

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự truyện
Chủ đề:
lính kể
Tác giả: KQ Trường Sơn Lê Xuân Nhị

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
– Mày biết không,
tăng nó bò qua khỏi phòng tuyến đầu, gần đến độ tao có thể
nghe được tiếng máy nổ, tiếng xích sắt khua động rầm rầm.
Tao biết nó vào gần lắm nhưng không cho lính bắn. Phải chờ
cho nó đến thật gần, gần nữa, đến lúc thấy không thể trật
được, tao mới cho bắn. Làm sao trật được, lính tao bắn lật
gọng một chiếc ngay tại chỗ này...
Thiếu uý Mai văn
Thành, Đại đội phó Đại Đội 3 Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 45, Sư
Đoàn 23 Bộ Binh hãnh diện nói với tôi câu đó vào một buổi
chiều mùa Đông năm 1972 tại ven thành phố Kontum. Nhìn thằng
bạn cùng lớp, cùng chung nhiều sở thích trong bộ đồ xanh bộ
binh với cặp bông mai đen nhánh nơi cổ và con ó đeo trên
cánh tay đang thao thao bất tuyệt, lòng tôi dâng lên niềm
cảm phục lạ lùng. Nó đó chớ ai nữa, thằng Mai văn Thành đẹp
trai dạo nào của trường La San Ban Mê Thuột bây giờ đã làm
một ông quan con bộ binh ngang tàng, biết uống la de chửi
thề "đù mẹ" ngon lành, biết kiểm soát tác phong và cử động,
cái gì cũng ra dáng một "cấp chỉ huy của quân đội".
Lần chia tay nhau ở niên học cuối cùng lớp đệ nhị đến nay dễ
có đến gần bốn năm. Giữa một nơi ngút ngàn khói lửa như quê
mình, nơi mà mạng sống của những thằng lính được tính từng
ngày thì bốn năm quả là một thời gian dài. Tôi biết nó đi
lính sau tôi vài tháng và về Sư Đoàn 23 Bộ Binh từ lâu nhưng
mãi đến hôm nay mới có dịp gặp nó. Từ ngày tôi đi lính đến
nay, ngoại trừ thời gian 6 tháng vừa qua là biết được chút
ít mùi chiến trận, còn thì chỉ ngồi lê la hết quân trường
này đến quân trường khác. Trong khi đó, thằng bạn tôi đã
"giày vẹt gót áo sờn vai thấm lạnh" trên khắp các nơi của
vùng II chiến thuật. Sự gian khổ và nguy hiểm còn đọng dấu
phảng phất trên khuôn mặt nó.
– Mày biết không, đù mẹ
tăng của nó ăn phải một trái M–72 đâu có nhằm nhò gì. Đù mẹ
nó quay pháo tháp lại quạt chết gần hết một tiểu đội của
thằng Hưng. Tụi tao phải dộng thêm ba bốn trái nữa mới chịu
nằm thẳng cẳng. Đù mẹ chính tao cũng nhảy ra khỏi miệng hầm.
Tại mình chưa bao giờ đụng tăng nên chưa biết chỗ bắn, phải
như bây giờ thì tao bảo đảm, hai trái mà không gục thì tao
nghỉ ăn lương chính phủ...
Mùa Hè vừa qua, Bắc quân
chơi ta pi canh xì phé cuối cùng. Thua thấy mẹ. Bây giờ là
mùa Đông, gần Noel gần tết rồi, lại còn dở trò tấn công đợt
II, đợt III, đợt con c... gì nữa đây không biết. Phan Nhật
Nam đã viết: "Người lính chiến Việt Nam đã chiến đấu và đứng
vững như một phép mầu". Tôi thấy người thiếu uý bộ binh đang
đứng trước mặt tôi quả là vững như một phép mầu.
–
Mày biết không, nếu không có Chuẩn tướng Lý Tòng Bá ở Kontum
này thì thành phố cũng bị mất mẹ nó rồi. Tụi nó tràn vô tới
hàng rào bộ tư lệnh Sư Đoàn, ông Bá ra lệnh cho lính văn
phòng, lính tham mưu, lính thương bệnh binh, lính gì cũng ôm
súng ra giao thông hào hết. Chính ổng ôm M–16 cùng mấy sĩ
quan đi kiểm soát từng giao thông hào, chỉ chỗ cho đặt từng
trái mìn claymore... Ông tướng này ngon thiệt...
Ông
quan con bộ binh khui thêm hai chai bia, nhắc người lính đưa
thêm vài cục nước đá rồi rót đầy ly tôi. Tôi nói:
–
Ngày xưa đi học, tụi tao gọi mày là "Thành biết không" vì
mỗi lần mở miệng, mày phải phụ đề câu "mày biết không". Đi
lính đã mấy năm, mày không bỏ được tật đó à?
Thằng
Thành cười:
– Làm sao bỏ được. Cũng vì cái câu này mà
tao bị phạt tơi bời ở trường bộ binh Thủ Đức.
Nó nâng
ly bia:
– Uống đi thằng... giặc lái. Nói thiệt, ngày
tao nghe tụi nó đồn là mày về không quân, tao cũng buồn vì
nghĩ rằng một thằng mất dậy như mày mà đi chùi rửa tàu bay
thì uổng đời trai. Té ra mày cũng lái được phi cơ...
Tôi cất giọng buồn buồn:
– Lái đầm già đâu có ngon
lành gì mày? "Mày biết không..." như tao mà chính phủ cũng
kéo đầu vào cho lái tàu bay thì đủ biết là nước mình bây giờ
khan hiếm nhân tài cỡ nào.
Thằng Thành cười:
–
Nói mày đừng buồn, lúc mới nhìn thấy mày trong bộ đồ phi
công, tao hết muốn đánh giặc. Đù mẹ tụi tao sở dĩ đánh giặc
"tới" được là nhờ có mấy chiếc tàu bay trên trời. Tưởng phi
công chúng mày oai hùng lắm, nào ngờ nhìn thấy thằng phi
công như mày tao đâm ra... "mất cả niềm tin."
Cho
rằng đã kê tôi được một câu hay, thằng Thành cất tiếng cười
hề hề sảng khoái. Tôi cau có:
– C... đù mẹ lâu ngày
mới gặp nhau mày cũng vẫn còn chứng nào tật nấy như hồi còn
đi học, chỉ khoái chơi thiên hạ. Còn mày...
Tôi suy
nghĩ một câu phản pháo nó nhưng kiếm mãi không ra. Không ra
hay tôi không nỡ? Nhìn thằng bạn đen đủi trong bộ đồ trận
màu xanh, tôi thấy thương nó quá. Thương như thương một
người anh em ruột thịt cùng sống chung trong một gia đình và
phải lớn lên trong cảnh nghèo khó. Cái gia đình đó là quê
hương Việt Nam. Ngoài thằng Thành và tôi, còn không biết bao
nhiêu người trai trẻ khác đã bỏ nhà mặc áo lính ra đi, bỏ
lại phía sau nhiều thứ: Tuổi trẻ, niềm vui, hạnh phúc, người
tình, v.v.
Nó nâng ly bia, vẫn nụ cười ngang tàng
sảng khoái:
– Đù mẹ mày biết không, lâu quá rồi, kể
từ ngày rời ghế nhà trường tao mới kê được một câu cho ra
hồn. Bạn bè nhà binh cũng nhiều nhưng không phải như bạn bè
hồi còn đi học...
Rồi nó phóng mắt nhìn ra ngoài lều
chỉ huy, nơi màn đêm đang bao phủ rừng núi trùng điệp của
vùng Tam Biên hiểm ác, giọng chùng hẳn xuống:
– Đù mẹ
mày biết không, đi đánh giặc tháng này qua tháng khác tao
không có thì giờ để suy nghĩ, lúc nào cũng chỉ lo giữ mạng
sống nên không buồn được. Về lại thành phố, có thì giờ rảnh
rang là thấy buồn kinh khủng...
Tôi đột ngột hỏi nó:
– Mày còn "liên lạc" với Hạnh không?
Tôi dùng chữ
"liên lạc" để dò đường vì đã ba bốn năm không gặp nó, không
biết giữa người con gái tên Hạnh và nó có còn gì với nhau
không? Thời buổi chiến chinh, ai biết được chuyện gì xảy ra?
Thằng Thành cười. Nó rút bóp đưa tôi coi một tấm hình.
Dưới ánh sáng mập mờ của ngọn đèn pin dã chiến, tôi nhìn
thấy cảnh 2 đứa chúng nó đang ngồi gần nhau trên chiếc Honda
bên một bờ suối. Tôi nhận ra ngay tấm hình này, chính tay
tôi chụp vào một buổi chiều. Phải, một buổi chiều như hàng
vạn buổi chiều khác của tuổi học trò mà đến bây giờ tôi mới
nhận ra đó là những buổi chiều vàng. Hồi ấy, Hạnh học trường
trung học công lập, chúng tôi học trường thày dòng. Hạnh
chẳng những đẹp và khéo léo lại bạo ăn bạo nói nên đã trở
thành đối tượng của bao nhiêu bài thơ của bọn chúng tôi lúc
ấy. Thơ tỏ tình thì khỏi nói, ngày nào vào lớp mà chẳng thấy
có thằng mắt ngầu đỏ vì suốt đêm thức trắng để viết thư cho
nàng. Vậy mà cả mấy năm trời, Hạnh đâu có thèm chấm đứa nào
đâu. Có đứa lại còn bị một vố đau ra gì như thằng Khuê. Từ
lâu, nó là một thằng học giỏi, làm thơ hay lại là con nhà
giàu đẹp trai nên chắc ăn lắm. Một ngày, nó vào lớp khoe ùm
lên với chúng tôi là nó vừa gởi cho em Hạnh một lá thư. Xưa
nay, học trò gởi thư tán tỉnh ai thì giấu kỹ như mèo giấu
cứt, để ngộ nhỡ có bị người ta khước từ thì cũng đỡ mất mặt
với thiên hạ. Thằng... học giỏi này có lẽ tự tin quá đáng
nên mới huênh hoang như vậy. Nó còn khoe là em Hạnh nhận thư
nó mà "Mắt chớp mau đầy vẻ cảm động" làm chúng tôi muốn lên
ruột. Nhưng vài ngày sau thì chúng tôi hả hê ngay. Lá thư
của nó được sao làm nhiều bản, gởi trả lại trường chúng tôi.
Độc đáo hơn, bản chính được bỏ vào bì thư, dán tem cẩn thận
gởi về nhà cho bố mẹ nó được dịp thưởng thức văn chương của
cậu con trai. Tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra cho nó
nhưng thằng Khuê bỏ học gần cả tuần mới dám vác mặt vào.
Nhìn thấy nó, chúng tôi đâm thương hại. Những thằng học giỏi
quá thường lẩm cẩm để bị con gái đá cho những phát chết
người như vậy. Đau khổ quá, vài ngày sau nó làm được một bài
thơ rất hay mà mãi đến bây gìờ tôi vẫn còn nhớ được vài đoạn
như sau:
Anh làm thơ ngày anh mười sáu tuổi,
Lời thơ ngây vụng dại đến vô duyên
Gởi cho em mà em chẳng
hồi âm,
Anh tức giận mang thơ mình ra đốt...
Đốt tất
cả mà tình không cháy được,
Nên dù buồn anh cũng vẫn yêu
em,
Vẫn làm thơ nhưng chỉ để mình xem
Rồi đau khổ cháy
âm thầm trong mắt...
Lúc ấy tôi cứ thắc mắc là
thơ phú của con nhà Khuê mùi như vậy mà không làm cho Hạnh
động lòng được thì bọn dốt nát và quê mùa như chúng tôi làm
sao tán nổi em? Sau ngày đó, thằng Khuê lại chí thú học hành
như muốn trốn chạy hiện tại trong cái biển sách cao ngất
trời của nó. Vì vậy, ngày xưa nó đã giỏi, bây giờ lại giỏi
gấp trăm lần...
Và tôi không hiểu trong trường hợp
nào, cái bóng áo dài kiêu sa chết người đó lại ngã vào tay
thằng bạn thân nhất và phá phách nhất lớp của tôi: Thằng
Thành. Những buổi chiều đệ nhị, dù bận bù đầu với đèn sách,
bốn năm đứa chúng tôi vẫn xoay ra được một mớ thì giờ để
xách xe gắn máy đi du ngoạn cảnh núi rừng. Và lần nào cũng
vậy, hễ có thằng Thành là phải có em Hạnh đi cùng. Thường
thường các cuộc đi chơi, nếu có tí... con gái dự vào thì sẽ
vui lên gấp bội phần. Hạnh của Thành thì khỏi nói, nàng vui
tươi đùa giỡn giữa chúng tôi như một cành hoa giữa đàn bướm.
Lúc nào cũng gần vừa đủ bên Thành để người ta biết rằng nàng
là của Thành, nhưng cũng không xa cách với chúng tôi quá làm
chúng tôi buồn...
– Mày vẫn còn... với em?
Thằng Thành gật đầu, nụ cười nó xót xa:
– Còn. Em vẫn
còn thương tao. Hai ông bà già em bây giờ hết ghét tao
rồi...
Tôi chỉ biết chuyện tình của chúng nó đến cuối
niên học năm đó là hết vì sau khi đậu tú tài, biết sức mình
sẽ chẳng qua nổi cái tú hai nên tôi từ giã gia đình dọt về
Sài Gòn tính chuyện đi lính. Những đứa khác đều ở lại tiếp
tục học hành và từ đó, tôi mất liên lạc luôn với chúng nó.
Tôi hỏi:
– Lúc tao đi thì mày còn tiếp tục ôm sách
tới trường mà. Mày được hoãn dịch, tại sao phải đi lính?
Thằng Thành lắc đầu, rót thêm bia. Nó ngồi suy tư một
lúc thật lâu mới nâng ly, lắc lắc cho mấy cục nước đá chạy
đều trong ly trước khi uống cạn. Nó thở dài, âm thanh nghe
thật não nùng:
– Tại tao ngu!
–...
–
Mày biết không, lúc mày đi rồi, vào một dịp nghỉ Hè, tao đưa
em... lên giường.
Thì ra vậy, nhưng tôi cũng chưa
hiểu hết:
– Mừng cho mày, cả trường chỉ có mình mày
là được diễm phúc đó. Mày nhớ thằng Trực thường nói là nó
chỉ cần được hôn được Hạnh một cái rồi đem nó ra bắn nó cũng
chịu... Nhưng như vậy có gì là ngu?
– Số tao xui, em
có bầu.
– Bầu thì cưới.
– Làm sao được. Mày
phải ở trong hoàn cảnh tao hồi đó mới hiểu được. Nhà cả hai
đứa đều nghèo, lấy nhau về rồi lấy gì mà ăn. Hơn nữa, ai lại
cho hai đứa học trò chúng tao cưới nhau?
– Vậy là mày
quất ngựa truy phong?
– Không!
Giọng thằng
Thành rã rời:
– Tao bắt Hạnh phá thai!
Tôi nốc
một hơi cạn ly bia mình đang cầm, cố gắng nhìn thật sâu vào
đôi mắt thằng bạn thân thiết ngày xưa. Nó bối rối nhìn xuống
đất như không chịu nổi ánh mắt của tôi. Thật sự, tôi chẳng
có tư cách gì để trách cứ nó, không hiểu nó nghĩ gì nhưng
thấy nó buồn quá. Quen nó bao năm, tôi chưa bao giờ nhìn
thấy khuôn mặt nó thảm sầu như tối hôm nay. Tôi rót thêm bia
cho nó. Thằng Thành từ từ nói tiếp:
– Xong việc đó,
em đau nằm liệt giường hết mấy tháng, tưởng đi luôn rồi. Ba
má Hạnh rồi cũng biết hết mọi chuyện. Mày nghĩ coi, tao còn
lòng dạ nào để cắp sách tới trường nữa. Có lần tao đã tính
tự tử...
Thằng Thành mồi điếu thuốc:
– Mày
biết không, năm đệ nhất chương trình nặng nề như vậy mà bỏ
học mấy tháng thì làm sao rút kịp? Giữa năm, tao kiếm ra một
giải pháp đẹp cho cả hai: Đi lính. Tao biết mình đã phá nát
đời Hạnh, tao muốn đi xa để Hạnh có thể xây dựng lại cuộc
đời. Mày biết không, thầy Dung ngày xưa có nói một câu là
vết thương dù trầm trọng đến đâu rồi cũng có ngày sẽ lành.
Thời gian sẽ hàn gắn được tất cả, sẽ trả lại cho Hạnh những
gì tao đã cướp đoạt nơi nàng. Tao biết Hạnh đẹp và thông
minh, nàng sẽ tìm lại được mùa xuân thứ hai của đời mình.
Mùa xuân đó, đáng buồn thay, sẽ chẳng có hình bóng của tao.
Mày biết tao yêu Hạnh như thế nào...
Lại một ngụm bia
nữa:
– Một buổi chiều trời mưa... mày biết cao nguyên
mình trời mưa nó buồn như thế nào, tao đến nhà thăm Hạnh.
Ông già Hạnh thấy mặt tao là muốn phang chổi vào đầu nhưng
tao lấy hết can đảm nói với ổng là tao đến từ giã Hạnh lần
cuối. Ổng cho tao vào nhà thăm Hạnh. Mày biết Hạnh nói gì
với tao không?
– Nói gì?
– Hạnh bảo Hạnh tha
thứ cho tao, và câu nói cuối cùng, nàng vừa nói vừa khóc
ngất: "Em yêu anh mãi mãi..."
– Mày có nói Hạnh là
mày đi lính?
– Có. Tội nghiệp Hạnh, nàng cầm tay tao
rồi lịm đi trong tiếng khóc, năn nỉ tao đừng đi. Mày biết
không, tao tưởng đến để từ giã nàng, không ngờ lại làm nàng
buồn thêm. Tối đó, tao ra đi, chân bước mà lòng như chảy ra,
trái tim nặng trĩu u sầu. Nếu ai hỏi tao có buổi chiều nào
thê lương nhất trong đời, tao phải nói là buổi chiều đó.
Tôi nhớ có lần về lại quê cũ cách đây khoảng 2 năm, ngồi
uống bia trong một quán cóc, vô tình nhìn thấy Hạnh đi qua
với hai người bạn, tôi chạy ào ra la lớn: "Hạnh, Hạnh...."
Hạnh dừng bước, nhận ra tôi, nàng chạy đến ôm chầm lấy,
tình cảm tự nhiên như bạn bè thân thiết lâu ngày gặp lại.
Tôi thấy nàng bạo dạn hơn, mặt tuy còn phảng phất nét buồn
nhưng vẫn đẹp như ngày nào. Hạnh khen tôi "đẹp trai ra" và
nhất định đòi "để Hạnh giới thiệu nhỏ bạn cho". Tôi chưa kịp
hỏi han về Thành thì nàng đã kiếu từ, quên luôn cả chuyện
giới thiệu mà nàng vừa nhắc đến.
– Mày biết không,
tao đã tưởng đi lính là xa Hạnh được, ai ngờ ra trường lại
về đúng Sư Đoàn 23 Bộ Binh.
– Mày gặp lại Hạnh?
– Bộ tư lệnh đóng tại đó mà, muốn trốn cũng không được,
mà mày biết không, người ta nói "tình cũ không rủ cũng
lại"...
Tôi hỏi:
– Hạnh còn yêu mày không?
Mặt ông sĩ quan bộ binh rạng rỡ, mắt ngời sáng:
–
Vẫn như ngày nào.
– Vậy thì có chó gì đâu mà phải
buồn quá vậy?
– Những ngày đầu gặp lại sau một thời
gian xa vắng, chúng tao quấn vào nhau như hai con sâu. Nàng
khóc, nàng kể cho tao nghe hết. Đù mẹ mày biết không, có đi
xa như vậy mới hiểu thằng nào là bạn tốt, thằng nào chỉ chực
chờ mình đi xa để tán tỉnh đào mình.
Tôi ngạc nhiên:
– Bạn bè tụi mình có những thằng mất dậy đến thế à?
– Có vài đứa nhưng tao không trách tụi nó. Dù gì Hạnh
cũng vẫn là gái chưa chồng, tao lấy tư cách gì cấm đoán
chúng nó.
Tôi thấy may phước cho mình vì đã đi xa từ
lâu. Nếu còn ở lại, nhìn bóng dáng Hạnh lẻ loi và đẹp trổi
lên như con thiên nga cô đơn giữa bày vịt chắc gì tôi đã
chẳng quên nghĩa bạn bè mà đến tán tỉnh nàng. Tôi lại càng
thấy phục thằng Thành hơn, thấy nó độ lượng và chín chắn
quá.
– Nhưng Hạnh đâu có chịu đứa nào, nàng coi tất
cả như bạn. Ba mẹ nàng hầu như cũng đã quên chuyện xưa cũ,
cho phép tao tới nhà chơi... Mà muốn ngăn cản cũng không
được vì nhà nàng bây giờ mở tiệm ăn, bán đồ nhậu.
–
Đẹp như Hạnh mà làm chiêu đãi viên thì khách khứa vào đông
phải biết?
– Còn phải hỏi, cây si mọc đầy nhà, mọc từ
ngoài cửa mọc vào tới trong quầy tính tiền. Có đứa còn bày
đặt làm thơ đề trên bàn để tặng Hạnh như kiểu tụi mình ngày
xưa ấy mà. Hạnh khoe tao ngày nào cũng bán được vài chục
ngàn...
– Thơ bọn ngố bây giờ làm có hay hơn thơ của
thằng Khuê hồi xưa không?
Thằng Thành cười:
–
Hay c..., báo hại Hạnh và mấy đứa em phải lấy "ô đờ ja ven"
ra chùi cả buổi.
Thằng Thành đột nhiên đứng dậy, lấy
cây Colt 45 nơi ghế đút vào bụng:
– Mày có mắc đái
chưa, để tao dắt ra ngoài đi đái với tao. Lính nó gài mìn
tùm lum, mày đi lạng quạng nó nổ văng mất... dái thì từ
"giặc lái" sẽ trở thành "lặt giái" như lời Việt cộng thường
gọi chúng mày...
Tôi đứng dậy, làm thêm một ngụm bia
rồi vuốt miệng khề khà:
– Đù mẹ mấy thằng Việt cộng
là vua chơi chữ, thằng nào muốn lặt thì cứ tới đây, tao chấp
cả bác Hồ của chúng nó... Nhưng mất cái gì thì được chứ mất
cái đó thì chẳng thà chết sướng hơn.
Tôi theo thằng
Thành bước ra khỏi lều của ban chỉ huy Đại Đội. Uống từ
chiều đến giờ đã sáu bảy chai rồi nên bước chân tôi có phần
nghiêng ngả. Ngoài trời vùng miền Tam Biên tối tăm mù mịt.
Len lỏi giữa một mớ hầm hố, giao thông hào một lúc, chúng
tôi ra tới hàng rào phòng thủ. Tôi vừa đi theo nó vừa cằn
nhằn:
– Đù mẹ đi đái mà cũng khó khăn vậy à? Đời
người có bốn cái thú, ăn ngủ đ... ỉa, bộ binh tụi mày xem ra
chẳng được cái nào cả.
Thằng Thành trả lời:
–
Đây là chỗ dưỡng quân rồi mà còn khốn nạn vậy đó thằng con
trai. Ở chiến trường, còn thê thảm hơn nữa.
Chúng tôi
dừng bước, đứng trên một ngọn đồi, khoan khoái cho nước
trong người chảy ra. Thằng Thành nói:
– Mày biết
không, mỗi lần đứng đái như thế này tao luôn luôn nhớ đến
một khúc phim xi nê đã coi lúc nhỏ, cái phim cầu sông "Quai"
gì đó. Thằng lính Nhật đứng trên cầu đái xuống, trúng vào
mặt thằng lính biệt kích Anh Quốc. Thằng này chỉ còn nước
nằm im mà nghe nước tiểu chảy trên đầu mình. Đã bao nhiêu
lần, tao tự hỏi có khi nào tao đái trúng vào mặt một thằng
đặc công Việt cộng nào đó đang nằm im trốn dưới hàng rào
không?
Tôi cười:
– Lính mình đi chơi đĩ tùm
lum, mang đủ thứ bệnh trong người, thằng Việt cộng nào vô
phúc bị đái vào mặt nếu không chết thì cũng mù.
Hai
đứa cùng cười lên sằng sặc. Thằng Thành nói:
– Đù mẹ
cho đáng đời. Ai biểu lính Cộng Hoà không chịu đi mà lại đi
lính Việt cộng.
Trên đường trở về, cơ thể thoải mái
nhẹ nhõm, chúng tôi sánh bước bên nhau. Tôi móc bao thuốc
rút một điếu tính mồi lửa nhưng con nhà Thành nhanh tay giựt
lấy cái hộp quẹt:
– Bố cho con xin, lát nữa vào lều
hẵng hút. Mày đốt lửa lên là Pháo nó ập vào đây chạy không
kịp bây giờ.
Tôi hoảng hốt bỏ điếu thuốc vào túi,
thầm phục thằng bạn. Mới ngày nào đây nó còn là một anh học
trò ngơ ngáo, chưa biết cây M–16 tròn méo ra sao mà bây giờ
đã kinh nghiệm chiến trường đầy mình. Nó nói tiếp:
–
Mày biết không, tụi tao và tụi nó canh chừng nhau từng ly
từng chút. Giữa rừng núi, chỉ cần một ánh lửa nhỏ lóe lên là
cũng đủ trở thành mục tiêu cho bao nhiêu cây pháo. Tiệc đang
vui, tao không muốn xuống hầm.
– Mày có lần nào bị
Pháo như vậy chưa?
– Như cơm bữa. Pháo thì nhằm nhò
mẹ gì, có lần chúng nó đánh đặc công mới ngán...
Chúng tôi đã trở lại lều. Tôi mồi điếu thuốc, thằng Thành
gọi người lính nướng thêm con khô mực và lấy thêm bia. Tôi
hỏi nó:
– Lần đó đánh đặc công ra sao?
– Đù mẹ
nhớ lại còn lạnh gáy. Mày biết không, nếu Tiểu đoàn trưởng
tao không có tiêu lệnh chống đặc công thì lính mình bắn vào
nhau cũng đủ tan hàng rồi. Cũng một đêm như thế này, tụi tao
đang yên giấc thì chúng nó lọt vào trại được. Mấy thằng gác
quờ quạng làm sao không biết mà để chúng cắt cổ chết tươi.
Cũng may là Tiểu Đoàn tao đã được thực tập chống đặc công
cách đó mấy ngày. Mới đầu, tụi tao cũng hoảng vía lên, không
biết giặc có bao nhiêu đứa, và tính chơi trò gì. Chúng nó
thằng nào cũng ở trần, mò mẫm đi trong bóng tối.
Hễ
tụi nó rờ trúng ai có mặc áo là cứ dao mà lụi lút cán. Tụi
tao cũng đâu có ngu? Bắn vài trái sáng lên, nhìn cái là biết
liền. Đù mẹ thế là phe ta cũng bắt chước lột áo ra ở trần
rồi theo đúng tiêu lệnh cứ nằm yên một chỗ. Sau đó thì có gì
là khó? Hễ thằng nào mò mẫm lạng quạng thì nó là địch, cứ
phơ chết mẹ nó ra. Gần sáng, tụi tao bắt sống được hai
thằng, bắn chết tại chỗ 7 thằng. Ba tổ tam tam mà. Chỉ tội
mấy thằng lính gác bị cắt cổ, có đứa dẫy đành đạch mà có ai
dám ra cứu? Ra để ăn đạn à?
Chiến tranh quả thật tàn
nhẫn. Tôi cũng không ngờ một thằng học trò cách đây vài năm
chưa dám cắt cổ một con gà như thằng Thành mà bây giờ nói
chuyện chém giết tỉnh bơ ngon lành như ngày xưa chúng tôi kể
chuyện xảy ra trong xi nê. Đời phi công chúng tôi cũng sống
trong cảnh lửa đạn tưng bừng nhưng có bao giờ nhìn được
những cái xác chết do mình gây ra. Tự nhiên, tôi nhìn xuống
bàn tay nó và nhớ đến câu thơ đã đọc được ở đâu đó: "Bàn tay
anh vấy máu quân thù..."
Thằng Thành lại rót thêm
bia:
– Uống đi mày... lâu ngày gặp lại nhau uống một
lần cho nó đã, không biết bao giờ mới có một ngày như hôm
nay.
– Lần cuối cùng mày về Ban Mê Thuột hồi nào?
– Cách đây hơn sáu tháng.
– Lâu vậy mày?
–
Nghĩ lại tao mới thấy buồn cho thân phận. Mày biết không,
chẳng thà đi hành quân trong rừng, tuy cực khổ và trách
nhiệm nặng nề, đầu óc lại không có lúc nào rảnh rang nên
mình không biết suy nghĩ, không biết so sánh, không biết
buồn, không biết mình cũng là một con người như bao nhiêu
người khác... Về dưỡng quân, nhìn lại cuốn lịch mới thấy
giật mình, mới thấy mình bị thiệt thòi nhiều quá...
–
Mày có ghé thăm Hạnh?
– Có. Gặp nhau bao giờ cũng vui
hết nhưng khi chia tay mới là buồn. Lần nào Hạnh cũng khóc
hết nước mắt. Tao thấy tội nghiệp Hạnh quá. Mày biết không,
tao chẳng còn gì để cho Hạnh cả, trong khi đó, nàng có rất
nhiều: sắc đẹp, sự thông minh, v.v. Hạnh vẫn thương yêu tao
và vẫn săn đón tao như ngày nào. Mày biết không, Hạnh còn
biên thư cho tao đều đều nữa. Tao sống được, chiến đấu được
là nhờ bởi những lá thư này. Nói thật với mày, ngày quen
Hạnh, tao cũng không ngờ nàng thương tao đến như vậy.
Tôi làm một ngụm bia, cười cười:
– Vậy là chuyện
tình của mày dù có tí đau thương nhưng cuối cùng vẫn có đoạn
kết như phim Ấn độ, thế nào cũng phải có màn "cưới kiếc" rồi
mới hết phim được. Anh chị Thành chừng nào cho em uống rượu
mừng đây?
Nhưng Thằng Thành không cười. Nó lắc đầu
buồn bã:
– Chắc chẳng bao giờ.
– Mày nói giỡn?
– Mày biết không, ông già bà già tao có đến nói chuyện
với ba má Hạnh. Bên nhà Hạnh bảo tao nên chờ vài năm.
Tôi phẫn nộ giùm thằng Thành rất mau:
– Chờ C...
đù mẹ bộ chê lính sao?
– Mới đầu, tao cũng chửi thề
tùm lum như mày nhưng rồi nghĩ lại, mình thấy không thể
trách họ được?
– Tại sao?
– Nếu mày có con
gái, mày đâu muốn gả con mày cho một thằng lính bộ binh
nghèo khổ với số lương không đủ mua bao gạo và không biết sẽ
mặc sơ mi gỗ lúc nào, ấy là chưa nói đến chuyện một năm ở
nhà chỉ có năm mười ngày...
– Mày nói đúng nhưng đó
chưa phải là cái cái lý do gần nhất.
– Lý do gì?
– Cái tiệm của nhà Hạnh. Nhà Hạnh đâu có khá giả gì, bây
giờ mở cửa tiệm, nhờ Hạnh mà khách khứa vào như điên, mỗi
ngày thu vô mấy chục ngàn. Hỏi mày, nếu gả Hạnh đi thì thằng
chó nào nó thèm vào mà trồng cây si nữa, tiệm chỉ còn nước
đóng cửa.
Thằng Thành gật gù, liếc nhìn tôi như nó đã
biết những điều đó nhưng không tiện nói ra. Tôi tiếp:
– Nhưng mày đừng quên là cả nước Việt Nam bây giờ, ngoại
trừ mấy thằng ba tàu và mấy thằng thương gia tham nhũng, ai
có con mà không đi lính? Đù mẹ ở Việt Nam bây giờ mà không
gả con cho lính thì gả cho ai?
– Dĩ nhiên là trước
sau gì người ta cũng phải kiếm một thằng con trai nào đó mà
gả phứt đi cho rồi, nhưng cứ chờ để nếu nó bắt được một
thằng công chức hay kẹt lắm là thằng lính văn phòng vẫn còn
đỡ hơn là thằng lính tác chiến bộ binh như tao...
Đêm
bây giờ đã khuya lắm. Mắt hai đứa đã bắt đầu ríu lại. Thằng
Thành nhìn đồng hồ rồi làm hết ly bia, đứng dậy. Nó đeo giây
ba chạc và súng ống vào rồi chụp cây M–18 trong góc lều thảy
cho tôi:
– Mày thủ cây này để lỡ có chuyện gì còn lo
thân được. Tao phải đi một vòng kiểm soát Đại Đội coi chúng
nó gác gỏng như thế nào, lát nữa trở lại. Đù mẹ để du kích
nó xông vào đây thì xệ với mấy thằng không quân tụi mày lắm.
Trước khi bước ra, nó chỉ tôi cái giường bố:
–
Nếu tao về trễ, không chờ được, mày cứ việc leo lên đó mà
ngủ. Nghe đạn pháo kích, cứ chạy thẳng hướng này, thấy cái
hầm đó không, của ban chỉ huy Đại Đội, cứ phóng vào đó là ăn
tiền. Nhớ xách cây M–18 theo, đù mẹ súng lục của chúng mày
bắn không chết Việt cộng đâu.
Người lính Truyền Tin
đeo máy vào theo gót ông thầy dọt ra ngoài. Còn lại mình tôi
trong cái lều chỉ huy vắng vẻ, ngồi độc ẩm chừng 15 phút,
tôi cảm thấy buồn ngủ không chịu được. Nốc cạn ly bia, tôi
cởi đôi giày rồi ôm cây M–18 phóng lên giường bố. Tuy uống
rượu đã say nhưng hình ảnh cuộc đột kích thằng Thành vừa kể
làm tôi thấy lạnh gáy, bèn ngồi dậy xỏ giày vào, lên đạn cây
súng, khóa an toàn lại cho chắc ăn rồi nằm ngủ ngon lành...
Hôm sau, trời chưa sáng tôi đã thức dậy để chuẩn bị đi
ké chiếc xe đốt tiếp tế về lại Kontum. Còn dư chút thì giờ,
thằng Thành bịn rịn mời tôi một ly cà phê. Chúng tôi ngồi im
lặng trong lều hút thuốc lá, suy nghĩ mông lung. Tôi không
biết nó suy nghĩ gì nhưng tôi suy nghĩ về nó, về những thằng
trai trẻ Việt Nam như nó và tôi phải bỏ nhà, bỏ người tình,
bỏ cả cuộc đời đàng sau để mặc áo nhà binh ra đi. Mỗi lần
đầu điếu thuốc nó rít đỏ lên, tôi để ý cặp mắt thằng bạn
mình vừa hào hùng vừa có vẻ xót xa.
Có tiếng động cơ
của chiếc xe đốt từ xa chạy tới. Tôi uống hết ngụm cà phê,
đứng dậy:
– Tao đi! Mày ráng giữ mình.
Thằng
Thành dụi điếu thuốc, bước theo tôi:
– Không biết
chừng nào mới gặp lại mày.
– Mày có nhắn gì với Hạnh
không, tao thỉnh thoảng cũng ghé về Ban Mê Thuột hoài?
– Khỏi. Tụi tao vẫn liên lạc thư từ với nhau.
Chiếc xe "đốt" lăn bánh rồi, nhìn lui, tôi vẫn còn nhìn thấy
thằng Thành đứng yên trên ngọn đồi trọc, đen sẫm giữa bầu
trời còn mờ sương buổi sáng. Lòng tôi chợt dậy lên những quá
khứ êm đềm của ngày xưa còn đi học...
Chừng năm sau,
trong một phi vụ tăng phái Ban Mê Thuột, tôi lại gặp thằng
Thành tại quán nhà Hạnh. Cái thú vui duy nhất của những
thằng bạn mặc áo lính lâu ngày gặp nhau luôn luôn là uống
rượu. Bữa tiệc tao ngộ bất ngờ càng có vẻ đậm đà hơn với sự
góp mặt của Hạnh. Nhìn hai đứa ngồi sát bên nhau, tôi thấy
chúng nó xứng đôi vừa lứa quá. Thằng Thành lúc này đã mang
lon Trung uý, vẻ phong trần làm cho khuôn mặt vốn đã đẹp
trai của nó càng trở nên lẫm liệt lạ thường. Nó cười nói
huyên thuyên, bắt tôi cụng ly lia lịa. Tôi đoán cuộc tình
của nó chắc đã có gì thay đổi. Quả thực, sau vài chai bia,
cu cậu xì tin vui ra:
– Mày biết không, nói cho mày
mừng, tao sắp sửa làm đám hỏi với Hạnh.
Tôi cụng ly
với nó:
– Nhất mày. Nói thật, nhìn cái bản mặt của
mày lúc mới bước vào đây, tao đã đoán vậy. Thành phố này sẽ
có khối đứa thức trắng đêm để làm thơ thất tình. Nền thi ca
Việt Nam lại sắp sửa có vô số kiệt tác bất hủ mới...
Hạnh cúi đầu giấu một nụ cười mà tôi không hiểu là hãnh diện
hay mắc cỡ. Thằng Thành nói:
– Như thằng Khuê dạo
nào?
– Tao nghe nói nó bây giờ đang du học ở
Canada...
Tôi nhìn Hạnh:
– Hồi đó sao Hạnh
chơi ác quá vậy? Thơ người ta biên tỏ tình, không thích thì
vất đi, tại sao lại phải sao làm nhiều bản để phát hành cho
cả trường đọc?
Hạnh cười, liếc mắt nhìn Thành. Tôi
chợt khám phá ra cái liếc mắt này là con dao sắc đã giết
chết không biết bao nhiêu trái tim của đàn ông.
– Tại
Hạnh ghét cái tính kênh kiệu của anh ấy. Cứ tưởng nhà giàu
đẹp trai học giỏi là ngon lành lắm...
– Cũng nhờ Hạnh
mà giờ này nghe nói nó đã đỗ Kỹ sư hàng không bên Gia nã
Đại.
Chờ cho đến lúc Hạnh bỏ vào nhà trong, tôi khều
thằng Thành:
– Ông bà già Hạnh đổi ý rồi à? Hồi nào
vậy?
– Cách đây vài tháng thôi. Nghĩ cũng tội, hai
ông bà cũng thương tao lắm đấy chứ, nhưng xưa nay còn ngần
ngại vì vẫn thương con gái mình hơn, sợ nó đeo khăn tang.
Bây giờ hòa đàm Ba Lê ký rồi, ổng bả nghĩ giặc sắp yên nên
mới nhận lời...
Nhắc tới Hiệp ước Ba Lê, tôi thấy
nhói trong tim. Hiệp ước c... gì mà lại để cho bọn quân xâm
lược đóng lại miền Nam. Tôi cụng ly chúc mừng nó, nói bâng
quơ:
– Mày nghĩ sẽ có hòa bình thật à?
– Hòa
bình c... Để rồi mày xem, tụi nó nghỉ ngơi chừng vài năm rồi
sẽ chơi một cú cạn láng cho coi, cái kiểu như năm 1972 đó...
Tôi nói đùa:
– Biết vậy thì mày phải làm sao mà
cưới Hạnh cho sớm. Để lâu quá hai ông bà thay đổi ý kiến thì
mất công làm lại từ đầu.
Thằng Thành không cười theo
câu pha trò của tôi. Trán nó nhăn lại đầy vẻ tư lự.
Mẹ Hạnh dọn món cá hấp ra rồi kéo ghế ngồi chung với chúng
tôi. Hạnh lăng xăng dọn chén đũa, điệu bộ y hệt một người vợ
hiền. Tôi không ngạc nhiên lắm khi nghe thằng Thành gọi mẹ
Hạnh là "Mẹ". Tôi hỏi:
– Mày về phép hay làm gì?
– Tiểu Đoàn đổi về đóng ở đây đã mấy tháng rồi, hy vọng
ở được càng lâu càng tốt, nhưng cũng vẫn không biết sẽ đi
lúc nào.
Món cá hấp thật là độc đáo. Hai thằng nhà
binh cứ luôn tay gắp, mồm nhai lia lịa, chẳng cần giữ ý tứ
hay lịch sự gì cả. Thỉnh thoảng, chúng tôi ngừng tay, nâng
ly nói với nhau "Dô đi mày", uống cạn ly rồi lại hăm hở thò
đũa ra gắp tiếp. Hai mẹ con Hạnh chỉ ăn uống cầm chừng,
dường như họ cảm thấy thích thú hơn khi nhìn chúng tôi ăn.
Hạnh khéo léo cuốn những cái cuốn thật đẹp để lên dĩa cho
tôi và Thành. Cầm cái cuốn do Hạnh cuốn trong tay, tôi thấy
thằng bạn mình tốt số quá. Nàng đã đẹp, thông minh, lại khéo
léo và chung tình như vậy thì bốn chữ "Công Dung Ngôn Hạnh"
không thiếu chữ nào. Các cụ đồ nho ngày xưa cũng chỉ mong có
được người vợ như vậy là cùng chứ mấy.
Tôi chỉ biết
gia đình Hạnh sơ sơ, và ngày xưa hơi có ác cảm khi nghe
Thành kể chuyện họ không muốn cho Hạnh cưới nó, nhưng sau
bữa ăn hôm đó, tôi nhận thấy mẹ Hạnh thật là hiền. Hiền như
bao nhiêu người mẹ Việt Nam khác. Tôi còn biết là bà rất
thương thằng Thành. Đúng như lời nó nói, bà chỉ lo cho con
thôi chứ đâu phải bà có ý định muốn gả con gái cho bọn nhà
giàu hay chỗ quyền quý như người ta thường nghĩ. Suốt bữa
ăn, bà cứ hỏi "Tụi con thấy rồi giặc có yên không?". Lần nào
thằng Thành cũng trả lời: "Yên chứ má, dân mình nghèo quá,
khổ quá rồi, đã đến lúc được trời ngó lại."
Đêm đó,
lần đầu tiên kể từ ngày xa ghế nhà trường, tôi thấy thằng
Thành sung sướng thật tình. Nó cười nói huyên thuyên, rót
rượu cho tôi lia lịa. Có lần, như tràn ngập trong biển hạnh
phúc, nó nâng ly nói với tôi giọng khề khà: "Mày biết không,
mình cứ ăn hiền ở lành, đời mình rồi sẽ có lúc được trời ngó
lại." Niềm vui của nó hình như cũng lây sang tôi. Tôi dụ khị
nó:
– Hôm nào đám cưới mày, mày cho tao đi phù rể
được không?
Thằng Thành vỗ vai tôi quả quyết:
– Bắt buộc. Tao phải nói với Hạnh kiếm mấy cô phù dâu thật
đẹp để cho xứng đôi với mày.
Chúng tôi lại cụng ly.
Dọn dẹp chén đĩa xong, Hạnh vô nhà trong lấy ra cây đờn ghi
ta đưa cho tôi:
– Bây giờ là đến phần nhạc yêu cầu.
Từ ngày anh đi lính, Hạnh chưa được nghe anh hát, anh hát
cho Hạnh nghe một bài đi.
Đã lâu lắm rồi, chúng tôi
mới có một dịp họp mặt vui như hôm nay. Gì chứ hát hỏng thì
tôi thích lắm, chẳng cần khách sáo liền dạo đờn, "đi" liền
bản Tuyết Trắng. Hết bài, Hạnh khen tôi rối rít nhưng thằng
Thành cười:
– Tao chán mấy thằng Không Quân nhà mày,
hễ có ca nhạc có nhảy đầm mà chúng mày không lôi bản Tuyết
Trắng ra để... hành hạ thì đem đầu tao ra chặt. Hỏi thật
mày, có một bài hát, nhai đi nhai lại mãi mà không biết chán
à?
Tôi hùng dũng chống chế:
– Có một bài nhai
đi nhai lại còn đỡ hơn không, vậy bộ binh tụi mày có bài gì?
– Tụi tao dân tứ chiếng, bài gì cũng hát được. Đưa đờn
đây, để tao hát một bài tặng người vợ sắp cưới.
– Bản
gì?
Tiếng dạo đờn vang lên dịu dàng. Tôi chịu thua
thằng Thành cái khoản này. Nó nhìn Hạnh:
– Hạnh muốn
anh hát bản gì?
– Tùy anh, nhưng lâu quá Hạnh không
nghe anh hát "Tình Nhớ".
Phải công nhận, nó đờn và
hát hay hơn tôi. Tiếng hát và tiếng đờn của nó như ôm kín
lấy chúng tôi. Hạnh nhắm nghiền mắt như uống từng lời ca của
người chồng sắp cưới. Tôi uống bia và đốt thuốc lá liên miên
cho đến khi hết bài.
Chưa kịp để ai vỗ tay, thằng
Thành lại dạo đờn. Lần này, nó cất tiếng hát: "Anh, hỡi anh
ở lại Charlie... anh hỡi anh giã từ vũ khí..." Không khí
trong nhà tự nhiên bỗng trở nên buồn kinh khủng. Hình ảnh
oai hùng, hình ảnh của chiến tranh, chết chóc tự nhiên trở
về. Giọng nó nghe như khóc nấc lên khi hát đến đoạn: "Anh,
cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình, Charlie,
tên vẫn chưa quen người dân thị thành..." Tôi thấy Hạnh chớp
mắt thật mau, ướt sũng không hiểu vì thương nhớ người anh
hùng đã ra đi hay nghĩ đến những ngày mai đầy bất trắc.
Xong bản nhạc, thằng Thành gác đờn không hát nữa. Một
bầu không khí im lặng bao trùm tất cả. Không ai nói với ai,
nhưng hình như mọi người đều cảm thấy mình đang sống trong
một giai đoạn cam go của đất nước. Hiệp ước "Hoà bình trong
nhục nhã" vừa được ký, người Mỹ gỡ được khúc xương mắc trong
cuống họng là lấy lại được các tù binh của họ. Bây giờ, họ
có thể rảnh tay cuốn gói ra đi. Ai dám bảo đảm giặc Cộng sẽ
tôn trọng hiệp định này? Tiền viện trợ cắt, vật giá leo
thang hàng ngày, tương lai quê hương thấy mập mờ quá...
Hạnh đột ngột phá tan bầu không khí:
– Hạnh đề
nghị tụi mình đồng ca đi.
– Ý kiến hay. Hát bài gì?
– Bài gì các anh thích nhất?
Tôi suy nghĩ. Bài gì
chúng tôi thích nhất nhỉ? Nhạc tình cảm? Chán bỏ mẹ. Hát về
Lính? Cũng chán phèo. Về chiến tranh? Buồn thảm quá. Tôi
muốn hát một bài nào có thể để đem tình thương, đem hy vọng,
đem tin yêu trở lại vào lòng chúng tôi như thưở nào còn đi
học. Nhìn bên trái tôi, Mẹ Hạnh ngồi nặng trĩu ưu tư. Trước
mặt tôi, khuôn mặt thằng Thành hằn lên nét mệt mỏi của chinh
chiến, và bên cạnh nó, Hạnh ngơ ngác như con chim non sắp
sửa rời tổ. Tôi nhớ đến một bài đồng ca của Phạm Duy mà
chúng tôi thường hát năm đệ nhị. Phải rồi, bài "Trả lại tôi
tuổi trẻ".
Tôi đề nghị. Tất cả đều đồng ý. Thằng
Thành nói:
– Có ai còn nhớ hết không?
– Ăn
nhằm gì, nhớ khúc nào hát khúc đó.
Tôi dạo đàn rồi
cất tiếng, cả bọn vừa vỗ tay vừa hát theo:
"Trả lại
tôi là tuổi trẻ mênh mông,
chúng mình như lúa reo trên
ruộng đồng.
Dù mưa tuôn, dù bão cuốn,
bông lúa vàng
cuồn cuộn gió đưa lên,
dù bom rơi, dù súng tới,
bông
lúa vàng vượt lửa khói lên ngôi...
Trả lại tôi là
tuổi trẻ yên vui,
dẫu rằng đang chiến tranh hay hoà
rồi..."
Tuy thuộc câu còn câu mất, nhưng bài hát ngày
hôm đó là một bài đồng ca hay nhất trong đời tôi. Tâm hồn
chúng tôi tự dưng sống dậy những ngày xưa yêu dấu cũ. Mười
bảy tuổi, đời chúng tôi quả thực như "lúa reo trên ruộng
đồng."
Chúng tôi đã lớn lên để thấy "dù mưa tuôn, dù
bão cuốn", đứa nào chết đã chết. Người còn sống, chấp nhận
hy sinh và hăng say chiến đấu để thấy cuộc đời chúng tôi vẫn
như "bông lúa vàng cuồn cuộn gió đưa lên..." Không phải chỉ
bọn trẻ mới thấy cảm động, chính mẹ Hạnh cũng chảy hai hàng
lệ khi chúng tôi hát đến câu:
"Trả lại tôi là tuổi
trẻ vô tư,
chúng mình như lũ chim trong rừng già...
Rừng âm u, đầy ác thú,
chim biết lừa được rừng rú vây
quanh..."
Và khi đến đoạn:
"Trả lại tôi là
tuổi trẻ bao dung,
chúng mình như gió khơi nơi mịt
mùng...
Dù non sông, còn cháy nóng...
tha thứ nhiều để
lòng thấy tin yêu..."
Tôi thấy nước mắt Hạnh chảy ra.
Nàng để yên vậy cho đến hết bài...
Năm ấy tôi vừa
tròn 21 tuổi. Sinh ra và lớn lên trong khói lửa, đó là lần
đầu tiên trong đời, tôi thấy xót thương cho tuổi trẻ Việt
Nam...
Khoảng tháng sau, tôi nhận được thiệp mời dự
đám hỏi của thằng Thành. Cầm tấm thiệp trong tay, tôi cảm
thấy mừng cho nó. Sao bao nhiêu sóng gió rồi cuối cùng hai
đứa cũng được ở bên nhau, như lời nó nói: "Rồi sẽ cũng có
lúc mình được trời ngó lại...". Hồi ấy, dù hiệp ước hòa bình
đã ký nhưng cuộc chiến càng ngày càng trở nên khốc liệt.
Giặc mở một loạt tấn công tại nhiều nơi để thử chân cẳng của
quân ta sau ngày Mỹ rút. Tôi bận đi hành quân lu bù nên
không về ăn đám hỏi nó được. Muốn mua gởi cho hai đứa một
món quà nhỏ cho đúng đạo bạn bè cũng chẳng có tiền, đành làm
lơ luôn. Một buổi sáng đi lên tăng phái cho Ban Mê Thuột,
tôi xách xe chạy ra quán Hạnh tính ăn sáng và nhân tiện để
thăm hỏi nhưng tiệm đã đóng cửa. Tôi đoán già đoán non rằng
tiệm phải đóng cửa vì khách tới tiệm để thưởng thức... Hạnh
chứ đâu phải món ăn, nay Hạnh đã là hoa có chủ rồi thì ai
thèm tới nữa. Tần ngần, đã toan bỏ đi thì Hạnh từ trong nhà
chạy ra gọi tôi. Chúng tôi mừng rỡ hỏi chuyện nhau. Tôi hỏi:
– Quán Hạnh đóng cửa hồi nào vậy?
– Mấy tuần rồi!
Và như đoán được những gì tôi suy nghĩ trong đầu, nàng
nói luôn:
– Không phải như anh nghĩ đâu. Tại ba Hạnh
được đổi về Nha Trang, nhà Hạnh phải dọn xuống đó. Nhà cửa
đã bán được rồi, hôm xuống Nha Trang mướn nhà Hạnh kiếm anh
quá trời mà không gặp.
– Kiếm để làm gì?
–
Để... nhờ anh chở Hạnh đi thuê nhà.
Tôi cười:
– Bạn bè đối với nhau tốt nhỉ?
Hạnh cười tỉnh bơ:
– Không nhờ anh thì nhờ ai? Người ta nói quen bạn 3 năm
nhờ trong một ngày mà.
Tôi chịu thua Hạnh về cái
khoản ăn nói thẳng ruột ngựa như vậy, chả sợ gì cả. Rồi Hạnh
mời tôi vào nhà, tôi từ chối vì có phi vụ cần phải cất cánh
sớm. Nhớ đến cái thiệp mời ăn đám hỏi mà chưa gởi quà, tôi
bối rối hỏi:
– Hôm nọ nhận được thiệp mời của Hạnh mà
không về được, uổng quá. Đám hỏi vui không?
Hạnh chớp
mắt thật mau như muốn giấu một vẻ chua cay nào đó vừa bốc
lên từ đáy lòng:
– Đám hỏi gởi thiệp đi khắp nơi mà
cuối cùng phải hủy bỏ. Anh Thành bận đi hành quân, không xin
phép về được.
Tôi thấy quặn đau trong ruột. Hạnh tiếp
luôn:
– Cả tháng sau, anh Thành ghé thăm nhà được một
ngày, ba mẹ cho tụi này làm đám hỏi luôn. Buồn cười lắm,
buổi sáng anh Thành về, buổi chiều làm đám hỏi liền. Gấp vậy
nên đâu có mời được ai, chỉ có vài người thân trong gia
đình. Ngay tối hôm đó, tụi Hạnh đang ngồi nói chuyện trước
sân nhà thì có xe díp nhà binh đến đón ảnh đi liền, nghe nói
Tiểu Đoàn đụng nặng lắm ở đâu đó...
Tôi tưởng tượng
đến cảnh ly biệt đau lòng đó của thằng Thành. Nhà Hạnh lại
sắp sửa dọn đi, biết chừng nào hai đứa mới được gặp nhau?
Đời lính khổ thật. Tôi đổi đề tài:
– Chừng nào Hạnh
về Nha Trang?
– Tuần sau. Hạnh xin mẹ ở lại đây cho
gần gũi anh Thành nhưng ba không chịu. Ba bảo đợi đến lúc
cưới xin xong thì muốn làm gì thì làm nhưng bây giờ thì "tại
gia phải tòng... bố".
Tôi lấy giấy biên vội cho Hạnh
cái địa chỉ ở Nha Trang rồi từ giã:
– Hôm nào về Nha
Trang nhớ ghé tôi chơi. Nếu tôi chở được thằng Thành từ
Pleiku về tới Nha Trang thì Hạnh trả công tôi cái gì?
– Một chầu cá nướng và một chai Martel.
– Nhất
Hạnh.
Người tài xế sang số chiếc xe díp lao đi. Hạnh
vẫy vẫy tay chào tôi. Lúc xe quẹo ở ngã tư đường, vô tình
nhìn lại, tôi vẫn còn thấy Hạnh đứng đó nhìn theo. Tôi biết
kỷ niệm của những ngày xưa còn đi học và lần gặp gỡ ngắn
ngủi lần trước vừa sống dậy trong lòng nàng. Trong một quê
hương khói lửa, sự đau khổ không chừa một ai. Nó làm nát
lòng người lính trẻ, làm chảy máu trái tim những cô gái dịu
hiền. Suốt ngày hôm đó, tôi suy nghĩ miên man về cái đám hỏi
của thằng Thành. Tội nghiệp nó, không biết giờ này nó đang
lê đôi giày đinh ở một xó xỉnh nào đó của quê hương...
Tính thì dễ vậy nhưng Hạnh dọn về Nha Trang rồi mà cả
năm tôi chỉ gặp được có vài lần. Cuộc đời lính... phi công
của tôi, một tháng thì 15 ngày đã phải đi biệt phái ở những
vùng địa đầu giới tuyến. Những ngày còn lại ở Phi Đoàn cũng
bay từ sáng đến tối mịt mới mò về, rồi còn bạn bè, còn đào
địch, còn bao nhiêu chuyện lỉnh kỉnh khác nữa chờ đợi, thì
giờ đâu đi thăm ai? Cuộc chiến ác liệt quá, không biết sống
chết lúc nào nên chúng tôi chủ trương "ăn chơi chết bỏ." Tôi
cũng chả còn bao giờ gặp được thằng Thành. Gặp Hạnh một lần,
nàng nói Thành chưa bao giờ được về thăm Hạnh. Chưa làm vợ
lính mà thấy nàng đã có vóc dáng và ăn nói đúng điệu vợ
lính. Cái gì cũng lo, ngày nào cũng chờ, và cặp mắt thì càng
ngày càng trũng xuống, buồn thăm thẳm. Nhìn nàng, tôi tự hỏi
nếu thằng Thành không phải là lính thì cuộc tình hai đứa sẽ
đẹp biết bao? Cả hai đều đẹp, đều thông minh, đều tài giỏi.
Tôi cũng chẳng giúp được gì vì thân phận mình lo còn chưa
xong, biết giúp đỡ ai.
Rồi một buổi sáng kinh hoàng,
Việt cộng đem ba Sư Đoàn bộ binh, mấy Trung Đoàn pháo, và
chiến xa bất thình lình tấn công và tràn ngập Ban Mê Thuột.
Quân ta chống cự anh dũng nhưng cuối cùng bị đè bẹp. Là một
phi công, tôi biết rõ lực lượng phòng thủ của quân mình tại
đây. Một Trung Đoàn bộ binh và một Liên Đoàn Biệt Động Quân
làm sao chống nổi một lúc ba Sư Đoàn địch? Một lần nữa, các
chiến sĩ bộ binh lại đem máu đào của mình ra để sửa chữa
những lỗi lầm của cấp chỉ huy. Tôi vừa biệt phái từ Phù Cát
về thì được tin Ban Mê Thuột hoàn toàn thất thủ sau gần một
tuần lễ giao tranh đẫm máu. Quân ta rút về lập phòng tuyến
mới ở Phước An. Có đi bay đánh giặc mới biết cái phòng tuyến
này trước sau gì cũng bị tràn ngập vì lính đã mất tinh thần.
Mất vợ lạc con, chẳng còn ai có tinh thần để chiến đấu nữa.
Tệ hơn, mọi người đều nói với nhau về cái tin đồn: "Ông
Thiệu ký mật ước giao cao nguyên cho Việt cộng để giữ đất từ
Nha Trang trở vào." Đã có mật ước trao đất với nhau thì đánh
đấm làm c... gì nữa, chết uổng mạng. Tuyến phòng thủ Phước
An chưa bị một trái pháo, lính đã thay phiên nhau bỏ chạy.
Lữ Đoàn III Dù từ miền trung về nửa đường được lệnh khăn
gói lên bố trí đèo Khánh Dương, con lộ duy nhất dẫn về Nha
Trang. Cả nước Việt Nam bàng hoàng rúng động, nhìn đâu cũng
thấy những khuôn mặt tang tóc sầu thảm. Một trong những
khuôn mặt tang tóc sầu thảm này là Hạnh. Một tối, nàng đến
tìm tôi.
Dĩ nhiên, câu hỏi đầu tiên của Hạnh là có
gặp Thành ở đâu không. Sư Đoàn 23, Sư Đoàn lừng danh đã từng
đánh tan nát Sư Đoàn 320 giặc, làm chúng tán đởm kinh hồn
năm 1972, nói theo danh từ của chính phủ mình là đang tái
phối trí nhưng thật ra là đã bị tan nát tả tơi. Tan mau đến
nỗi tin tức chưa tới tai dân chúng được. Quan quân lính
tráng chạy hỗn loạn mỗi người một nơi, biết đường nào mà
kiếm. Tôi đau khổ nhìn Hạnh, ráng kiếm một câu nói nào đó để
trấn an nàng nhưng nghĩ không ra. Hạnh khóc sưng cả mắt,
không nói được lời nào. Lúc chia tay, tôi hứa nếu gặp thằng
Thành, sẽ chở nó về Nha Trang cho Hạnh. Tôi nói chỉ để mà
nói vì tàu bay khả dụng hành quân còn chưa đủ thì kiếm ra
tàu bay ở đâu mà chở nó về. Hạnh nghẹn ngào nói "Anh ráng
giúp Hạnh" rồi chia tay.
Ngày hôm sau giặc đã kéo
được một ít quân về gần đèo Khánh Dương, tập họp để chuẩn bị
tấn công vào "tuyến máu" của Nhảy Dù. Phi cơ khu trục Việt
Nam, như những con diều hâu bị thương, nhào xuống đánh bom
tới tấp vào chúng. Hết hợp đoàn này đến hợp đoàn kia bay lên
nhào xuống, biến khu tập trung quân của giặc thành một biển
lửa kinh hoàng. Tôi biết trước sau gì chúng cũng sẽ mò tới
Khánh Dương được, chúng tôi chỉ muốn mua thời gian cho Nhảy
Dù có thì giờ chuẩn bị. Trong khi đó, lính Nhảy Dù của ta lẹ
làng và bình thản đào hố cá nhân, bố trí các điểm phòng ngự,
chuẩn bị cho một trận tranh hùng mà ai cũng biết sẽ rất là
khốc liệt. Trận tranh hùng bi thảm và oai dũng cuối cùng của
Lữ Đoàn III Dù.
Lính của Sư Đoàn 23 nếu chạy về được
đến Khánh Dương, đều bị Nhảy Dù tước hết khí giới, chất lên
GMC chở về trại lính ở Đồng Ba Thìn để chờ tái phối trí.
Hôm ấy, vừa đáp xuống phi trường Dục Mỹ, tôi gặp thành
Thành trong đám "bại quân" đó. Hai đứa gặp nhau mừng rỡ
nhưng nghẹn ngào. Thằng Thành bây giờ, vẫn còn bộ đồ nhà
binh bạc màu với cặp bông mai đen trên cổ áo nhưng nó không
còn là nó nữa. Nó như người đã chết rồi. Mặt nó thảm sầu và
đau đớn đến độ tôi không dám nhìn thẳng vào mắt nó. Nó đờ
đẫn bàng hoàng, mãi một lúc lâu sau mới nói với tôi được một
câu:
– Mày biết không, tao đâu ngờ sẽ có ngày như hôm
nay!
Tôi kéo nó vào chỗ nghỉ ngơi của phi hành đoàn.
Tôi tò mò muốn hỏi nó chuyện gì đã xảy ra nhưng thằng Thành
chỉ lắc đầu, mắt ngầu đỏ lên, nghiến răng uất hận:
–
Nói thật với mày, tao còn sống nhưng cũng như đã chết rồi.
Nếu tao chết, ít nhất tao cũng đã chết như một người lính.
Rồi tự nhiên, tôi thấy hai hàng nước mắt chảy dài trên
má nó:
– Nhục quá mày ơi. Nhục quá... Mùa hè năm 72,
chúng nó đông như vậy, tăng nhiều như vậy mà tụi tao còn
đánh cho banh ra, xác nằm đầy, chất đống mấy lớp... Vậy mà
bây giờ không còn cầm được cây súng...
Tôi không biết
nói gì, nhưng không có can đảm nhìn nó khóc. Trái tim tôi
như rướm máu, lòng dạ đau đớn bồi hồi.
Chúng tôi ngồi
nói chuyện chừng 10 phút, thằng Thành không hề nhắc đến Hạnh
một câu. Bỗng nó đứng dậy:
– Mày để tao đi.
–
Tan hàng rồi, đi đâu?
– Sư Đoàn tao đang gom góp tàn
quân ở Đồng Ba Thìn. Tao về đó lãnh súng ống và bản đồ để
sống mái với bọn Việt cộng này một lần chót.
Tôi kéo
nó ngồi xuống, nói:
– Mày mới bị... tan hàng, tâm hồn
còn dao động, đừng có vội làm gì? Người ta đem lính về đó vì
sợ tàn binh làm loạn, muốn gom lại một chỗ cho dễ kiểm sóat.
Tin tao đi, còn lâu mày mới được phát súng ống để chỉ huy
lại.
Thằng Thành cương quyết:
– Tao không thể
bỏ lính tao được, tụi nó đang chờ tao ngoài đó.
– Có
ai bảo mày bỏ lính đâu. Nếu giờ này mày vẫn còn lạc trong
rừng thì sao? Tao muốn mày về Nha Trang vài ngày để nghỉ
ngơi, thăm Hạnh một chút rồi đi cũng được. Tao hứa tao sẽ
chở mày lên Đồng Ba Thìn khi mày muốn.
Tôi phải năn
nỉ một lúc lâu nữa, đưa nhiều lý luận chứng minh thằng Thành
mới xiêu lòng. Tôi thấy nó hơi lạ kỳ vì chưa một lần nghe nó
nhắc đến tên người vợ sắp cưới mà chỉ nhắc đến mấy người
lính trong Đại Đội. Trước khi nhận lời, nó còn nhìn tôi hỏi:
– Tao cám ơn lòng tốt của mày, nhưng có phiền gì mày
không? Tao không muốn phiền ai hết.
Tôi phát cáu:
– Phiền c... gì? Đù mẹ bạn bè thân thiết với nhau cả đời
rồi chứ có phải xa lạ gì đâu mà phiền?
– Được! Tao về
Nha Trang vài ngày với mày nhưng mày hứa phải kiếm cho tao
được cái này?
– Cái gì?
– Kiếm tao một trái
lựu đạn. Loại mini càng tốt.
Tôi hoảng hồn. Một ý
tưởng chết chóc chợt nảy ra trong đầu tôi. Ông trung uý bộ
binh vừa thua trận này muốn gì đây? Tôi hỏi:
– Để làm
gì?
Thằng Thành trả lời bình thản, mắt nhìn lên bầu
trời thăm thẳm:
– Để tao tự xử lấy tao. Tao thề không
để cho chúng nó bắt sống tao. Đù mẹ tao mà chết thì cũng
phải có vài thằng chết theo tao.
Tôi đang phân vân
thì nó cúi đầu xuống nghiêm nghị nhìn tôi, ánh mắt tóe lửa
ra. Quen nhau từ ngày còn đi học, tôi biết tính thằng này.
Nó nói là nó làm.
– Cái đó thì dễ, nhưng mày phải chờ
về tới Nha Trang đã. Mày sắp lên phi cơ, không ai cho đeo
lựu đạn theo!
– Nhưng mày phải hứa với tao.
–
O.K. Tao hứa.
Nửa tiếng sau, tôi gởi được thằng Thành
theo một chiếc trực thăng về Nha Trang. Chiều đó, tôi lái xe
Honda ra khỏi cổng phi trường, có thằng Thành ngồi sau lưng.
Tới đường lộ, tôi móc túi đưa cho thằng Thành một trái lựu
đạn mini:
– Tao năn nỉ mãi mới xin được của Nhảy Dù
trái mini này, tụi này quí lựu đạn hơn vàng. Nhưng tao mong
là mày sẽ không bao giờ phải dùng tới nó.
Thằng Thành
cầm trái lựu đạn trong tay như người ta nâng niu một món đồ
quí. Một lúc sau, nó nói với tôi:
– Bây giờ tao mới
thấy... thoải mái.
Tôi lắc đầu, không hiểu nó được.
Đường Độc Lập dọc bờ biển chiều nay trời như cũng muốn nhuốm
màu tang tóc. Tôi nhớ đến cách đây chừng mười năm, tôi và
thằng Thành về Nha Trang thi lấy bằng Trung Học. Mỗi chiều,
chúng tôi thường ra bờ biển kêu một chai coca để có cớ ngồi
ngắm biển cho đến tối mịt mới về. Tuổi thơ yêu dấu sao trôi
đi nhanh quá, như một giấc mộng. Tôi hỏi:
– Mày muốn
về nhà tao tắm rửa rồi đi thăm Hạnh hay muốn đi thăm Hạnh
trước?
– Mày chở tao tới nhà Hạnh liền bây giờ đi.
– Mày không muốn tắm rửa thay quần áo coi cho được chút
à?
– Được c... Tao không muốn giấu giếm gì cả. Tao
muốn Hạnh nhìn thấy thằng lính bộ binh bại trận nó như thế
nào.
Chiếc xe Honda vừa thắng trước nhà Hạnh thì cả
nhà ùa ra. Tôi thấy có cả ba Hạnh, vốn là một người "khô
khan" cũng chạy ra mừng rỡ. Hạnh ôm chầm lấy thằng Thành
khóc ngất trên ngực nó. Ông già Hạnh cũng vồn vập, mỗi người
hỏi một câu làm thằng Thành không biết phải trả lời ai
trước.
Tôi xin kiếu từ đi về nhưng ba Hạnh nhất định
không cho, đành bước vào nhà. Mẹ Hạnh hối mấy đứa con đi mua
thức ăn về để làm tiệc "ăn mừng." Ba Hạnh làm một hành động
làm chúng tôi ngạc nhiên: Ông khui chai rượu cognac, rót đầy
ba ly. Trước khi để thằng Thành đi tắm, ông nâng ly và nói
với chúng tôi:
– Đàn ông mình thường khô khan, ít khi
bộc lộ tình cảm ra ngoài nên bác có điều này muốn nói với
hai con từ lâu nhưng chưa bao giờ có dịp. Hôm nay, nhân ngày
trở về từ cõi chết của Thành, bác muốn nói với chúng con
rằng bác, cả gia đình bác, đều thương yêu và ngưỡng phục
những người lính như chúng con. Bác không có con trai lớn
nên không hiểu sự đau thương của những người cha có con đi
lính đánh trận. Chúng con đáng thương quá. Chúng con đem cái
quí nhất của cuộc đời là mạng sống ra để chiến đấu với quân
thù cho những người như bác đây còn được sống an lành và lo
làm ăn buôn bán. Sau ngày Ban Mê Thuột thất thủ, bác mới
thấy rằng xã hội Việt Nam mình hèn quá, ích kỷ quá, nhu
nhược quá. Trong lúc những người như Thành, như con đang cực
khổ ngoài trận chiến thì ở hậu phương chỉ biết lo ăn chơi,
lo làm giàu. Nhiều khi, bác tự hỏi, nếu một ngày nào đó, tất
cả chúng con chán nản bỏ súng, cho giặc cộng nó tràn về
thành phố thì có ai còn được thảnh thơi để lo làm giàu hay
lo ăn chơi... Trên đời này, có nhiều cái người ta được hưởng
mà không biết giá trị của nó. Có bao giờ các con gặp một
người mù, hay một người cụt chân cụt tay chưa? Khi mình nhìn
thấy những thiếu thốn của họ, đó là lúc mình nhận ra những
gì mình có là một đặc ân, một hạnh phúc. Bác là người Việt
Nam, sinh ra và lớn lên trong lúc đất nước chiến tranh mà
vẫn chưa bao giờ nghĩ đến cuộc chiến. Bác cứ tưởng đó là bổn
phận của chánh phủ, của mấy ông nhà binh phải lo... Cho đến
ngày hôm nọ, Ban Mê Thuột bị thất thủ, bác biết ra thì đã
quá muộn rồi.
Chúng tôi im lặng nghe ông nói. Ông
ngừng một chút rồi nghẹn ngào:
– Thôi, Thành, con về
được coi cũng như là một đại phúc của nhà mình, bác uống
mừng con...
Chúng tôi uống cạn ly. Thành theo Hạnh
vào nhà trong lo thay quần áo và tắm rửa, tôi ngồi lại với
ba Hạnh nơi phòng khách. Ông rót tiếp ly rượu thứ hai:
– Con thấy tình hình thế nào?
Đây là một câu hỏi
rất là thừa thãi lúc này mà tôi thấy gặp nhau ai cũng hỏi.
Tôi lắc đầu chán nản:
– Tụi nó đem ba Sư Đoàn đánh úp
Ban Mê Thuột. Xong Ban Mê Thuột rồi, chúng nó đang kéo quân
hết về đây. Nhảy Dù đang làm phòng tuyến mới ở Khánh
Dương...
– Phòng tuyến Nhảy Dù có vững không con?
– Dĩ nhiên phải là vững, Nhảy Dù mà. Muốn qua được phòng
tuyến này chúng nó cũng phải trầy vi tróc vảy...
–
Nhưng liệu chúng có qua được không?
Tôi chua chát:
– Mười đánh một, không chột cũng què. Nhảy Dù ngon lắm
nhưng con thấy một Lữ Đoàn làm sao cự nổi ba Sư Đoàn. Nếu
không được tăng viện, đồi Khánh Dương rồi cũng sẽ trở thành
đồi Charlie của Đại tá Bảo như ngày nào...
Ba Hạnh
cúi đầu bối rối. Trán ông nhăn lại với những suy nghĩ. Tình
hình ngày càng trở nên bi đát. Cuộc rút quân của Quân Đoàn
II từ Pleiku đã biến thành cuộc chạy loạn vô trật tự. Lính
bắn nhau, lính làm loạn, v.v. Ông lại hỏi tôi về mớ tin đồn:
– Nghe nói mình chỉ giao Cao Nguyên cho Việt cộng thôi
mà?
Tôi nốc một hơi cạn ly rượu, lắc đầu:
–
Nói thật với bác, con cũng chỉ mong vậy, nhưng đi bay, con
không thấy có dấu hiệu nào là giặc sẽ ngừng lại hết.
Rồi tôi không muốn nghĩ đến hiện tại, đến ngày mai nữa. Bi
thảm quá. Lúc ấy lòng tôi cũng bàng hoàng bối rối chẳng kém
gì ông. Nhà tôi ở Ban Mê Thuột, không biết gia đình giờ này
sống chết ra sao. Trong tình trạng này, cái có thể làm được
là an ủi lẫn nhau, là ráng tìm một niềm tin nào đó để tin
vào và... uống rượu.
Lúc thằng Thành trở ra thì tôi
đã làm đến ly rượu thứ ba hay thứ bốn gì đó. Tôi ngồi vào
bàn ăn đối diện với thằng Thành. Sát bên nó, dĩ nhiên là
Hạnh. Thằng Thành mặc một bộ đồ dân sự cắt rất đúng thời
trang của em trai Hạnh. Tôi để ý thấy nó cất trái lựu đạn
trong túi áo trên. Và tôi bỗng giật nảy mình khi nhìn thấy
một vẻ gì khác lạ rất khó hiểu trên khuôn mặt u buồn của nó.
Ánh mắt nó như chứa đựng một điều gì bí ẩn mà tôi không thể
nào hiểu nổi. Không biết có ai để ý đến chi tiết này không,
nhưng tôi thì áy náy vô cùng. Tôi nhớ đến lúc nhìn thấy nó
khóc chiều nay và câu nói: "Nếu tao chết thì sẽ có vài thằng
chết theo tao..." Tôi lắc đầu, xua đuổi ý nghĩ, rót rượu mời
nó và ba Hạnh. Rồi chúng tôi cầm đũa. Bữa tiệc bất ngờ mừng
thằng Thành trở về từ cõi chết mà sao tôi có cảm giác như
đang dự bữa tiệc chia ly, không khí tang tóc bao trùm khắp
nơi.
Bữa ăn được nửa chừng, tôi bỗng tìm ra câu trả
lời của sự bí mật trên khuôn mặt thằng bạn trẻ khốn khổ: Nó
đã trở nên bình thản lạ thường. Cái bình thản của kẻ tử tội
sắp sửa lên máy chém. Tôi bỗng rùng mình, buông đôi đũa
xuống, không ăn uống gì nổi nữa. Tôi hối hận vô cùng vì đã
cho nó trái lựu đạn.
Bữa ăn qua mau. Không phải chỉ
có tôi mà mọi người hình như chẳng còn ai thiết ăn uống gì.
Suốt từ đầu bữa ăn, tôi đoán Mẹ Hạnh có điều gì quan trọng
muốn nói riêng với thằng Thành nên khi chén bát vừa dọn đi,
tôi đứng dậy xin kiếu từ đi về nhưng bị thằng Thành giữ lại.
Nó chỉ chai rượu:
– Còn một góc nữa, mày cưa hết với
tao rồi về cũng được.
Thấy cả nhà như cũng muốn giữ
mình lại nên đành ngồi xuống. Mẹ Hạnh bắt đầu cất tiếng,
giọng rất nhẹ nhàng từ tốn:
– Con tính... tương lai
thế nào?
Câu trả lời của thằng Thành làm cả nhà chưng
hửng:
– Ngày mốt con đi.
Hạnh gào lên:
– Anh đi. Đi đâu?
Thằng Thành trả lời mà mắt vẫn lơ
đãng ngó xa xa:
– Anh đi về trình diện với Sư Đoàn.
Hạnh bật khóc. Ba Hạnh xoay đầu đi, cố giấu vẻ bối rối.
Mẹ Hạnh cố gắng nói, giọng nghẹn ngào:
– Con còn muốn
đi đâu nữa? Hết rồi, chẳng còn gì cả. Con không thấy bây giờ
lính tráng chạy mỗi người một phương, còn ông tướng nào, còn
quân đội nào nữa mà con muốn đi trình diện...
Thằng
Thành không nói gì, bình thản rót thêm một ly rượu, uống
cạn. Mẹ Hạnh tiếp:
– Con nghe lời mẹ đi. Bây giờ ai
cũng chạy lấy thân cả, đâu có ai tìm xét bắt bớ gì mà sợ?
Con cứ ở đây nghỉ ngơi chừng vài tháng đã, coi tình hình đến
đâu rồi đi trình diện cũng được...
Cả nhà nhìn thằng
Thành chờ câu trả lời. Phải có những giây phút như thế này
mới biết cái tình thương người ta dành cho nó. Thằng Thành
bất chợt đưa ngón tay rờ rờ trái lựu đạn trên túi áo trái,
mồi điếu thuốc lá. Nó thở khói lên trần nhà rồi cúi đầu tư
lự, chưa thèm nói gì. Giọng mẹ Hạnh lại tiếp tục, lần này
gần như năn nỉ:
– Con phải hiểu, bây giờ ra đi, nếu
con chết, chết cho ai? Chiến tranh đến nước này thì coi như
đã gần tàn rồi. Mẹ biết tính khí con, không bảo con đào ngũ,
mẹ chỉ muốn con ở đây nghỉ ngơi chừng vài tháng thôi rồi đi
trình diện cũng còn kịp...
Hạnh lại khóc. Ba Hạnh
đứng dậy, bỏ lên lầu. Hình như đó là giải pháp hay nhất cho
ông lúc này. Thằng Thành vẫn chưa thèm mở miệng. Tôi rót
thêm rượu, nói gượng gạo:
– Mày nghĩ lại đi, tao thấy
bác nói đúng. Sư Đoàn 23 tan hàng rồi, không còn ai chỉ huy
nữa đâu mà đòi đi trình diện. Như tao đã nói với mày hồi
chiều, người ta chỉ muốn gom lính lại cho chúng nó khỏi làm
loạn thôi. Giờ này ai chỉ huy nữa mà đòi đi?
Như kiếm
ra được người đồng minh, mẹ Hạnh hứng chí nói thêm một tràng
nữa.
Bà lý luận rất sắc bén và rất đúng. Lần này,
thằng Thành vừa nghe vừa gật gù cái đầu làm bà càng thích
hơn; chắc thằng con rể ngông cuồng vừa đổi ý? Khi bà vừa dứt
lời, thằng Thành nhìn bà, nói bằng một giọng bình thản, lễ
độ:
– Thưa mẹ, mẹ tha lỗi, ngày mốt con đi.
Tôi lắc đầu chán nản, nhìn thấy hai hàng nước mắt chảy dài
xuống đôi má bà. Hạnh không còn khóc nữa, chỉ cúi đầu im
lặng. Rồi, như tôi lúc nãy, hình như mẹ Hạnh vừa cảm nhận
được cái vẻ bình thản của người tử tội trên khuôn mặt nó,
nên cất giọng buồn buồn:
– Con muốn đi cũng được
nhưng con cho phép mẹ nói cái này?
– Mẹ cứ nói.
Bà vừa nói vừa khóc:
– Mẹ muốn chúng con thành
thân với nhau trước khi con đi. Ngày mai làm đám cưới cũng
được. Làm nhỏ thôi, mời một vài người thân chung quanh đây
đến là được rồi...
Cả nhà im lặng. Ngay chính tôi
cũng ngạc nhiên về cái đề nghị này. Thằng này tốt số quá,
tan nát tả tơi đến như vậy mà cũng có người muốn gả con gái
cho. Mà để làm gì chứ? Tôi không thể nào hiểu nổi.
Hạnh ngước nhìn Thành chờ đợi. Đúng ra, cả nhà đang nhìn nó
chờ đợi.
Thằng Thành lắc đầu, mặt nhăn lại, cất giọng
nghe rất buồn:
– Con cám ơn mẹ, nhưng con thấy con
không còn xứng đáng với Hạnh nữa...
– Con bảo sao?
– Ngày xưa, dù mang một cấp bậc rất nhỏ là Trung uý, con
vẫn là một sĩ quan của quân đội, còn có tương lai, có cuộc
đời trước mặt. Nhưng bây giờ con chỉ là một thằng lính bại
trận, không tương lai, không nơi nương tựa. Con không muốn
làm khổ Hạnh nữa... Nếu mai mốt có bề gì, chỉ có mình con là
người khổ...
Mọi người như chết điếng khi nghe thằng
Thành nói. Tôi cũng không ngờ nó coi chuyện tan hàng của Sư
Đoàn 23 ghê gớm như vậy. Phải chăng những tháng ngày hành
quân cực khổ nơi rừng sâu núi thẳm đã biến nó trở thành một
thứ người khác?
Mẹ Hạnh nói mà như gào lên, nức nở:
– Con, con ơi, con đừng nói nhảm. Con bại trận với ai
chứ với gia đình này không có nghĩa gì cả. Ai cũng bỏ chạy
hết rồi, mẹ muốn hai đứa con thành thân rồi ở lại đây với ba
mẹ, chờ tình hình khá khá một chút rồi đi cũng được... Tướng
tá quân lính, ai cũng bỏ chạy hết rồi, con đi trình diện làm
gì...
Thằng Thành ngắt lời bà bằng một giọng gay gắt:
– Mẹ đừng nói hai tiếng "bỏ chạy" nữa. Chỉ một vài thằng
tướng tá hèn bỏ chạy thôi, không phải ai cũng bỏ chạy hết.
Ít nhất, con không bỏ chạy...
Rồi mắt nó bỗng long
lên, hai hàm răng nghiến lại:
– Con đã không bỏ chạy,
đã chiến đấu tới người lính cuối cùng của Đại Đội con... Nếu
chạy thì người lính mang máy của con đã không bị một trái
B–40 đứt làm hai khúc ngay trước mặt con. Chết rồi mà mấy
ngón tay vẫn còn nắm chặt ống liên hợp... Nếu chạy thì Chuẩn
uý Phước Trung đội trưởng của con đã không dàn hàng ngang
chuẩn bị xung phong để bị một tràng đại liên cứa đứt nguyên
cặp giò... Y tá Đại Đội hết thuốc, cả đến giọt alcol cũng
không còn. Đau đớn quá nó năn nỉ con bắn vào đầu nó một phát
để được giải thoát. Nhưng ai có đủ can đảm để giúp nó? Nếu
hèn mà bỏ chạy thì chúng con đã không đứa thì cõng nó, đứa
kia ôm cặp giò chạy theo vượt mấy cây số đường rừng... Cuối
cùng, nó chết đau đớn trên tay con, máu chảy thấm sang ướt
luôn cả áo quần con. Chết mà mắt không nhắm được, vẫn trợn
trừng đầy uất hận. Đào vội cái hố phủ xác nó xong, nếu bỏ
chạy thì chúng con đã không quỳ xuống lâm râm khấn vái: "Hồn
mầy có linh thiêng phù trợ cho tụi tao thắng được trận này,
lấy lại Ban Mê Thuột, tụi tao sẽ trở lại đây bốc mộ mầy
về..." Mẹ thấy đó, chúng con đâu có bỏ chạy...
Thằng
Thành lắc đầu, hai dòng nước mắt chảy dài trên gò má. Mẹ
Hạnh cũng rưng rưng nước mắt. Có lẽ bà không ngờ câu nói vô
tình đã làm tổn thương danh dự người lính trẻ. Bà nghẹn ngào
cúi đầu. Cả nhà im lặng. Hạnh cầm tay người tình khốn khổ,
không nói lên lời.
Bây giờ tôi mới thấy hiểu thằng
bạn mình hơn. Sáu năm đắm chìm trong máu lửa và cuộc thảm
bại của Sư Đoàn 23 đã biến nó thành một con người khác.
Giọng thằng Thành lại cất lên, lần này từ tốn và bình
thản:
– Mẹ cho phép con nói một lời tâm tình cuối
cùng, dứt khoát: Con cám ơn tấm lòng tốt của ba mẹ ở giờ
phút này, dù biết rằng con đã mất hết chẳng còn gì nhưng lại
muốn cho con lập gia thất với Hạnh. Ơn nghĩa này con và gia
đình con sẽ chẳng bao giờ quên...
Mọi người hồi hộp
chờ đợi câu kết luận. Nó mồi điếu thuốc, thở khói lên trần
nhà:
– Nhưng con không thể cưới Hạnh được.
Hạnh khóc nấc lên. Giọng thằng Thành mau hơn, dồn dập:
– Không phải con muốn làm anh hùng. Con chỉ làm chuyện
phải làm. Nếu "trời còn ngó lại," hôm nào đó giặc yên, con
sẽ trở về để sống cuộc đời mà con hằng mơ ước từ bấy lâu
nay, đó là: Sống với Hạnh.
Lần này thì hai mẹ con
Hạnh cùng khóc vì ai cũng biết thằng Thành ít khi nào đùa
giai như vậy.
Không muốn ngồi nhìn thêm cảnh đau lòng
này, tôi bối rối đứng lên lí nhí mấy lời từ giã. Thằng Thành
tiễn tôi ra cửa:
– Ngày mốt mày trở lại đón tao.
Tôi ráng gỡ gạc:
– Mày nhất định đi thật?
Thằng Thành quắc mắt nhìn tôi, thoáng vẻ bất mãn với câu hỏi
vừa rồi. Tôi bối rối lắc đầu:
– Mày tính lại đi, tao
thấy mày hùng vô lý quá...
– C..., dẹp ba cái trò
tình cảm rẻ tiền đi. Đù mẹ mày có đến chở thì chở, còn không
thì tao tự đi lấy một mình.
Nó đẩy tôi ra cửa như xua
đuổi:
– Tao chờ mày đến 10 giờ sáng ngày mốt. Mày
không ra tao đi một mình.
Biết không thể nói gì hơn
được, tôi bắt tay nó:
– Mày hiểu ban ngày tao còn
phải đi bay, để đến tối mốt được không?
– Tối mốt thì
chỉ có đi nhậu chớ đi trình diện chó gì được. Tao chờ mày
đến 10 giờ sáng, mày không đến tao đi một mình.
– Tao
sẽ cố gắng đến.
Tôi lên xe Honda đạp máy, không ngờ
rằng đó là lần cuối cùng tôi gặp thằng Thành. Hai hôm sau,
tôi phải đi bay nên không đến đón nó được. Tối đó tôi hớt
hải chạy đến thì thằng Thành đã đi rồi. Nhà Hạnh tiêu điều
như có tang. Tôi không gặp Hạnh, chỉ nói chuyện bâng quơ với
ba nàng vài câu rồi từ giã ra đi.
Tình hình biến
chuyển mau hơn tôi nghĩ. Tuần sau, "tuyến máu" của Nhảy Dù
bị tràn ngập. Trong những giây phút cuối cùng đó, những
người lính Dù đã anh dũng đem máu đào ra để gìn giữ từng tấc
đất, từng con đường của quê hương. Rồi Nha Trang mất, Phi
Đoàn tôi di tản về Sài Gòn. Ngay đến cả thân mình lo còn
chưa xong, tôi quên mất chuyện thằng Thành. Một tháng sau,
cả miền Nam sụp đổ, tôi may mắn qua Thái Lan được vào ngày
30/4. Chỉ trong vòng 3 ngày, tôi đã đến trại tị nạn Phi Luật
Tân, chuẩn bị làm thủ tục đi Mỹ.
° ° °
Mười
hai năm sau, một hôm đi làm về, giữa những cái thư, tôi nhìn
thấy cái phong bì màu xanh gởi từ Pháp sang với cái tên
người gởi lạ hoắc. Nhìn dòng chữ, tôi biết đó là chữ con
gái. Tôi đoán phải là thư từ Việt Nam gởi tay cho những
người đi đoàn tụ vì tôi đã nhiều lần nhận được thư kiểu này.
Mở tủ lạnh, khui một lon bia, tôi ra ngồi nơi bàn cơm
rềnh rang tận hưởng cái giây phút rất tình cảm: đọc thư của
những người thân viết từ Hỏa Ngục Việt Nam.
Lá thư như sau:
Ban Mê Thuột ngày...
tháng... năm 1987,
Anh Nhị mến,
Nhỏ bạn đi
đoàn tụ bên Pháp, Hạnh biết địa chỉ anh nên nhờ gởi lá thư
này cho anh. Hạnh đi bán hàng mỗi sáng, đường đi ngang qua
nhà anh. Thỉnh thoảng Hạnh cũng ghé thăm bà cụ anh. Bà cụ dễ
thương và hiền hậu lắm. Chính bà cụ cho Hạnh địa chỉ của anh
đó, lại còn bảo: "Con gởi thư sang, bảo nó gởi cho con một
ít quà. Con nói bác nói thì thế nào nó cũng gởi..." Nhưng
Hạnh phải chặn trước là Hạnh không gởi lá thư này cho anh để
xin quà đâu nhá. Hạnh cấm anh gởi bất cứ một cái gì về cho
Hạnh.
Trước hết, theo đúng thủ tục nhà binh, để Hạnh
hỏi thăm sức khoẻ anh và gia đình anh. Bà cụ có đưa hình
cháu Yvonne cho Hạnh coi. Xinh quá. Anh vẫn sống vui vẻ? Hôm
nào "sản xuất" đứa thứ hai. Nếu có, cho Hạnh xin tấm hình.
Phần thứ hai dài hơn, đó chuyện nhà Hạnh. Khi Nha Trang
thất thủ, ba Hạnh quyết định ở lại để chờ anh Thành. Chờ mãi
chẳng thấy và sau đó Sài Gòn thất thủ. Những ngày đó thật là
kinh khủng. Hạnh đi tìm kiếm anh Thành khắp nơi nhưng không
gặp. Rồi ba Hạnh bị bắt đi trình diện, đem theo mười ngày
lương khô. Hạnh nghĩ ông phát ngôn đài phát tuyến nói lộn
chữ "năm" thành chữ "ngày" vì mãi mười năm sau ba Hạnh mới
được về. Khi ra đi thì là con người mà về thì không còn là
người nữa mà chỉ là một xác chết.
Ba Hạnh vừa đi được
hai tuần thì có một nhóm người đến đuổi cả nhà Hạnh ra
ngoài. Họ bảo căn nhà mà ba mẹ Hạnh mua bằng sự dành dụm của
cả đời mình là nhà của nhân dân, phải trả lại cho nhân dân.
Không nơi nương tựa, gia đình Hạnh đành lên xe trở về nơi
thanh bình yêu dấu cũ: Ban Mê Thuột. Phải, Ban Mê Thuột, đất
dấu yêu của tuổi học trò. Gia đình Hạnh vào tá túc trong gia
đình một người bà con. (Nhà chú Kiên ấy mà). Tội nghiệp, có
những lúc mình bị xuống chó như vậy mới thấy tình người là
quý.
Vừa lên Ban Mê Thuột là Hạnh tới nhà anh Thành
liền. Má anh Thành vừa nhìn thấy Hạnh là khóc ngất lên, bảo:
"Hạnh ơi là Hạnh, con về đây mà thằng Thành con bác đâu
rồi?" Lúc đó thì Hạnh mới biết là họ mù tịt tin tức anh
Thành còn hơn mình. Hạnh kể cho hai bác chuyện đêm cuối cùng
tại Nha Trang. Hạnh cũng quên một chi tiết quan trọng khác
nữa là lúc ấy Hạnh đã có mang bé Long. (Anh biết tối đó, mẹ
Hạnh làm lơ cho hai đứa Hạnh ngủ chung.)
Trong lúc
tìm kiếm, Hạnh tập tễnh theo mẹ đi buôn bán. Anh biết buôn
gì không? Đủ mọi thứ, từ cà phê cho đến khoai mì, từ dầu lửa
cho đến than. Hạnh từ nhỏ chỉ ăn no rồi đi học, bây giờ xông
vào chỗ chợ búa như con nai lạc vào thành phố. Lúc này ai
cũng nhảy vào nghề đó cả nên cạnh tranh khó khăn vô cùng.
May mà có mẹ đi theo chỉ bảo chứ không thì Hạnh đã bị người
ta lừa lấy hết vốn liếng từ lâu rồi. Nhưng chỉ vài tháng
thôi là Hạnh học được hết mánh lới, còn chì hơn cả mẹ nữa.
Bây giờ thì Hạnh để mẹ ở nhà, Hạnh đi buôn một mình được
rồi.
Anh Thành vẫn biệt tăm cho đến khoảng 7 năm sau,
một buổi sáng, có một người đến gõ cửa nhà Hạnh rất sớm.
Hạnh mở cửa ra nhìn thấy một người đàn ông già ốm xanh xao
như bộ xương cách trí với khuôn mặt sầu thảm đang đứng trước
nhà. Mới đầu, Hạnh cũng nghĩ và hy vọng là anh Thành trở về
nhưng chỉ nhìn qua là Hạnh biết không phải. Hạnh lại tưởng
là một người hành khất đến xin cơm (Việt Nam bây giờ ăn mày
nhiều lắm) và hơi ngạc nhiên vì hành khất đâu có đi làm ăn
sớm vậy nhưng cũng tính móc hầu bao cho anh ta một vài đồng
thì "bộ xương cách trí" ấy lên tiếng:
– Cô Hạnh, tôi
là Giáo bạn của Thành đây. Hạnh nhớ tôi không?
Không
biết anh còn nhớ anh Giáo không, cũng Trung uý Bộ Binh mà
anh Thành hay dắt đến nhà Hạnh chơi đó. Hạnh nhận ra ngay và
suýt nữa thì kêu lên một tiếng kêu sửng sốt mừng rỡ. Sau bảy
năm mà anh Giáo đến tìm Hạnh tất phải biết tin tức anh
Thành. Hai người ôm nhau nửa đau thương, nửa vui mừng. Hạnh
hỏi liền về tin tức anh Thành. Anh Giáo lắc đầu buồn bã, cho
biết anh bị ở tù cải tạo mới ra tuần trước, phải lật đật lên
kiếm Hạnh và gia đình anh Thành để thông báo tin này. Hạnh
linh cảm anh Giáo đem đến cho Hạnh một tin buồn. Thôi, niềm
hy vọng cuối cùng vừa lóe ra đã bị tắt ngúm. Mặt anh Giáo
đanh lại như để cố lấy hết can đảm, ảnh lắc đầu nhìn Hạnh
nói như muốn khóc:
– Ông Thành chết rồi.
Lúc
mới mất nước mà nghe được câu đó thì ắt Hạnh đã té xỉu rồi
nhưng hôm ấy Hạnh thấy bình tĩnh lạ thường. Có lẽ anh Thành
đã sống lại rồi chết đi trong lòng Hạnh mỗi ngày suốt 7 năm
qua nên Hạnh không còn cảm giác nữa. Anh Giáo nói tiếp:
– Nhưng ông Thành chết đẹp lắm, không phải trong tù như
nhiều thằng trong chúng tôi.
Hạnh mời anh Giáo vào
nhà kể chuyện. Ngồi bên ly cà phê do mẹ Hạnh pha, anh Giáo
kể là chính mắt anh ấy thấy anh Thành nổ lựu đạn tự sát chết
ngày Nha Trang thất thủ. Không ai có thể ngăn cản anh ấy
được. Anh Giáo nói anh Thành kỹ lắm, đi bộ ra bờ biển, xuống
nước đến ngực rồi mới rút chốt lựu đạn. Máu loang lổ cả một
vùng biển, đứng từ xa còn nhìn thấy. Đêm trước, ảnh tâm sự
với lính rằng nếu mình chết ngoài bờ biển, sóng sẽ kéo xác
mình ra khơi. Chết trên biển, khỏi cần chôn cất mà vẫn được
gọi là thủy táng. Còn chết trên đất liền nếu không được chôn
cất tử tế, oan hồn không siêu thoát được.
Tội nghiệp
anh Thành lắm, trước khi ra đi, ảnh móc hết tiền túi chia
đều cho anh em. Anh Thành bảo: "Bàn cờ đã đến lúc cần phải
xoá đi làm lại ván khác. Mình sinh nhằm thời này thì đành
chịu số mạng, đành phải trôi theo vận nước." Anh Thành nói
ảnh phải chết là vì đã đọc "Trại đầm đùn" nên biết rằng tính
ngang tàng của ảnh không thể nào sống sót được trong tù cộng
sản được. Ảnh còn nói: "Mình sinh nhằm thời loạn, mặc áo nhà
binh để lập công danh, giang sơn cơ đồ nghiêng ngả nửa
chừng, thì đành chết trong bộ đồ nhà binh chứ không thể chết
trong bộ quần áo tù được..."
Viết đến đây, nước mắt
Hạnh lại chảy ra đầm đìa. Anh thấy tờ giấy nhạt nhòa không,
nước mắt của Hạnh đó.
Anh Giáo còn nói là "Chết như
ông Thành vậy mà sướng, ra đi một cách thanh thản, trong
vinh dự, còn được mặc bộ đồ nhà binh bọc thây mình, còn được
bạn bè nhắc nhở. Ở trại cải tạo nhiều người cũng chết, nhưng
chết trong đau đớn và nhục nhã vô cùng..."
Anh Giáo
quả quyết với Hạnh là anh Thành đã được thủy táng. Sóng đã
kéo anh Thành ra biển đúng như lời mơ ước cuối cùng của ảnh.
Nói xong anh Giáo đứng lên chào cả nhà để ra đi. Hạnh xin
biếu anh ấy một ít tiền gọi là đền ơn nhưng anh ấy bảo để
dành tiền đó mà mua nhang đèn cúng anh Thành. "Mấy người
chết trẻ mà lại 'uổng tử' như ông Thành linh lắm, cô cầu cho
anh hồn ông Thành về phù trợ chúng tôi." Hạnh thắc mắc không
biết tại sao ông ta lại dùng chữ "phù trợ chúng tôi"? Mãi
sau này Hạnh mới biết là ông ta đã tham gia một nhóm kháng
chiến phục quốc...
Hôm ba Hạnh về sau 10 năm tù ngục,
bắt cả nhà ngồi kể chuyện ở ngoài cho ba nghe. Kể chuyện bị
mất nhà, mẹ bị người ta quỵt tiền, chuyện phải lang thang
cực khổ nơi đầu đường xó chợ, ba ngồi lầm lì không có ý kiến
gì. Hình như ba em đã đoán được những chuyện như vậy sẽ xảy
ra. Nhưng khi nghe tin anh Thành chết, ba Hạnh đã đứng dậy
ôm mặt khóc rống lên thảm thiết mà nói rằng: "Ôi, Thành ơi,
tre già chưa bị mục mà măng non vừa lú lên sao đã bị đốn
rồi..."
Em không ngờ ba em lại thương anh Thành đến
như vậy.
Thư đã dài, còn nhiều chuyện muốn nói nhưng
đành phải "au revoir". Nếu anh có biên thư về cho Hạnh, xin
đừng nhắc đến chuyện này. Vì đây là lá thư tay nên Hạnh viết
được nhiều chuyện, nếu qua bưu điện thường chắc Hạnh không
thể dài dòng như vậy.
Còn một chi tiết này cũng khá
quan trọng mà Hạnh quên nói: Từ đó đến nay, Hạnh vẫn ở vậy
mà không tái giá. Có vài đám đến hỏi nhưng Hạnh từ chối, và
ba mẹ cũng chẳng nói gì. Hạnh chỉ muốn giữ một hình ảnh oai
hùng duy nhất của anh Thành trong trái tim Hạnh mà thôi.
Thời này chẳng còn anh hùng nữa vì anh hùng đều bị chết hay
bị ở tù cả, ra đường chỉ toàn thấy khỉ và vượn! Chán lắm.
Anh cho Hạnh dừng bút. Mục đích lá thư này là để thông
báo cho anh biết là chồng Hạnh, anh Thành đã "Vị Quốc Vong
Thân". Ngày giỗ của ảnh là ngày 16 tháng 3 Âm Lịch. Nếu bên
đó có còn biết lịch Việt Nam, và nếu còn nhớ đến người bạn
đã cùng với anh một thời chiến đấu anh dũng, xin đốt cho
chồng em một cây nhang.
Cuối thư, Hạnh xin phép được
nhắn anh đôi lời: Thứ nhất, Hạnh cấm anh không được gởi bất
cứ một thứ gì về cho Hạnh. Nhà Hạnh đủ ăn. Nếu Hạnh cần Hạnh
sẽ gởi thư xin đàng hoàng. "Nhỏ này không biết mắc cỡ đâu.
Hạnh mà". Thứ hai, Hạnh mong anh và các bạn bè anh, những
người đã từng một thời cầm súng chiến đấu, xin đừng quên
những cái chết như cái chết của chồng em, của một triệu
người lính khác âm thầm ra đi trong bao nhiêu năm qua. Những
người này đã chết cho các anh được sống, cho các anh được
thảnh thơi ở đất tự do. Nếu các anh bên Hải Ngoại không làm
được gì để tôn vinh họ, thì ít nhất, xin các anh cũng đừng
phỉ nhổ lên những xác chết này bằng cách về Việt Nam để ăn
chơi trên xương máu và nỗi đau thương của dân tộc mình...
Chỉ có vậy thôi! Chúc anh và toàn thể gia quyến được mọi
điều hạnh phúc.
Thân mến,
Hạnh.
Tái bút:
Nếu anh có gặp anh Khuê bên đó, cho Hạnh gởi lời xin lỗi về
cái thư năm nào. Nói với anh Khuê rằng Hạnh bây giờ lam lũ
nên già đi và xấu lắm rồi, vô tình thấy Hạnh anh Khuê chắc
phải thét lên kinh hoàng. Vì già rồi và buồn nhiều nên Hạnh
thèm đọc thư bạn bè lắm, nếu anh ấy muốn gởi thư cho Hạnh
thì cứ việc, Hạnh hứa sẽ không gởi bản sao cho... bà xã anh
Khuê đâu.
Tái tái bút: Ba mẹ gởi lời thăm anh, cả bé
Long nữa. Cháu năm nay mười một tuổi rồi, tánh tình ngang
tàng giống bố lắm.
Trường Sơn Lê Xuân Nhị
nguồn:
hội quán phi dũng

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

Phụ lục
Xem video hay nghe đọc trực tuyến các MP3 bên dưới
nếu video này hỏng.

Phần âm thanh đọc gồm 8 đoạn (1–8).
Trung bình 10–12 phút mỗi đoạn sau đây:
Bấm PLAY nghe đoạn 1:
Bấm PLAY nghe đoạn 2:
Bấm PLAY nghe đoạn 3:
Bấm PLAY nghe đoạn 4:
Bấm PLAY nghe đoạn 5:
Bấm PLAY nghe đoạn 6:
Bấm PLAY nghe đoạn 7:
Bấm PLAY nghe đoạn 8:





thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch



|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tkd sưu tầm Á trình bày
Đăng ngày thứ Sáu, June 19, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH