi vào bàn ăn, bụng
đứa nào cũng đang đói cồn cào, nhưng các huấn luyện viên
chưa cho ăn ngay, bắt phải ngồi đợi cả mươi phút, rồi hỏi:
– Các anh là ai?
Mọi sinh viên đồng thanh trả lời
là “Cá”.
Bây giờ tôi mới nhớ lại, nơi cửa phòng của
các sinh viên đều có chữ FISH, ý muốn ví người lính THỦY
Quân Lục Chiến nhanh nhẹn như kình ngư dưới nước, khó săn
tìm hơn là cọp beo trên rừng. Thời gian ăn chỉ trong hai
phút, khi nghe tiếng còi của huấn luyện viên, mọi sinh viên
cùng đứng phắt dậy. Hèn gì mà phải ăn bốc, mới có thể no hay
lưng lửng bụng; nếu dùng dao nĩa thì chắc chắn phải đói.
Nhưng nào đâu đã hết, có khi đang ăn như vậy, huấn luyện
viên, phần nhiều là các cán bộ thâm niên của khóa đàn anh,
cầm cả dĩa đồ ăn nước đổ ngay vào cổ áo trước ngực hay sau
lưng. Thật ra mục đích huấn nhục là tập cho người lính mới
hay sinh viên sĩ quan biết nhẫn nhục với những điều trái ý
hay bất công, hầu đem lại sự tuân hành mênh lệnh tuyệt đối.
Phần hành xác là tập sự chịu đựng và dẻo dai. Có như thế mới
đem lại sức mạnh khi lâm chiến là mọi người cùng đồng lòng
thi hành mệnh lệnh của cấp chỉ huy. Có thể hành hạ sinh viên
lao nhọc mất ngủ, nhưng không thể lấy thức ăn đổ vào người,
chẳng những dơ dáy mà làm cho người ta đói. Theo tôi, đây là
một hành động tàn nhẫn, không chấp nhận được. Nếu con chúng
tôi cho tôi biết sự việc này trong thời gian huấn nhục của
nó, thì có lẽ nay nó không còn ở trong quân đội. Chính tôi
cũng không ngờ lúc trước nó hư hao như vậy vì bao phen bị
đói.
Những hình thức huấn nhục quá đáng này đã giết
chết một sinh viên khóa của nó. Có một sinh viên sau khi
chạy mấy vòng về đến đích đã gần đứt hơi, anh ta đi chầm
chậm lờ đờ, nhưng các huấn luyện viên tưởng anh ta giả vờ để
lánh phần tập luyện kế tiếp, nên đã mang anh ta vào phòng
tắm tranh nhau giội nước vào người anh, có lẽ, có ý làm cho
anh ta tỉnh, không ngờ anh ta chết ngay trước mặt mọi người.
Báo chí địa phương kể cả Houston đều đăng tin không lành
này, nên có một số phụ huynh các sinh viên khóa này phản đối
chương trình huấn nhục có tính cách dã man này. Sau vụ chết
người này, vị sĩ quan cao cấp đặc trách và một số huấn luyện
viên ngành Thủy Quân Lục Chiến/Đại học Texas A&M bị đổi đi
nơi khác. Tai nạn thứ hai chết người trên mười mấy sinh viên
xảy ra mấy năm gần đây, lúc đó nó đã ra trường, nhưng chính
nó và các bạn đồng khóa đã từng đóng góp mồ hôi và máu trong
thời gian thụ huấn bốn năm, đó là tai nạn lửa trại, vì khiếm
khuyết kỹ thuật chồng chất, làm sập tháp gỗ đè chết những
sinh viên đang làm việc chung quanh. Hằng năm, Đại học Texas
A&M có truyền thống đốt lửa trại (bonfire) vào mùa Thu cho
sinh viên toàn trường vui chơi trong một đêm. Thời gian
chuẩn bị trước đó, các sinh viên sĩ quan vào trong các rừng
già đốn hằng mấy ngàn cây thông to bằng hai người ôm, đem về
dựng nên hình cái tháp bốn từng, cao tới bảy mươi hai bộ
(feet). Trong lúc dựng tháp tuy có dùng cơ giới, ngoài ra
toàn dùng sức người, khó nhọc biết bao, nặng nhọc nhứt là
công việc chặt cây và khiêng vác, sinh viên người nào người
nấy đều bị bầm vai, tuột da tay, bít tất dính trong chân và
muỗi mòng cắn khắp thân người. Các bạn con chúng tôi khi
ngồi ăn, nhắc lại chuyện này, đứa nào cũng thốt lên lời bất
mãn hay chửi thề. Không những bằng ý tưởng, bằng lời nói mà
bằng hành động; bảy sinh viên sĩ quan này đã rút lui khỏi
chương trình ROTC này vì những sự hành xác quá đáng kia.
Hai tai nạn chết người này đã gây sôi nổi một dạo, không
những ở địa phương mà toàn cả nước Mỹ. Từ đó đến nay, Đại
học Texas A&M không còn đốt lửa trại hằng năm nữa, chương
trình huấn nhục cũng cải tiến và chắc rằng Quân đội và Đại
học Texas A&M đã phải bồi thường thiệt hại cho những gia
đình nạn nhân trong hai tai nạn kia.
Ngoài ra, chương
trình cơ bản thao diễn trong bốn năm rất khổ nhọc, nhứt là
phần vừa diễn hành đội hình vừa bắt súng, các sinh viên nào
cũng than van. Các phụ huynh và thân nhân của các sinh viên
Đại học Texas A&M, không phân biệt quân sự hay không quân
sự, hằng năm vào những ngày lễ lớn như Ngày Chiến Sĩ hay
ngày mãn khóa, đều nô nức đi xem chương trình này; các sinh
viên sĩ quan biểu diễn một cách thuần thục và ngoạn mục
chẳng khác gì những đội cơ bản thao diễn chuyên nghiệp. Các
sinh viên sĩ quan không những đi đứng và bắt súng rập ràng
mà quân phục cũng phải gọn gàn thẳng nếp, nhứt là đôi giày
ống (boot) hết sức bóng loáng. Bởi vậy, mỗi lần về thăm nhà,
con chúng tôi đều ôm kè kè theo mình một hộp carton lớn,
trong đựng đôi bốt, chẳng khác gì như một vật báu, và hễ có
thì giờ rãnh rỗi là nó đem giày ra đánh bóng ngay.

Thời gian huấn
luyện phi hành
Cuối năm 1987 con chúng tôi ra trường
sau bốn năm đại học vừa văn hóa vừa quân sự. Vợ chồng chúng
tôi tham dự lễ ra trường, tôi được mời làm chứng lễ tuyên
thệ của nó chính thức gia nhập Thủy Quân Lục Chiến, bằng
cách cầm bản ghi các lời trung thành với tổ quốc Hoa Kỳ, đưa
ra trước mặt cho nó đọc. Sau đó, nó được đưa đến Căn Cứ Quân
Sự Hải Quân ở Pensacola để học bay. Ban đầu nó học bay trên
T–34, sự huấn luyện bình thường, duy chỉ có một tai nạn suýt
bỏ mạng, là hôm đó nó ngồi phía sau ôm nguyên một con ngỗng
trời máu me tùm lum vì tàu bay đụng phải, bể kiếng chắn gió
phòng lái. May mà tai nạn xảy ra gần phi trường nên cả thầy
trò về đáp an toàn. Tiếp theo, nó học lái trực thăng trên
H–57 và tốt nghiệp vào giữa năm 1990. Năm này bốn đứa con
chúng tôi cùng ra trường bốn bực khác nhau, đứa y khoa, đứa
đại học, đứa trung học, và nó là trường bay. Đại gia đình
chúng tôi tham dự lễ mãn khóa của nó đông đảo hơn cả. Các
thân nhân của các sĩ quan tốt nghiệp bay đều được phép thăm
viếng căn cứ quân sự Pensacola. Bãi đậu san sát hai loại phi
cơ T–34 và H–57. Các cháu nội ngoại chúng tôi được phép leo
vào trong các phòng lái, đùa nghịch với tay lái. Sau đó,
chúng tôi dự lễ gắn cánh bay chính thức ở bên trong một hội
trường. Lễ nghi đơn giản, nhưng rất ý nghĩa và cảm động. Cha
mẹ hay người đỡ đầu được mời gắn cánh bay. Sau khi đã gắn
cánh bay vào túi áo trên đại lễ phục trắng của các sĩ quan
tốt nghiệp, các bậc trưởng thượng đều nắm bàn tay lại thật
chặt thụi vào ngực con mình thật mạnh, theo tập tục. Vợ
chồng chúng tôi cũng làm như thế, để chứng tỏ rằng con mình
nay đã khôn lớn, có thể đứng vững giữa phong ba bão táp.
Tham dự lễ gắn cánh bay này tôi rất xúc động, nhớ lại
ngày mất nước ra đi, nó chưa đầy mười tuổi, không biết một
chữ Anh văn, mà mười lăm năm sau trở thành một hoa tiêu trực
thăng của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, trải qua biết bao
nhiêu gian lao thử thách. Con đường cam go này nó tự chọn
cách nay bảy năm khi cha con chúng tôi bàn luận với nhau,
ngày đầu nó bước chân vào đại học, tưởng rằng không đủ sức
đi tới đích, vì trở ngại ngôn ngữ và sự chịu đựng về thể
chất, không ngờ nay nó đạt được như ý nguyện. Phần tôi đã
giã từ bay bổng, tưởng rằng không còn dính dấp gì nữa, không
ngờ nay lại chính tay tôi gắn cánh bay cho con tôi. Đây là
một điều rất hãnh diện đối với tôi.
Trong thời gian
thụ huấn phi hành, nó thường liên lạc với tôi bằng điện
thoại, kể cho tôi nghe nhiều chuyện, ngoài chuyện bay bổng
ra, nó còn cho tôi hay, sinh viên Smith, sinh viên Jones
chưa tốt nghiệp mà chúng nó đã biết trước ngành chuyên môn,
tức là loại phi cơ sẽ được bay và đơn vị sẽ phục vụ, vì cha
mẹ chúng nó là nhân viên cao cấp trong chính quyền hay là sĩ
quan cao cấp hay tướng lãnh trong quân đội. Vừa nghe vậy,
tôi hiểu nhầm nó cần sự cầu cạnh, vội hỏi:
– Con có
cần cha giúp đỡ gì không?
Nó đáp ngay:
–
Không, con không cần gì hết, miễn là được bay trục thăng,
loại gì cũng được. Đơn vị phục vụ, nơi nào cũng không sao.
Thì ra ở đâu cũng có sự gửi gắm, thiên lệch vì quyền
thế.
Đúng như lời con chúng tôi nói, trong lúc bên
trong hội trường đang làm lễ gắn cánh bay, cho biết loại phi
cơ sắp bay và đơn vị sắp đổi tới, thì ngoài kia đã có người
viết lên kiếng sau của xe con chúng tôi với nét chữ rất lớn
CH–53, Camp LeJeune. Ra đến ngoài bãi đậu xe, chúng tôi hết
sức ngạc nhiên, khi nhìn thấy các chữ này, vì hồi nãy đâu
có. Con chúng tôi rất vui mừng khi biết mình sẽ được lái
CH–53, một loại trực thăng lớn, mạnh, và đi nhanh, bấy lâu
nó mơ ước. Còn Camp LeJeune ở North Carolina là căn cứ chính
của Thủy Quân Lục Chiến xưa nay.
Đời bay bổng
Đổi tới đơn vị mới ở Camp LeJeune, NC, nó bắt đầu xuyên huấn
trên CH–53 gần một năm trời mới trở thành hoa tiêu chính vào
lúc có chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, dưới thời của Tổng
thống Bush Cha. Nó đi đổi quân (relay) nhằm lúc chiến tranh
ở đây chấm dứt, vì chỉ đánh nhau chính thức có bốn ngày.
Trong lúc đoàn quân nó gồm cả trực thăng được chở từ nội địa
đến Vùng Vịnh mất cả tháng. Một cuộc chiến tranh mà các nhà
vạch kế hoạch và các tướng lãnh Hoa kỳ tự hào rằng ngắn nhứt
trong lịch sử chiến tranh thế giới, nhưng thực ra, sự chuẩn
bị và chuyển quân trước đó mất cả năm. Trở về từ Vùng Vịnh,
nay nó tập bay hành quân ở sa mạc vùng Nam California giáp
giới với Nevada. Mỗi kỳ thực tập như vậy kéo dài cả hai hay
ba tháng, chịu trận với khí hậu và sương gió, ban ngày có
hôm nóng tới 120˚F, ban đêm xuống còn 40˚F, gió có khi thổi
ba bốn chục miles một giờ, bụi mù trời làm áo quần dơ bẩn,
thân thể rít rát. Rồi đến phần tập hành quân thủy bộ, sinh
sống hằng tháng trên những chiến hạm chật hẹp và nóng bức,
có khi bắt buộc phải sinh hoạt gần buồng máy, nóng trên
120˚F, lại cộng thêm mùi dầu cặn rất khó chịu, muốn nôn.
Những giờ phút chịu cực nhọc như vậy, nó xem báo chí thấy
các phạm nhân đòi hỏi đủ điều về tiện nghi ăn ở; nó bảo tại
sao chính quyền không đưa các phạm nhân ấy xuống chiến hạm
hay đến sa mạc sinh sống với lính, để cho các phạm nhân hiểu
rằng đời sống vật chất của chúng nó trong tù sung sướng hơn
lính khi thực tập hay hành quân. Trong những lần tập trên
đại dương, nó có dịp sinh hoạt với đoàn viên tàu ngầm mấy
tuần lễ. Những lần thực tập hành quân hỗn hợp, nó gặp rất
nhiều lính Phi (Phi Luật Tân) trên tàu thủy, hễ rảnh rang là
họ chơi mạt chược, chẳng khác nào như trước kia nhân viên
phi hành thường hay xoa trong những lúc trực hành quân, để
cho đầu óc bớt căng thẳng và thì giờ qua mau.
Trong
công tác thường nhật có những lần đi tiếp nhận tàu bay từ
nơi xa. Có mấy lần nó đi lấy tàu bay từ bên California về
North Carolina, phải dừng lại nhiều nơi để tiếp tế xăng,
trong đó có trạm dừng chân ở phi trường Ellington Field,
cách nhà chúng tôi ở chưa đầy một mile, nên chúng tôi đón nó
đi ăn trưa và có dịp quan sát chiếc CH–53 bên trong bên
ngoài một cách tỉ mỉ. Từ trước tới nay, chỉ nghe nó tả về
trực thăng nó đang bay với những đặc tính như hình thù to
lớn, máy mạnh, và bay nhanh, tôi chỉ mường tượng, nay mới
thấy tận mắt. CH–53 đúng là một chiếc trực thăng khổng lồ.
Trong một phi vụ không hành bằng đội hình bốn trực
thăng, nó may mắn thoát chết thật lạ lùng. Khi đi, vô sự.
Khi về, có một bạn hoa tiêu rất ngại bay với cấp chỉ huy, vì
ông ta khó tính, nên xin hoán chuyển phi hành đoàn với nó.
Là kẻ vô thưởng, vô phạt, nó bay với ai cũng được, nên bằng
lòng. Trên đường bay từ Florida trở về North Carolina, phi
cơ anh ta dẫn đầu bay với một vị thiếu tá, bị nổ tung ngay
trước mặt, khi nó đang bay bên cánh phải. Sau đó cả đội hình
đáp ở một phi trường khẩn cấp thuộc South Carolina và vị chỉ
huy đã xin hoa tiêu thay thế và phi cơ vận tải chở ông ta về
Camp LeJeune, North Carolina. Nhưng nó đã xin tình nguyện
bay với các phi hành đoàn khác. Sau một hồi suy nghĩ, vị chỉ
huy đổi ý và cùng nó tiếp tục bay về bằng trực thăng. Phi cơ
vận tải nay chỉ chở các quân nhân không phi hành. Điều nó
ngại bay với mấy vị sĩ quan cao cấp tham mưu không phải vì
khó tính hay dễ tính, mà vì vấn đề kỹ thuật; các vị này ngồi
văn phòng lâu ngày, thỉnh thoảng mới bay cho đủ giờ ấn định
hằng năm, nên bay rất loạng quạng, nhất là khi thực tập đáp
trên tàu thủy. Nó bảo, bay với mấy vị này còn khó khăn hơn
bay với mấy hoa tiêu mới ra trường vừa đổi tới đơn vị cần
xác nhận hành quân.
Nguyên nhân tai nạn, một con ốc ở
trục quay bị gẫy, mặc dầu chiếc trực thăng này vừa mới nhận
lãnh cách đấy sáu tháng. Sau tai nạn này, các CH–53 ngưng
bay trong mấy tháng để xem xét lại và tu sửa. Cũng nhân về
vụ này, tôi có hỏi về vấn đề bảo trì, nó cho biết khả dụng
phi cơ tối đa là 75%, có khi chỉ 50%. Đôi khi khẩn cấp cũng
có tháo các bộ phận tốt của các phi cơ đang đợi bảo trì để
ráp hay sửa chữa cho các phi cơ cần thiết khác, vì thiếu cơ
phận thay thế, có khi phải chờ hằng mấy tháng.
Văn
với CH–53
Đầu năm 1992, nó đi thực tập nơi vùng tuyết
lạnh ở Na Uy. Ngày lên đường nhằm lúc nhà tôi đau nặng,
tưởng rằng không qua khỏi, nhưng tôi đã không giữ nó ở lại,
vẫn để nó ra đi, vì đây là cơ hội hiếm có. Tôi nghĩ rằng,
dẫu nó có ở lại cũng không làm thay đổi bệnh trạng nhà tôi.
Ba tháng sau, thực tập xong, trong khi trở về, đi theo đoàn
quân mất cả tháng, nên tôi đã làm đơn xin cho nó trở về
trước, đồng thời tôi có nói chuyện bằng điện thoại với cấp
chỉ huy trực tiếp của nó. Một điều làm tôi khó chịu, là sau
khi tôi đã xưng danh và nói liên hệ cha con, nhưng vị chỉ
huy của nó bảo tôi phải làm đơn qua Red Cross ở địa phương,
họ mới đồng ý. Tôi đành làm theo thủ tục, con tôi liền được
chấp thuận cho ra về trước. Và vị chỉ huy của nó điện thoại
báo cho tôi hay ngày phi cơ quân sự đưa nó đến Luân đôn, rồi
từ đó nó mua vé máy bay dân sự bay về Houston. Thời gian hai
tuần lễ nó về thăm, nhà tôi vẫn còn mê man, ngày nào nó cũng
ở trong nhà thương bên giường bệnh nhà tôi cho tới khi hết
giờ thăm viếng bệnh nhân, nó mới ra về. Những lần phép trước
và sau này, nó chỉ nằm nhà, ngủ cả ngày một cách say sưa, có
khi nửa thân trên divan, nửa dưới sàn nhà. Chỉ thức khi giờ
ăn hay bị các cháu phá rầy, bắt bồng ẵm hay đưa chúng đi
xi–nê. Nó rất hiền và thương cháu, đến đỗi tôi phải can
thiệp, bảo các cháu để cho chú ngủ. Trong hai tuần lễ cha
con gặp nhau với tâm trạng buồn phiền, nó chỉ kể cho tôi
nghe một chuyện về một trực thăng bị lún tuyết vào ngày nó
rời bãi tập, và không rõ sau đó như thế nào.
Học Chỉ
Huy & Tham Mưu
Sau khi thực tập hành quân trên sa
mạc, trên vùng tuyết băng, và thủy bộ, cuối năm 1992 nó theo
học khóa Chỉ Huy & Tham Mưu trung cấp. Tháng Ba năm 1993 ra
trường, nó được cắt cử hành quân ở Somalia trong chiến dịch
dẹp loạn đoàn quân của Tướng Adi Amin, nhưng không thành
công. Đến tháng Mười năm ấy, hết nhiệm kỳ sáu tháng, toán
quân của nó được rút về, giao công tác lại cho Bộ Binh. Một
số lính Bộ Binh này bị giết. Tướng Amin muốn bêu xấu, đã cho
lôi xác một tử sĩ này ra ngoài đường cho dân chúng Somalia
chà đạp. Hành động man rợ này đã khích động tâm lý dân chúng
Hoa Kỳ nói chung và làm đau lòng biết mấy các thân nhân của
tử sĩ kia, nói riêng. Nhưng chính phủ Hoa kỳ cũng đành bó
tay. Sau đó rút đoàn lính Bộ Binh kia về, mặc cho dân chúng
Somalia tự giải quyết lấy. Riêng tôi vì cảm xúc vụ này, đã
có ghi lại trong bài viết của tôi “Khổ Tâm đời Lính”. Tôi
xin ghi lại một đoạn đối thoại giữa cha con chúng tôi. Con
tôi nói:
– Cha có thấy trên TV xác một lính Mỷ bị bọn
Somalia kéo ra ngoài đường và chà đạp lên người không?
– Ừ, cha có thấy. Tôi đáp.
– Tụi Somalia dã man
chi lạ. Tụi không quân Bộ Binh thay thế tụi con ở Somalia,
chúng nó giỏi lắm, mà sao làm việc nhút nhát, bậy bạ như
thế. Nếu là tụi con (Thủy Quân Lục Chiến) thì thế nào cũng
lấy xác về bằng mọi cách.
– Ừ, cha cũng đồng ý với
con. Và cha chắc rằng các cấp chỉ huy liên hệ cũng nghĩ như
chúng ta, đã tìm mọi phương cách thu hồi xác nhưng không
thực hiện được. Có ai thấy đồng đội mình lâm nguy mà không
cứu? Có cấp chỉ huy nào thấy thuộc hạ mình tử trận mà không
tìm cách đem xác về? Chẳng qua là vì ngoài khả năng mà thôi.
Nhìn cảnh tượng kia, con có cảm nghĩ gì?
– Con thấy
bực mình lắm và rất tội nghiệp cho anh lính kia.
–
Nhìn xác kia, con xót thương bạn đồng ngũ và tức giận dân
Somalia. Vậy thân nhân kẻ tử sĩ kia đau đớn biết chừng nào.
Riêng cấp chỉ huy trực tiếp và liên hệ khổ tâm biết mấy. Nay
con mới cấp uý thừa hành, sau này thăng lên cấp cao, chức vụ
lớn, trách nhiệm nặng nề, con sẽ hết sức khổ tâm khi phải
đối đầu với những trường hợp tương tự.
Một điều ngạc
nhiên, con chúng tôi cho hay, là con của ông Tướng Amin là
một Trung sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, sau đó giải ngũ về
giúp cha mình. Suy nghĩ kỹ, thì đây là chìa khóa Hoa Kỳ dàn
xếp vụ Somalia.
Sau chiến dịch Somalia trở về, nó
theo học khóa Mưu Sinh & Thoát Hiểm. Hằng ngày phải mang
chín mươi cân (lbs) hành lý, leo rừng lội suối, vào những
ngày nắng trên 100˚F, bắt buộc phải uống hết một gallon nước
trước khi khởi hành, nếu không, thì không thể chịu nổi, vì
suốt hành trình dẫu có chết khát cũng mặc; nằm qụy ở đó,
người ta sẽ khiêng về, dĩ nhiên là trượt (fail) khóa học.
Nóng đến đỗi có hôm bình nước lạnh mang trong người trở
thành bình nước nóng, và bít tất dính nơi da chân cởi không
ra. Trong chương trình học tập, có phần thả ra ngoài biển,
khóa sinh mang quân phục cả giày nặng, tự bơi vào bờ hằng
dặm. Và một toán năm người, phải tự túc sinh sống trong rừng
một tuần lễ. Nhằm nơi không có trái cây, phải ăn rau cỏ và
thịt rắn. Vào ngày chót, có tàu bay thả cho năm miếng thịt
bò khô (beef jerky) cho năm người, nhưng có một khóa sinh ví
quá đói đã ăn hai miếng, còn lại ba miếng, bốn khóa sinh
chia nhau. Sự việc này nếu nói lại cho trường nghe, thì khóa
sinh kia bị đuổi khỏi khóa học ngay. Không biết chuyện giấu
nhẹm này có lợi hay có hại cho khóa sinh kia.
Mãn
khóa Mưu Sinh & Thoát Hiểm, nó tham gia chiến dịch Haiti,
với tư cách là một điều Không Tiền Tuyến (FAC), đưa một Linh
Mục cựu tổng thống bị truất phế trở lại ngôi vị cũ. Bỏ ra
ngoài vấn đề chính trị. Báo chí thường đăng tin, rằng quân
lính Mỹ mỗi khi hành quân bình định ở các nước ngoài, chỉ nổ
súng trường hợp tự vệ mà thôi, nghĩa là có bị bắn trước mới
có quyền bắn trả. Tôi có hỏi nó về lệnh này. Nó bảo “Tụi con
mỗi khi vào đất liền, hễ thấy nghi ngờ là bắn ngay, để bảo
vệ sinh mạng trước đã. Nếu không, để chúng nó bắn trước,
mình mất mạng rồi, đâu còn cơ hội bắn trả.” Và nó đã nêu ra
trường hợp khi đổ bộ vào bờ Haiti, thấy mấy tay chạy lui
chạy tới có vẻ khả nghi, là bắn ngay. Thì ra, đây là một
cách tuyên truyền, cho rằng quân đội Hoa Kỳ là một quân đội
hòa bình, chứ không phải hiếu chiến, chỉ bắn trả để tự vệ mà
thôi.
Trong chiến dịch Bosnia, nó ở hậu cứ, nhiều lần
thay mặt đơn vi trưởng đến chia buồn với những gia đình có
con hoặc thân nhân tử trận từ các chiến dịch bên ngoài điện
về. Không ngờ những điều nó thắc mắc cách đấy có mấy năm khi
còn mang cấp uý, thì nay nó phải hành xử. Nó bảo công tác
đến chia buồn với các gia đình tử sĩ khó khăn hơn là công
tác hành quân ở ngoài mặt trận.

Bị thương
Christmas năm 1998, như thường lệ, tôi ra phi trường đón
con chúng tôi về phép. Khi nhìn thấy nó từ trong cửa phi
trường đi ra chầm chậm; khi gặp tôi, nó nhếch miệng cười có
vẻ miễn cưỡng, không hớn hở như mọi khi. Tôi tưởng rằng nó
không được khỏe, cũng là chuyện bình thường, nên không quan
tâm. Khi về đến nhà, ngồi vào ghế dài trong chốc lát, nó
liền nằm xuống nghỉ ngơi có vẻ mệt nhọc. Tôi hết sức ngạc
nhiên khi nhìn thấy vết thương trên đầu nó. Gạn hỏi, nó bảo
nó bị thương nặng, nhưng vì nhà tôi đau, sợ xúc động có hại
cho sức khỏe, nên tất cả con cái trong gia đình đều không
cho hai vợ chồng chúng tôi biết về tin chẳng lành này. Thật
hết sức đau buồn khi nghe nó kể lại câu chuyện rủi ro sau
đây.
Cuối năm 1998, nhân cuộc công du của Tổng thống
Bill Clinton đến mấy nước Nam Mỹ, Phi Đoàn nó được cắt cử
một số phi cơ và phi hành đoàn tháp tùng, như một thành phần
trừ bị hay thay thế (back up) khi hữu sự, thì đúng hơn. Khi
đến Colombia, toán lính của nó trú ngụ trong một khách sạn
ngoài phố, gần dinh thự tổng thống, nơi đang diễn ra cuộc
hội đàm giữa hai Tổng thống Hoa–Kỳ và Colombia. Trong thời
gian nghỉ ngơi, toán lính Thủy Quân Lục Chiến phá phách
trong khách sạn; là cấp chỉ huy, nó đi can thiệp, bị ngay
một mảnh sắt trúng ngay vào đầu, bị thương rất nặng. Nhằm
lúc cuộc hội nghị đang tiến hành, nhưng Tổng thống Bill
Clinton đã cho phép vị y sĩ riêng của mình tháp tùng theo
chiếc phi cơ đặc biệt đưa con chúng tôi về trước, để chữa
trị tại nhà thương Hải Quân ở WDC.
Giờ đây tôi mới
nhớ lại những gì nó đã nói với tôi về tinh thần vô kỷ luật
của lính Thủy Quân Lục Chiến. Lính đã từng bắn chết cấp chỉ
huy ngay ở văn phòng. Nó nói “Con sợ có ngày con chết vì đạn
của lính dưới quyền con bắn bậy, khi con can thiệp chúng nó
đang đánh lộn.” Và chính nó cũng đã từng được các cấp chỉ
huy kinh nghiệm khuyên nó phải hết sức cẩn thận, mỗi khi
muốn can thiệp các vụ đánh lộn của lính tráng, cần có Quân
Cảnh và khí giới đi theo. Vì đã nhiều lần, nghe tin lính
đánh lộn, nó một mình, vì sợ trách nhiệm, nên tới hiện
trường ngay để mong giải quyết sớm. Nay ở xứ ngoài, không có
Quân Cảnh đi theo, nên nó đã bị thương như nó đã từng e
ngại, nhưng không cách gì tránh được.
Việc chữa trị
một năm thì lành, nhưng cần thêm một năm nữa mới đủ sức khỏe
để có thể bay lại. Trong hai năm này, đối với nó là cả một
thời gian phấn đấu rất gian lao, tưởng chừng như bỏ cuộc.
Phần chống chọi với vết thương đầu, phần phải trải qua không
biết bao lần khám nghiệm sức khỏe nhân viên phi hành. Lợi
dụng thời gian nghỉ bay này, nó theo khóa Chỉ Huy & Tham Mưu
cao cấp. Sau khi tốt nghiệp, nó được đổi đi Nam Hàn hai năm
làm Sĩ Quan Liên Lạc giữa quân đội Hoa Kỳ và quân đội Nam
Hàn. Hai năm làm việc ở đây rất cực nhọc về phần hành tham
mưu, họp hành liên miên. Hằng tháng đều có các phái đoàn
quân sự từ nội địa Hoa Kỳ đến thăm viếng Nam Hàn, nên cần
phải chuẩn bị các tài liệu thuyết trình cho cấp chỉ huy quân
sự Hoa Kỳ tòng sự tại Nam Hàn hết sức chu đáo. Nó đã từng
nói với tôi “Hết nhiệm kỳ ở Nam Hàn, con ra đi ngay, không ở
lại một phút”. Và nó đã thực hành thật, bằng cách xin nghỉ
phép hằng năm vào thời gian đang còn ở Nam Hàn để rút ngắn
thời gian phục vụ tại đây, thay vì năm chót về nội địa Hoa
Kỳ rồi mới nghỉ phép.
Văn với dạ phục Trung tá
Thời gian không được bay vì lý do sức khỏe, lại phải đảm
trách công việc tham mưu nặng nề, trung bình mỗi ngày phải
làm việc mười hai giờ đồng hồ, thay vi thông thường ai cũng
buồn chán, nhưng nó vẫn hy vọng một ngày nào đó nó sẽ được
bay lại. Ước nguyện này đã đến với nó khi nó đang nghỉ phép
thường niên ở Sydney, Úc Châu vào tháng 6 năm 2002. Báo tin
mừng này với tôi, nó rất hớn hở không những về những ngày
bay bổng sắp tới, mà còn cảm thấy sung sướng vì nay sức khỏe
đã bình phục như một nhân viên phi hành. Hết phép, trở về
nội địa, đổi đến đơn vị mới, nó phải bay lại trong thời gian
sáu tháng để được xác nhận hành quân. Christmas 2002 vừa
qua, nó về nhà nghỉ phép với đại gia đình chúng tôi đúng một
tuần lễ. Ngày 1 tháng 1 năm 2003, nó trở về đơn vị để chuẩn
bị lên đường, vì nay nó còn kiêm luôn cả sĩ quan bảo trì
nữa. Điều này đối với tôi là một điều lạ, nhưng nó cho biết,
đã là sĩ quan cao cấp của Thủy Quân Lục Chiến thì phải đa
năng. Ngày 22 tháng 1 năm 2003, nó gửi một điện thư, báo cho
mọi người trong đại gia đình chúng tôi biết nó lên đường. Nó
bảo trong ba tuần lễ vừa qua nó rất háo hức về việc xuất
hành và nhứt là rất bận rộn về sắp xếp và chuyển vận những
đồ nghề và cơ giới cho việc bảo trì phi cơ. Bởi rằng, trong
quá khứ, Phi Đoàn nó đã gặp trở ngại về bảo trì, vì khi ra
đi đã quên mang theo một đồ nghề sửa chữa đặc biệt, nên cả
Phi Đoàn phải ngưng bay trong bốn ngày. Riêng quân trang cá
nhân nó cũng trên 200 lbs, mà nó nghĩ rằng e cũng đang còn
thiếu một vài thứ, sẽ tính liệu sau. Hai tuần lễ sau ngày
khởi hành, nó gửi điện thư về cho gia đình biết là đang ở
trên một chiến hạm tiến về Vùng Vịnh Ba Tư, kèm theo hình
ảnh nó đang ngồi trong tàu thủy. Và bảo rằng, những ngày sắp
tới là thời gian yên lặng, mọi thư từ hay tin tức sẽ bị
ngưng. Sự kiện này chứng tỏ đơn vị nó đang tiến sát vào vùng
chiến.
Từ hôm nó ra đi đến nay đúng sáu tuần lễ,
trong thời gian này, qua tin tức báo chí, qua bài diễn văn
và buổi họp báo của Tổng thống Bush đối với đồng bào và giới
truyền thông Hoa Kỳ, cho thấy rằng chính phủ Hoa Kỳ đang gặp
trở ngại trong vấn đề chiến tranh với Irak, trong đó có trở
ngại về rải quân, (deployment) là đưa lực lượng quân sự đến
trú đóng gần vùng chiến, mà địa điểm thuận lợi nhứt là xứ
Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng nước này đã khước từ, mặc dầu Hoa Kỳ cam
kết chịu bồi thường 26 tỷ đô la. Cho nên chúng ta có thể
khẳng định đa số tiềm lực quân sự của Hoa Kỳ, trong đó có
Phi Đoàn con chúng tôi phục vụ, đang lênh đênh trên đại
dương ở Vùng Vịnh Ba Tư.
Tôi biết rằng, viết và khen
ngợi con mình là điều không hay, vì rằng nhiều gia đình Việt
Nam tỵ nạn nói chung và các gia đình Không Quân nói riêng,
cũng có con cái đang phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, không
những một đứa mà đến ba bốn đứa, mang cấp bực cao hơn con
chúng tôi nữa. Những đứa con khác của chúng tôi, đứa nào, về
văn hóa cũng học cao hơn đứa con lính này, nhưng tại sao tôi
lại viết về nó, vì nó là đứa con ngoan hiền nhứt nhà, nhưng
đã có một ý chí sắt đá và kiên trì, một mình tự phấn đấu để
vươn lên. Khi vào quân đội, nó đã chọn Thủy Quân Lục Chiến,
quân binh chủng khổ cực nhứt, để làm binh nghiệp của mình.
Hơn nữa, viết về con chúng tôi đang phục vụ trong quân
đội, để hé mở cho chúng ta biết rằng, quân đội nào trên địa
cầu này, ngay cả quân đội Hoa Kỳ, một quân đội tự hào tân
tiến, dân chủ, và kỷ luật nhứt thế giới, nhưng cũng không
ngoại lệ, cũng có những vấn đề khó khăn và khuyết điểm của
nó, như: kỷ luật, huấn luyện, chỉ huy, bay bổng, kỹ thuật,
và tư vị vì quyền thế.
Con cái chúng ta, thế hệ thứ
hai, sau hai mươi tám năm sống tại Hoa Kỳ này, đa số đã
thành công trong vấn đề học vấn, đã đóng góp một phần cho sự
thịnh vượng của xứ sở này về mọi lãnh vực, nhưng đóng góp về
xương máu là quí giá và thiết thực hơn cả. Tuy con chúng tôi
không thật sự đổ máu ở chiến trường, nhưng nó cũng bị thương
tích vì công vụ và đã chảy không biết bao nhiêu mồ hôi và
nước mắt ở các chiến dịch khắp thế giới. Nó đã thay cho đại
gia đình chúng tôi đền đáp ân tình của dân tộc và xứ sở Hoa
Kỳ này, đã cưu mang chúng tôi trong bước đường tỵ nạn lưu
vong từ trước đến nay. Và đây cũng là niềm hãnh diện gia
đình, há không đáng nói lên sao?

Nhớ ngày còn là SVSQ ở TT Huấn
Luyện KQ, mỗi khi chào cờ Đại tá Nguyễn Ngọc Oánh Chỉ Huy
Trưởng (sau này lên chuẩn tướng) chủ tọa thì đứa nào cũng
“teo” (không biết tại sao?).
Hôm nào Đại tá Trần
Phước (Mệ), Chỉ Huy Phó chủ tọa thì “không khí” thấy
“relaxed”, thoải mái hơn... Ông người ốm, ăn nói nhỏ nhẹ, ít
nói, có vẽ hiền lành. Tôi chưa bao giờ được nói chuyện hay
biết gì về ông nhưng ngày đó tôi thích và có cảm tình với
ông!
Trần Phước
nguồn:
hội quán phi dũng



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày Thứ
Tư, July 23, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH