
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Truyện ngắn
Chủ đề:
ctvn & tình người
Tác giả: MĐ
Út Bạch Lan/E22

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Sau
cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào, Trinh Sát 2 Nhảy Dù tương
đối còn nguyên vẹn, trong khi Trinh Sát 3 Nhảy Dù (TS3ND)
gần như bị xóa sổ ở vùng Đồi 31 tại Hạ Lào cùng với Bộ Chỉ
Huy Lữ Đoàn III Nhảy Dù (LĐIIIND)...! Sau đó Lữ Đoàn III
Nhảy Dù được tái thành lập nhanh chóng và được lệnh hành
quân thực tập với một Lữ Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ tại Phước Vĩnh
thuộc tỉnh Phước Long. Vì TS3ND đang trong tiến trình tái
thành lập và huấn luyện, thụ huấn Viễn Thám, Rừng Núi Sình
Lầy, nên Trinh Sát 2 Nhảy Dù (TS2ND) được điều động tăng
phái hành quân cho LĐIIIND. TS2ND vốn là Lực Lượng 81 Biệt
Cách Dù (LL81BCD) nên rất nhuần nhuyễn khi hành quân phối
hợp với Không Kỵ Hoa Kỳ (US First 1st Cavalry Division), các
toán Viễn Thám hoặc Trung Đội Trinh Sát thường được thả
xuống những mục tiêu xa các căn cứ hỏa lực chừng vài ba chục
cây số chỉ nhờ sự bảo vệ của không yểm...
Tháng 5 năm 1971
Trong buổi họp hành quân
đầu tiên với Đại tá Trương Vĩnh Phước, (tân Lữ đoàn trưởng
LĐIIIND, thay thế cho Đại tá Nguyễn Văn Thọ bị Việt cộng bắt
ở ngọn Đồi 31 Hạ Lào), cùng với các vị Tiểu đoàn trưởng
thống thuộc LĐIIIND... Giai đoạn đầu cuộc hành quân, các
Tiểu Đoàn Nhảy Dù được trực thăng vận nhảy vào những mục
tiêu tương đối an toàn để thiết lập căn cứ pháo binh trong
khu vực trách nhiệm, trong khi Trinh Sát thả các toán viễn
thám vào Chiến Khu D của Việt cộng... Trong giai đoạn này,
tôi được toàn quyền sử dụng một Trung đội trực thăng gồm một
C&C chỉ huy, 12 slick chở quân, và 2 trực thăng võ trang
Cobra hộ tống yểm trợ (cấp số phi cơ trong quân lực Mỹ khác
với danh từ Phi Đội, Phi Đoàn của Không Quân Việt Nam Cộng
Hoà), cùng với 5 sĩ quan cố vấn Mỹ. Ba toán viễn thám lần
lượt được thả vào ba mục tiêu do Bộ Chĩ Huy Lữ Đoàn (BCHLĐ)
ấn định. Thời gian xâm nhập là 7 ngày và lộ trình phải hành
quân qua năm mục tiêu... 2 ngày trôi qua với những báo cáo
hoàn toàn vô sự, nhưng vào lúc 11:00g đêm thứ ba nhận được
công điện khẩn của Toán Viễn Thám 2 (TVT2) nội dung như sau:
– Chúng tôi đang ở ven đô, chưa bị lộ, an toàn.
Tôi hiểu ngay là họ đã khám phá một căn cứ rất lớn của Cộng
quân, tôi vội vã check lại vị trí và khu vực rồi báo ngay
cho phòng hành quân Lữ Đoàn, sau đó trả lời cho toán Viễn
Thám:
– Nằm yên đừng nhúc nhích báo cáo cách khoảng
mỗi giờ.
Suốt đêm hôm đó tôi không ngủ, Ban 3 Lữ Đoàn
(B3LĐ) cũng không ngủ, tôi biết sẽ phải làm gì để chuẩn bị
cho sáng sớm ngày mai... Đến 4:00g sáng tôi triệu tập 4
Trung đội trưởng Trinh Sát và Hạ sĩ quan Thường vụ ra lệnh:
– 4 ngày lương khô, 3 cấp số đạn dược... lên trực thăng
lúc 7:00g sáng...!
... và tôi cũng yêu cầu Lữ Đoàn đổ
quân một lần và phải tăng cường thêm trực thăng slick để bốc
170 quân xông vào chiến địa. Lời yêu cầu này được thoả mãn
ngay, vì cả Lữ Đoàn Không Kỵ với huy hiệu “đầu con ngựa”
đang có mặt tại phi trường Phước Vĩnh, tất cả binh sĩ rất
háo hức, hăng say “ready” chờ xung trận...!!! Phi cơ quan
sát OV10 cho biết, mục tiêu là cả một khu rừng tre dày đặc
nên không thể xác định vị trí của toán VT2, vì toán này
không thể dùng panal vàng và kính phản chiếu để làm hiệu.
Bãi đáp (LZ) được chọn là một đầm lầy đường kính khoảng 100
mét, cách mục tiêu 500 mét, cách biên giới Miên–Việt 2 cây
số. Vừa đặt chân xuống bãi đáp nước ngập ngang hông tôi nói
với Trung uý cố vấn Berry:
– Go ahead, make your
day!!!
Toán VT2 bung trái khói, OV10 hướng dẫn 4 trực
thăng Cobra hoả lực chiến đấu nhào xuống như những con mãng
xà vương “Hổ Ngựa Không Kỵ” gầm rú bắn phá phóng hằng loạt
rocket, lửa đạn bùng vỡ long trời, lỡ đất... trong khi chúng
tôi “bôn tập” ra xa khoảng 500 mét trong vòng 5 phút, và
dưới sự hướng dẫn của VT2, chúng tôi xung phong xông vào mục
tiêu, trong khi bốn chiếc Cobra vẫn còn hung nộ nã từng
tràng đạn auto phóng lựu M79 và rocket, tiếng nổ kinh hồn xé
nát không gian, lửa bùng cháy đỏ rực một góc rừng!!! Chúng
tôi bung ra lục soát và khám phá ra nơi đây là một bệnh xá
cấp Trung đoàn của Việt cộng và có lẽ địch “đánh hơi” biết
trước được quân “lính Dù” Việt–Mỹ hành quân truy lùng càn
quét, nên chúng đã vội vã di dời, bỏ chiến khu độ chừng một
hai ngày qua, nơi đây những bếp lò hãy còn hơi nóng, dụng cụ
y tế cứu cấp vẫn còn trong các ngăn tủ làm bằng tre nứa,
vườn trống nhà không vắng bóng người! Tôi cho lệnh binh sĩ
bung ra lục soát với chu vi mở rộng và đường kính từ 500 mét
đến hơn một cây số... tình hình yên tĩnh, địch đã tháo chạy
ra xa, không một tiếng súng chỉ còn nghe tiếng cánh quạt
trực thăng xé gió phành phạch tung hoành trên bầu trời suốt
ngày hôm đó! Chúng tôi đóng quân qua đêm trong những dãy nhà
lợp rơm dưới rừng tre dày đặc. Sáng sớm ngày hôm sau, trong
tay đang cầm chiếc ca dã chiến lưng lửng cà phê sữa nóng từ
Ration C (phần lương khô cá nhân của quân đội Mỹ) tôi nhận
được báo cáo của Trung Đội 1 cách tôi khoảng 500 mét tới 700
mét là:
– Đích thân, tụi em vừa chụp được ba con nhạn
la đà...!
Tôi liền nói với Trung uý Thinh Đại đội phó
của tôi và cố vấn Trung uý Berry là tôi chỉ đi quan sát tình
hình và về ngay, không cho họ biết tin là Trung Đội 1 vừa
bắt được tù binh!
Trong căn chòi với cuốc xẻng ngổn
ngang trên sàn, bên dưới là một căn hầm trú ẩn chứa vài ba
người ngồi co ro, họ là ba cô gái trên dưới hai mươi, tay bị
trói quặt ra sau lưng với những đôi mắt đầy vẻ lo âu sợ hãi!
Tôi hỏi Thiếu uý Sang:
– Anh đã lấy khẩu cung sơ khởi
chưa?
– Dạ có.
– Có cho họ ăn uống gì chưa?
– Dạ cơm sấy và thịt ba lát...
Tôi ra lệnh cởi
trói cho “3 con nhạn” nhưng ba nòng súng M16 của binh sĩ đạn
đã lên nòng để phòng bất trắc. Liếc sơ qua ba trang giấy
viết nguệch ngoạc “khẩu cung”, tôi để ý ngay đến tên: Nguyễn
Thị Yến, sinh quán ở Chợ Gạo, Mỹ Tho, học sinh trường bán
công Thiên Hộ Dương, vào bưng cuối năm 1969 và hiện là y tá
cho bệnh xá này cùng hai nữ “đồng chí” đang run sợ muốn vãi
đái đáng tội nghiệp kia tên là: Trần Thị Ánh và Ngô Thị
Hạnh... cả 3 bị phát hiện và bị bắt trong lúc trốn chui ẩn
nấp dưới hầm vì phải tuân lệnh thủ trưởng với nhiệm vụ giao
liên là: “... nằm lại, bám thật sâu, thật sát, nắm bắt tình
hình quân địch để báo cáo ngay sau khi quân ‘Ngụy’ rút
đi...!” Tôi nói:
– Ba cô ngồi xuống đất đi, “bình
thân” thôi đừng có quỳ gối nữa! Tôi hỏi cáí gì trả lời cái
đó.
Tôi quan sát Nguyễn Thị Yến có một gương mặt trái
soan, trông hiền lành có duyên, tóc bới đuôi gà, nếu buông
xõa sẽ chấm ngang vai, nước da trắng của gái miệt vườn nhưng
hơi xanh xao vì sống ẩn nấp lâu ngày, dài tháng dưới tán lá
cây rừng trong mật khu bị thiếu ánh mặt trời soi rọi... Yến
tuổi Mậu Tí sinh năm 1947, học đến hết năm đệ tam bậc trung
học thì nghỉ học, ở nhà phụ giúp mẹ trông coi mảnh vườn dừa
hơn một mẫu ở ven kinh Chợ Gạo.
Theo “nàng” kể: năm
10 tuổi, cha nàng theo kháng chiến Việt Minh rồi bị mật vụ
của Cụ Ngô Đình Diệm bắt giam, tra tấn hơn ba năm, sau được
phóng thích và qua đời sau vài tháng vì bị bệnh lao phổi.
Gia đình Yến sống trong vùng xôi đậu, ban ngày với dân vệ xã
ấp giữ an ninh, ban đêm cán bộ Việt Minh về làng hoạt động,
những đồng chí của cha nàng vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ
nàng. Họ tuyên truyền gieo vào đầu óc ngây thơ của nàng
những oán hận là phải trả thù cùng với những lời hứa hẹn
tương lai tốt đẹp khi cách mạng thành công! Năm 1967, Yến
vừa tròn 20 tuổi, nàng bắt đầu hoạt động cho Việt cộng với
nhiệm vụ liên lạc với các tổ nội thành ở chợ hàng bông Mỹ
Tho. Sau hai năm với nhiều công tác suôn sẻ, nàng được kết
nạp vào Đảng Cộng sản – Chi Bộ Chợ Gạo. Trong trận “Tổng
Công Kích Tết Mậu Thân 1968”, một trong các tổ “quỉ” nội
thành Mỹ Tho bị Đơn Vị 101 và An Ninh Quân Đội Việt Nam Cộng
Hoà tóm gọn! Nàng được lệnh “vào bưng”... Tôi hỏi:
–
Hôm nay cô bị bắt và đang ngồi đối diện với tôi, cô có biết
số phận của cô sẽ ra sao hay không?
– Thưa anh, con
người ta sinh ra đời, ai... ai cũng cầu Sinh, chớ chẳng có
mấy ai đâu cầu Tử, chết hay sống đều có định số như an bài
cả rồi, có cải số phận được không... bây giờ cũng vô ích
thôi! Huống hồ gì... cho rằng: “đức năng thắng số, hay tận
nhân lực tri thiên mạng” gì gì... đi nữa... thì đối với các
anh phía VNCH thì em có tội, nay em đã bị các anh bắt thì
tùy các anh định đoạt thân phận của em như cá nằm trên
thớt...?!
Tôi lắng nghe Yến nói trong âm điệu như
bình thản an phận xen lẫn có chút bùi ngùi, là tâm tư và
cũng là “trí thức” chăng “nó” có chút chiều sâu tơ vương
lãng đãng vô hình tư tưởng nghiệp lực, nhân duyên trớ trêu
dính mắc vào người...! Tôi bỗng thẫn thờ xao động trong giây
phút, không ngờ một cô gái còn trẻ tuổi cả gan đi theo Việt
cộng kháng chiến chống chế độ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, mà
lại tin vào duy tâm thay vì duy vật...! Tôi hỏi thêm thì cô
trả lời: học đến đệ tam ban C (Hán văn). Tôi móc bao thuốc
Quân Tiếp Vụ mồi một điếu, hỏi tiếp:
– Cô có thể cho
tôi biết rõ thêm vì sao cô vô đây, vì thù hận hay hoàn cảnh
đưa đẩy, hay vì một lý tưởng nào đó?
– Thưa anh, thù
hận thì có... vì ba em “bị giết”, hoàn cảnh thì cũng có...
vì sau Tết Mậu Thân tông tích em bị lộ nên phải nghe lời các
chú, các bác... đành phải gạt lệ ra đi để lại Mẹ già đơn
chiếc, quạnh hiu một mình nơi quê nhà! Còn nói về lý tưởng
thì em lờ mờ chẳng hiểu biết gì... em có đọc được vài quyển
sách nói về tiến trình hình thành tôn giáo của con người, từ
khởi thủy là Duy Thần rồi Duy Tâm, Duy Ngã, Duy Linh. bây
giờ biết thêm Duy Vật... Nhưng đối với em Duy gì gì đi
nữa... em cũng không tin và không quan trọng... em chỉ biết
sống, thì mạng sống con người là quan trọng hơn tất cả mọi
sự việc trên cõi đời này...!
Tôi chú tâm nghe rõ từng
“chữ” cô Yến nói như trải lòng và cảm thấy thú vị với cô
“Việt cộng” này và tự nhủ: trước mặt mình là một nữ tù binh,
lại có thể đối đáp bình thản, mạch lạc tư tưởng như vậy,
nhất là khi cô nói đến câu “... sống, thì mạng sống con
người là quan trọng hơn tất cả mọi sự việc trên cõi đời
này...”! Tôi tự hỏi lời cô “VC” nói hao hao, mang máng,
chuyên chở ý tưởng của Duy Nhân Biện Chứng mà tôi đã từng
đọc qua một số trong 28 tác phẩm “Duy Dân Cương Thảo Toàn
Pho” tác giả Lý Đông A nhà cách mạng lập thuyết Nhân Chủ khi
tôi còn ở ngưỡng cửa đại học...? Tôi chậm rãi hỏi tiếp:
– Bây giờ cô đã bị chúng tôi bắt giữ, cô có còn hy vọng
gì với mạng sống của riêng cô hay không? Yến ngước nhìn tôi
với ánh mắt buồn u uẩn rồi nhìn buông cõi xa xa như nói thầm
với chính nàng:
– Như em đã thưa... chết sống đều có
số mạng! Có người muốn chết mà chết không được, còn người
muốn sống thì định mệnh lại cướp họ đi...! Hy vọng của em
đang nằm trong tay các anh, hy vọng ngày mai hay tương lai
nào ai đoán biết trước được...?!
Người hiệu thính
viên bước vào và ra dấu cho tôi ra ngoài vì có điện đàm với
Thiếu tá Tùng (Khoá 19 Đà Lạt) Trưởng Ban 3 Lữ Đoàn: Lệnh
ngày mai di chuyển đến mục tiêu bên kia sông Bé và tiến sát
đến biên giới Miên–Việt, vào giờ G sẽ có trực thăng võ trang
Cobra Hoa Kỳ “dọn bãi” trước khi chúng tôi vượt sông. Tôi
trở vào “hiện trường” cố tình “phán” lớn tiếng căn dặn với
Thiếu uý Sang:
– Đêm nay cho ba cô ăn uống đầy đủ, bỏ
vào túi vải của họ mỗi ngưòi một phần lương thực Ration C,
rồi đem ra xa... bắn bỏ!!!
Truyền chỉ thị thi hành
cho thuộc hạ xong, tôi vội vã trở gót đi nhanh để khỏi phải
nhìn thấy những đôi mắt ngỡ ngàng kinh hoàng của ba cô cán
bộ “vẹm” tuổi đời đương độ xuân thì...! Tôi không biết trong
số ba “tử tội” đáng thương hại sắp bị dẫn đi “bắn bỏ” đó, có
ai thông minh chợt hiểu vì sao lệnh xử tử mà còn lại được
cẩn thận “ban” cho mỗi người một phần lương khô cá nhân đem
theo, không lẽ để mang về bên kia thế giới cõi ma mà “thọ
hưởng” ẩm thực...?! Bất giác tôi mỉm cười thú vị và tưởng
tượng cảnh ba “tử tội” sẽ sợ té đái khi tràng súng nổ xé
màng tai để tống tiễn đưa ba “nàng” về cõi sống...!
Trên đường đi trở lại chỗ đóng quân tôi suy nghĩ: Chúng ta
từ cõi hư vô nào thai sinh đến cuộc đời này, cách sông, cách
núi, qua biển, qua triền đồi thẳm vực... luân cư, định cư...
là người da đen, da đỏ, da trắng, da vàng... khác chủng loại
chăng? Nhưng tựu trung đã là Người thì “nhân sinh kế tại ư
xuân”, Nhân Tính hầu hết đều giống nhau là tham sống và sợ
chết... và đã là Người chưa đủ, mà phải học và hành, trau
giồi nhân phẩm để được làm Người (viết Hoa), chứ không chỉ
là loài thụ tạo vô tri, vô giác bất mộ nhân tố... vậy thì
phải sống theo Nhân Đạo là con đường lớn thẳng mà Đạo Lý
“cái” nhất định con người phải noi theo để đạt đến đích điểm
dự cầu là sống tự do, hạnh phúc trong hoà bình với những
chặng tiến hoá tất yếu của loài người... mà từ thuở lọt lòng
lớn lên biết nghe, biết học, biết viết... từ trong gia đình
chí cho tới học đường ai ai cũng được Ông Bà, Cha Mẹ, Thầy
Cô, Anh Chị, Cô Bác láng giềng dạy dỗ như hun đúc với “Khuôn
Vàng, Thước Ngọc” lấy Nhân Ái là tâm từ bi, thương yêu mà
đối đãi, cư xử với nhau, giữ giềng mối Nhân Luân như: Đạo Vơ
Chồng, ơn nghĩa Ông Bà, Cha Mẹ, Thầy Cô, tình nghĩa Huynh Đệ
ràng giữ hài hoà với nhau...
Tôi không thể ra lệnh
giết những cô gái yếu đuối thế cô, trong tay không có một
tấc sắt làm vũ khí để tự vệ, cho dù họ ở bên kia chuyến
tuyến, tuy có đối nghịch và đối phương đằng đằng sát khí hận
thù chúng tôi, do tuyên truyền nhồi sọ “ý thức hệ” chính trị
giảo hoạt, chứ thực tế ngay chính tôi đây là một quân nhân
cầm súng chiến đấu, vào sinh ra tử, đời sống dính liền với
trận mạc lặn lội, xông pha từ những khu chiến thuật núi rừng
bạt ngàn, đèo heo hút gió cho đến có những chiều mây mù
giăng giăng khắp nẻo sơn khê, áo trận ướt đẫm lành lạnh,
không biết là hơi sương rừng hay mồ hôi làm se lạnh nỗi
chạnh lòng đời lính lắm gian khổ, nhiều hiểm nguy...! Tôi
phải phát triển tối đa tài năng chỉ huy, chiến đấu tính trội
vượt hơn quân địch ngàn lần để chiến thắng và bảo vệ, giữ
cho binh sĩ tổn thất ít nhất... tôi vẫn ít có khi nào phải
lâm vào trường hợp căm thù địch quân để “thề phanh thây,
uống máu quân thù...” như Bắc Quân VC đã học tập thành quán
tính ác độc đối xử vô cảm, tàn sát đồng bào cùng chủng tộc
“Họ Hồng Bằng” (chim Hồng lớn, chim Bằng, chim Bồ Nông bắt
cá, biểu tượng khắc vẽ trên mặt Trống Đồng)...?
Trong
nỗi niềm thông cảm và thương cảm hoàn cảnh của ba cô y tá
Việt cộng bị bắt trong Chiến Khu D, tôi đã quyết định theo
lương tâm của con Người lương thiện mà thả họ trở về với đời
sống tự do và hy vọng họ sẽ trở lại làng quê, chốn cũ để
đoàn tụ với thân nhân trong mái gia đình bình yên và hạnh
phúc...! Bất giác tôi cảm thấy có nỗi buồn mang mang như
buổi chiều cuối năm còn dẫn quân di hành dọc theo con đường
hương lộ và trời dần tối mờ mờ chỉ còn le lói chút ráng
chiều chưa nỡ tan phai.
Có những chiều mưa buồn
giăng giăng khắp lối
Có những chiều giá lạnh tím cả hoàng
hôn
Tôi đi qua thôn xa heo hút lưng đèo
Rừng cây hoang
vắng tiêu điều
Và lòng như thấy cô liêu...!
Mấy năm
trời cuộc đời quân nhân đây đó
Mấy năm trời xuôi ngược
cuối nẻo đường xa
Tôi đây mang tâm tư anh lính xa nhà
Mà lòng vẫn thấy xót xa
Vì non nước còn đau buồn...!
30 Tháng 4 Năm 1975 Cuộc “Bàn Giao” Miền Nam
Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà đầu hàng Bắc Quân Việt cộng.
“kẻ xấu đã thắng” cuộc (phát ngôn của Thượng nghị sĩ Quốc
Hội Liên Bang Mỹ Senetor John McCain) lên ngôi, Người (viết
Hoa) bại trận, xuống làm thân trâu ngựa với bao nỗi chua xót
đau buồn...! Cóc nhái, ếch, ễnh ương, loài sâu bọ, lũ súc
vật “tất tần tật” nhảy bàn độc, chấp đôi cánh lên “giời”
hiển lộ vạn sự ác độc, gian trá, tàn bạo và ti tiện của đám
vốn gốc bần nông vô học kinh niên và di căn dòng giống mò
cua, bắt ốc, leo trèo hái quả của thời chưa tiến hoá...
chúng tự ti mặc cảm “quê một cục” nên cố căng hết “giây cót”
vênh váo thị uy quyền lực bèn hằn học, hung hăng trả thù, và
chiếm đoạt tất cả của cải, tài sản luôn cả thân “xác” xinh
đẹp phụ nữ “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” miền Nam là thiên đường
mà cả đời nằm mơ chúng cũng không bao giờ dám nghĩ tới,
huống chi là thẳng tay chém giết, “vô tư” cướp bóc dễ dàng,
và hả hê loài thú dữ thay khoác lên thân thô bỉ còn dính bám
đầy đất phèn bằng lớp lông vàng ròng óng ánh mới, chúng loi
nhoi tràn vào chợ còn nguyên dạng cáo đồng, nanh vuốt còn
ngay ngáy mùi tanh của máu tươi nạn nhân Quân, Dân, Cán,
Chính miền Nam thua trận...!
Thân phận tôi nay như
“bèo giạt hoa trôi” tựa đám lục bình bềnh bồng lững lờ trên
dòng sông Tiền Giang mang theo nhiều kỷ niệm của thời học
trò với áo chemise trắng, quần xanh ngày ngày đến trường nô
đùa và học hành với Thầy, Cô, và phấn bảng...! Nay gặp buổi
“thế thời phải thế” tôi đang ngồi “yên hùng” trên xe xích
lô, chân nhấn bàn đạp, chạy qua các đường ngõ ngách phố
phường nội thành Mỹ Tho, chân mỏi nhừ run rẩy, mồ hôi nhễ
nhại nhỏ giọt chảy lăn dài xuống má pha lẫn với nước mắt vì
nhớ đến những lần về phép thăm gia đình, quanh quẩn bên Mẹ
hiền như những ngày còn thơ dại không muốn rời xa...! Nơi
đây là Công Viên Lạc Hồng, Công Viên Dân Chủ, kia là sân
banh, ngôi trường Nguyễn Đình Chiểu, Bến Phà Rạch Miễu, Cầu
Quây, Chợ Cũ, Chợ Vòng Nhỏ... nay nơi nơi rực màu cờ đỏ, màu
máu tươi đã nhuộm đen và phủ chụp đời tôi trên yên chiếc xe
xích lô này, tôi còng lưng đạp miệt mài chở khách để độ nhật
qua ngày....!
Có những chiều hôm trời mưa mù mịt
không còn thấy ánh đèn vàng vọt bóng điện đường, nhà nhà đã
đóng cửa im lìm, tôi ngồi lọt thỏm trong lòng chiếc
xích lô, bụng đói lả vì cả ngày ế khách, tai nghe tiếng mưa
gió rít từng cơn qua tấm bạt che không đủ kín làm ướt lạnh
thêm nỗi cơ hàn...! Tôi cám cảnh đời khốn khổ vây kín, làm
thân cá chậu chim lồng phải luôn cảnh giác hiểm nguy rình
rập, nơm nớp lo sợ bị nghi, bị bắt, và bị giết trả thù “quân
Dù ngụy ác ôn có nợ máu với nhân dân”... rồi mệt lả ngủ
thiếp đi, trong cơn mơ chợt tỉnh giấc còn cảm giác luyến
tiếc chiếc xe Jeep có huy hiệu Nhảy Dù và chiếc “cần câu”
antena của đơn vị dành cho tôi sử dụng công vụ... và lung
linh ảnh hiện đôi mắt đen buồn xa vắng của người em gái nhỏ
bên vuông cửa nhìn theo bóng quân qua làng:
Gởi
theo ánh mắt mơ màng
Chiều mưa đồng tháp nhớ hàng quân qua!
Ôi thật:
Đẹp
làm sao trong giây phút phân kỳ
Trong ánh mắt đã say mầu
quên lãng...!
Nhưng rồi mưa hắt hiu lạnh, chợt
tỉnh giấc, bẽ bàng tiếc nuối biết đấy chỉ là mơ thôi...!
Rồi Có Một Ngày Kỳ Diệu Đã Đến
Tôi thả một người khách ở bến xe, đạp tà tà trở về Chợ Hàng
Bông để “lên tài”, qua khỏi ngã năm cây xăng tới cư xá công
chức bên sau nhà thờ Tin Lành, thấy một phụ nữ còn rất trẻ
vẫy tay ra dấu gọi, tôi đưa tay kéo thắng, tấp xe vào lề.
Người phụ nữ nhìn thoáng tôi rồi bước lên xe và nói:
– Chú chở tôi tới Bệnh Viện Mỹ Tho.
Tôi gượng lấy
thế, lại cong lưng nhấn bàn đạp xe lao tới, đoạn đường từ
đây tới Bệnh Viện Mỹ Tho chỉ non một cây số, đến nơi “bà”
xuống xe lúi húi móc túi xách tay trả cho tôi hai đồng. Khi
đưa tiền cho tôi, “bà” lại nhìn mặt tôi như quan sát, và lần
này tôi thấy vẻ mặt của “bà” hơi khác thường, cử chỉ lúng
túng như có một điều gì bất chợt khiến bà tần ngần...? Trong
tâm tôi cũng có một “cái” gì đó dao động như viên sỏi thả
vào mặt hồ ký ức mông lung xa xưa và chưa hẳn phai mờ... Tôi
bỗng dạn dĩ cố nhìn kỹ gương mặt và ánh mắt của “bà”, khuôn
“trăng” này, ánh mắt này, âm điệu lời nói tuy ngắn ngủi khi
nãy... như có gì quen thuộc mà tôi đã từng gặp “gỡ” ở
đâu...? Nhưng thôi đi, mình phu xích lô mà! “Bà” ta lấy lại
“vẻ” bình thường rồi nói:
– Chiều nay, tôi có vài
việc cần phải đi một vài chỗ. Khoảng 5:00g chiều chú đến đón
tôi được không? Chú cứ chờ ở đây khoảng vào giờ đó, tính bao
nhiêu tôi sẽ trả.
– Dạ tôi sẽ đến trước 5:00g và chờ
“bà”.
Tôi dao động vì tôi đã nhìn và nhận ra gương
mặt trái soan cùng đôi mắt đen láy thông minh cùng giọng nói
của “bà” Nguyễn Thị Yến quê quán Chợ Gạo Mỹ Tho, cô đã bị
đơn vị tôi bắt và thả ra trong Chiến Khu D từ 5 năm trước
kia. Tiếp tục công việc, tôi đạp xe trở lại bệnh viện trước
giờ hẹn để đón “bà” khách “xộp”. Yến từ hành lang bước ra
vội vã lên xe xích lô của tôi và đột ngột thay đổi cách xưng
hô:
– Anh đưa em xuống Chợ Cũ để thăm một bệnh nhân,
chờ em rồi đưa em về nhà.
Ngồi trên xe, Yến cứ quay
đầu lại nhìn tôi nhiều lần, có lần nhìn chằm chặp vào gương
mặt rám nắng, râu ria lởm chởm gầy hóp của tôi.... Tôi hoang
mang có chút lo âu vì bản thân đang sống trong tình trạng kẻ
bị tầm nã, trốn trại tù! Không biết Yến đang làm gì, nhưng
chắc chắn phải là cán bộ có chức sắc của chế độ mới, nếu
không thì làm sao ở cư xá công chức sang trọng nhất của
thành phố này? Trên đường trở về nhà, Yến bất chợt quay nhìn
lại và hỏi tôi:
– Trước năm 75 anh có đi lính Nhảy Dù
không?
– Dạ có, nhưng tôi giải ngũ trước khi giải
phóng, vì bị thương gãy chân...! Tôi bịa chuyện nói dối
tránh né.
– Năm 1971 anh có đi hành quân ở Sông Bé
tỉnh Phước Long hay không?
Tôi trả lời ngay là không.
Tôi đoán biết Yến đã nhận ra tôi nhưng chưa chắc nên mới hỏi
thăm dò những câu hỏi huỵch toẹt ra như thế. Trước kia tôi
thẩm vấn cô, ngày nay cô thẩm vấn tôi, ngẫm sự đời “tạo hoá”
hay định mệnh thật là trớ trêu...? Về đến nhà, Yến xuống xe,
móc ví nhét vào tay tôi tờ giấy bạc “cụ Hồ” 50 đồng và căn
dặn:
– 8:00g ngày mai, em chờ ở đây, anh đến đón em
đi làm.
Nếu biết Hữu Duyên sao không Tao Ngộ,
Nếu biết Nghiệp Chướng sao không Hữu Phùng?
Nhưng:
Nếu biết cuộc đời là hữu phùng, hữu biệt
Thì tôi xin như mây trắng mãi ngàn phương...
Nếu biết
cuộc đời là sầu đa lạc thiểu
Sao chân cầu còn lưu luyến
nước trường giang?
Ai đã qua sông còn ngoảnh vời cố quận,
Thiên lãng xa, ải nhạn hướng đâu tìm?
–[MĐTTA]
Câu Chuyện Của Nguyễn Thị Yến
Sau những tràng đạn nổ vang, em hồn phi phách tán, năm mười
phút sau mà cứ tưởng mình đã chết, khi tỉnh hồn, em với
Hạnh, Ánh lội qua sông Bé và tìm gặp được đơn vị cũ rồi cứ
chạy miết qua bên Miên, cho đến ngày được lệnh chuẩn bị cho
chiến trường An Lộc, em được cân nhắc lên chức vụ Y tá
trưởng của Công Trường 5 vì bởi thế cô, cánh hoa trong tay
lang sói, em bị ép uổng, phải trải qua tay bao nhiêu thằng
thủ trưởng khốn nạn, chúng thèm khát và lạm dụng thân “xác”
em như đồ vật để thoả mãn bệnh thái dâm dục tiêm nhiễm nhiều
thú tính man rợ hạ liệt nhơ nhớp thấp hèn...! Đôi khi em
muốn tự tử, lại nghĩ tới Mẹ già hiu quạnh luôn ngóng chờ tin
con, rồi lại không dám chết, em như cái xác sống phó mặc cho
cảnh đời đưa đẩy và em nghĩ tới anh, thầm hỏi tại sao lúc đó
anh không hỏi đơn vị của em ở đâu, có bao nhiêu người, đang
di chuyển và trú đóng ở nơi nào... mà chỉ “tra vấn” em những
câu rặt Tình Người rồi bày kế “xử tử” bọn em bằng những loạt
đạn bắn chỉ thiên...? Bao nhiêu năm phải chung sống với bọn
chúng, em chỉ thấy toàn là giả dối, dốt nát, ngu đần... Em
thật sự ngán ngẫm, muốn thoát ly nhưng cảnh ngộ như những
gọng kìm khép chặt vào chân đành thúc thủ chịu trận cho qua
ngày tháng...! Ừ thôi, thì cứ tự an ủi có lẽ nghiệp chướng
vay từ kiếp nào theo đuổi báo oán, trong kiếp này phải trả
mà thôi...?!
Sau “giải phóng” 30 tháng 4 năm 1975, em xin về quê quán Chợ
Gạo để quán xuyến mảnh vườn của Cha Mẹ để lại. Nhưng chúng
nó giữ lại và cho em làm Phó Giám Đốc bệnh viện Mỹ Tho dưới
quyền cai quản của con mẹ mập i–tờ–rít từ ngoài Bắc cử vào.
Đến năm 1976 em kết hôn với anh Tân là cựu Giáo Sư dạy văn
chương ở trường trung học Nguyễn Đình Chiểu, nhờ vào chức vụ
Phó Giám Đốc của em, “chính quyền” cấp cho em một căn hộ
trong cư xá vốn là nhà của một công chức chế độ trước bỏ
nước ra đi trước tháng tư 1975, hiện nay em đã có hai con
với chồng. Nhiều lần tâm sự, em bàn kế với Tân là mình phải
tìm đường đi ra khỏi nước vì không thể sống với bọn man di
mọi rợ này được...! Tân khuyên em nên kiên nhẫn chờ sự bảo
lãnh của người em ruột của Tân đang định cư ở New Orlean,
Louissiana...
Tôi ngồi yên lặng trong căn phòng khách
xinh xắn nhà của Yến và lắng nghe nàng nói như giãi bày tâm
sự, chiếc xích lô của tôi được khoá cẩn thận bên ngoài,
chồng và hai con của Yến đang xem truyền hình trên lầu. Yến
vẫn nghĩ rằng tôi là một sĩ quan Nhảy Dù đã đưọc giải ngũ
trước “trận hồng thuỷ” và tôi cũng không hề hé môi để lộ
tông tích của mình đang mang tội vượt ngục và dám tham gia
kháng chiến với “Sư Đoàn Tiền Giang”. Bỗng Yến chợt hỏi:
– Hay là để em kiếm một việc làm cho anh trong bệnh viện
của em?
– Không! Cám ơn cô, tôi “có đường đi” và cũng
chưa biết đi đâu? Nhưng tôi phải đi, cho dù phải trả giá
bằng mạng sống của chính mình, chắc cô cũng biết...? Nay vì
ân tình nghĩa lụy, cô đã giúp cho tôi có thêm nghị lực để
mạnh dạn bước tới với cảnh ngộ khó khăn như thuyền trôi mắc
trên khúc sông cạn... và mãi tới hôm nay tôi vẫn còn nhớ như
in là cô đã trả lời câu hỏi của tôi: “mạng sống của con
người là quan trọng...”.
Rồi từ sau đó tôi rời bỏ quê
hương mà trong lòng vẫn không quên hình ảnh cô Yến ở Chợ Gạo
và là Duyên–Nghiệp tao phùng kỳ diệu từ buổi gặp gỡ nhau
trong chiến khu D.
Năm 2014 Tại Mỹ
Một cú điện thoại lạ với area code 508 từ vùng Boston,
Massachusetts:
– Dạ tôi là Tân... xin được nói chuyện
với anh Út Bạch Lan ạ!
– Dạ tôi Út Bạch Lan nghe đây.
– Dạ thưa anh... em là Tân, chồng của cô Yến Chợ Gạo đây
ạnh ạ...! Em có quen với một vài người bạn, họ nói biết anh,
em xin số điện thoại và gọi cho anh... Vợ chồng em có đọc
bài “Trinh Sát 2 Nhảy Dù” của anh, trong nội dung bài viết
có “nói” là bắt được ba cô y tá “vẹm” ở Chiến Khu C, nhưng
vợ em tên Yến lại bảo em phải cố liên lạc ngay để nói với
anh là Chiến Khu D chứ không phải C. Tụi em qua Mỹ được sáu
năm rồi, mọi việc cũng ổn định, Yến cứ nhắc đến anh hoài,
anh nói chuyện với Yến nha, để em chuyển phone cho vợ em.
Trong tâm của tôi có nhiều xúc động vui mừng như được gặp
lại người thân bấy lâu xa cách tưởng chừng như biền biệt tăm
hơi...!
– A lô... Tôi Út Bạch Lan nghe đây.
–
Hi... Ông anh đạp xích lô à! Em tưởng anh là Lính Cộng Hoà
tình nghĩa “huynh đệ chi binh” thương dân nghèo, ruộng hoang
cỏ cháy, thấy nỗi xót xa của kiếp đoạ đày... Ai có ngờ ông
anh bèn vượt biển dông đi... đi luôn... không thương người
em gái nhỏ Chợ Gạo còn ở lại chờ trông... thì ra ông anh
cũng ác ôn như mấy thằng cán ngố thời lai đồ điếu thành công
dị hợm...!!! Anh còn nhớ anh đã nói gì với em trước khi anh
biệt tích không? Anh nói là anh có đường đi, em biết ngay là
anh đi đâu rồi, nhưng anh giấu tụi em, điều đáng trách là
anh không dẫn tụi em theo, rồi bây giờ sang Mỹ còn viết bài
về ba cô y tá ở Chiến Khu C nữa... Tình cờ em đọc được bài
viết đó mới biết anh là Đại đội trưởng Trinh Sát 2 Nhảy Dù
“ác ôn có nợ máu với nhân dân” chớ không phải là ông phu
xích lô râu tóc xồm xoàm đưa đón em đi làm và ngồi nghe em
kể chuyện chiến khu... Lúc anh “biến” mất, em cứ tưởng anh
bị tai nạn, cứ chờ anh đến chở đi làm, chờ hoài không thấy
anh tới, em phải đi bộ... và nhớ hoài đến gương mặt của tên
ĐĐT/TS2NDù “ác ôn” đã thẩm vấn em rất ư hoà bình...!
Tôi vội ngắt lời và đùa vui:
– Cô Yến nè... Cô nói
như vậy không sợ anh Tân chồng cô giận sao?
– Hổng có
đâu! Tân rất yêu thương, thông cảm, chia sẻ, tôn trọng, và
chiều chuộng em mọi thứ, anh không câu nệ, nhỏ mọn với quá
khứ của em từ tâm hồn lẫn vật chất. Với Tân là tình nghĩa vợ
chồng, với anh là ân oán của thù và bạn, anh là thù của em,
em cũng là thù của anh, nhưng tại sao em vẫn luôn nghĩ tới
anh...? Vì anh là người bạn hay nói xa hơn anh là nhất điểm
tinh thần là “động lực” để em tự cứu vớt đời mình ra khỏi
lớp bùn thối tha nhơ nhớp của loài Cộng sản gây nên trên
khắp quê hương mình!
Có gì đâu mà em xấu hổ...?
Đất nước đè em nặng trĩu hơn nhiều!
Sau 30 tháng
4 năm 1975, em về thành, bắt đầu làm việc trong bối cảnh
thanh bình không có tiếng bom đạn, không có hình ảnh của
những thương binh máu me bê bết thân người, không nghe những
tiếng kêu la rên siếc đớn đau dưới hầm trú ẩn, nhưng lại
chứng kiến những trò lưu manh trơ trẽn, tranh giành, chụp
giật của cải, tài sản của Quân Cán Chính “Ngụy” kể cả dân
lành vô tội... của những tên thượng cấp của em, và cũng
chính chúng đã từng dùng quyền lực để o ép, cưỡng bức thân
“xác” của em nhiều lần trước đây.... Em nhờm tởm bọn thủ
trưởng, lãnh đạo... thân thể mang đầy vi khuẩn sốt rét ngã
nước kinh niên cùng với tâm hồn thương tật, bệnh thái, căn
tính đầy thù hận, hiểm ác không lường...! Trước khi ra đi
với Tân và hai đứa con theo diện bảo lãnh thân nhân, em phải
ký giấy tờ chủ quyền giao hết đất đai nhà cửa của Ba Má em
cho tên xã trưởng, cái tên mà trước đây hằng đêm đến nhà để
thuyết phục em theo hoạt động cho nó. Em không chần chừ,
không tiếc rẻ, không thắc mắc... em ký ngay “thí cô hồn” cho
nó, vì em đã dứt khoát khai tử với thiên đàng “xuống hố cả
nút” của bọn nó...! Em mong ước sẽ có ngày gặp lại anh ở một
nơi nào đó trên phần đất Tự Do – Dân Chủ để nghe anh “tra
vấn” những câu chuyện thấm đượm Tình Người giữa hai kẻ thù
Quốc Gia – Cộng sản không cùng chiến tuyến.
Yến nói
liên tu bất tận, tưởng chừng như cháy máy điện thoại... Tôi
ngắt lời nhiều lần! Nhưng Yến nài nỉ:
“Anh cho em
nói hết, nói cho đã... Vì sau ‘giải phóng’ em làm việc với
chúng nó, em chỉ có biết chửi chúng nó mà không hề có cơ hội
tâm sự, lòng mình biết tỏ cùng ai...?!
– Anh biết
không, khi qua đến New Orlean do người em chồng bảo lãnh,
lại có thêm bọn đầu trâu mặt ngựa là nhóm Việt Tân gì đó ở
Biloxi cứ quấy rầy em hoài, chúng khuyên em phải làm cái
này, không làm cái kia, chúng nói sẽ cung cấp tiền bạc sinh
sống và nuôi con em ăn học... Em khẳng định từ chối và cuối
cùng em với Tân quyết định dời lên Boston, tá túc với một
người bạn và bắt đầu làm lại cuộc đời, cắt đứt, dứt bỏ chôn
vùi quá khứ vào quên lãng, nhưng khốn nỗi ‘người ơi, khi
muốn quên là khi lòng mình nhớ thêm’ và trách anh sao hồi đó
không giải giao em cho An Ninh Quân Đội điều tra xong, ra
toà kêu án chừng 5–10 năm tù ở Côn Sơn hay Phú Quốc gì...
gì... cũng được, rồi sau cùng em cũng được thả sống tự do,
đàng này vì Tình Người và tấm lòng nhân hậu, anh thả em ra,
lại phải trở về sống trong kiềm toả của bầy quỷ dữ trầm
luân...! Cũng may là em gặp được Tân, anh là một giáo sư văn
chương độ lượng không cố chấp, đôi khi còn mạnh dạn ‘phá
chấp’ để giúp em thêm tin tưởng bước qua những cửa ải oan
khiên trên đoạn đường đời.”
Quả thật cuộc đời
của Yến là một:
Thiên Địa phong trần
Hồng nhan
đa truân...
–[Chinh Phụ Ngâm – Đoàn Thị Điểm]
Yến không giống như Kiều đã trầm mình dưới sông để trút
hay rửa sạch nợ trần, Yến bị ba đào hãm nịch phong trần đã
qua phong trần... mà vẫn còn nghị lực để phấn đấu với nghịch
cảnh, Yến đã có sự chọn lựa cuối cùng cho đời nàng. Nàng đã
hiên ngang dũng cảm hơn phận đàn bà để bước qua lằn ranh
Quốc – Cộng không một chút tơ vương những hệ lụy quá khứ...
Khá khen thay! Nhưng ở đây nơi bình yên, cô trách tôi đã cư
xử như “người ngu tốt bụng” và thêm “tội” sao ra đi mà không
dẫn vợ chồng cô theo cùng, để có thể xây dựng cuộc sống ấm
no, yên bình, và hạnh phúc trong vòng tay của Nữ Thần Tự Do
là biểu tượng của “giặc Mỹ xâm lược” mà bọn “vẹm” vẫn thường
hay sủa thối. Tạo hóa trớ trêu thay lại có những công hầu
khanh tướng, trí thức khoa bảng vượt biên giới Quốc Gia đi
tìm Cộng sản và để rồi vỡ “mộng ban đầu” chuốc lấy nhiều tai
hoạ về sau! Yến nói tiếp:
– Thời gian đầu mới đặt
chân đến Mỹ, em cảm thấy bơ vơ, lạc lõng... vì đám cán bộ
tuyên vận VC bố trí “đặc tình” công tác ở hải ngoại cứ
thường hay tìm đến móc nối để em tiếp tục làm việc với chúng
nó. Nhưng em từ chối quyết liệt, dần dà rồi chúng cũng chán
nên không tới quấy rầy nữa?!. Bây giờ chúng em ở ngoại ô
thành phố Boston, yên bình thú vị lắm! So với cái thiên đàng
“xắp hàng cả ngày” của chúng nó, thì phải tới vài ba kiếp
người nữa mới có thể dò dẫm theo được đến bước chân Người!
Chồng em, đi làm về là lên online truy lùng những bản tin
hữu ích và văn chương thi phú Việt ngữ khắp cùng... và tình
cờ đọc được những bài viết của anh, Tân nói với em: “Tác Giả
là một quân nhân tuy xông pha trận mạc, nhưng tâm tính tràn
đầy nhân bản”... và nói: “em nên đọc rất hay”! Em đọc tới
đoạn Chiến Khu C, chợt giật nảy mình rồi rất đỗi vui mừng
hét lên: “quả trái đất tròn “! Chính là anh này đây! Em nhờ
Tân phải bằng mọi cách truy tìm manh mối để liên lạc với anh
nên mới có ngày vui hôm nay. Tâm sự như tri kỷ với anh, em
lại nhớ đến những đêm trong chiến khu, ngồi buồn nhìn những
tên thủ trưởng cao cấp uống rượu Hà Nàm thuốc Bắc cường
dương ngâm với bào thai con nít rồi động dâm bèn bắt nữ cán
bộ phục vụ sinh lý hả hê thoả mãn thú tánh...! Sau 1975 về
thành thì mắt láo liên tìm nhà, tìm đất đai, tìm vợ, và con
gái sĩ quan “Ngụy” để chiếm đoạt... Em phát tởm và khinh bỉ
chúng đến tận cùng! Không phải chỉ riêng em, mà hằng vạn...
vạn nữ cán bộ như em bị sung vào “kháng chiến” đều là nạn
nhân và có tâm trạng tương tự như thế cả! Tân bắt em đọc bài
“Cuộc Chiến Tranh Nam Bắc của Hoa Kỳ 1865–1866” để so sánh
với cuộc chiến Bắc – Nam của Việt Nam em lại càng thấy lợm
giọng cho chính mình... “bên thắng cuộc” Cộng sản Bắc
Việt...!
Mùa đông cuối năm 2014, những cơn bão tuyết
đổ ập xuống vùng đông bắc Mỹ, vợ chồng Tân đón tôi ở phi
trường Boston với chiếc xe Nissan cũ kỹ. Tân cùng tuổi với
Yến, gương mặt khắc khổ, cương nghị, vốn là giáo sư văn
chương trung học, giọng nói từ tốn chắc nịch, ít cười nói
trong khi Yến tung tăng như con chim vành khuyên hót líu lo
bay nhảy trên những cành đào đang mùa hoa nở...! Từ phi
trường về nhà khoảng 45 phút, Tân chú tâm lái xe vì thời
tiết lạnh dưới độ đông đá, giây phút gặp nhau trong thinh
lặng như để hồi tưởng lại những ngày tháng tôi cong lưng đạp
xe xích lô đưa Yến đi làm ở bệnh viện Mỹ Tho. Tôi nhìn Yến
với nét thanh tân thời con gái đã đi qua, bây giờ nàng là
một phụ nữ đứng tuổi, nhưng ánh mắt hiền lành, tinh anh vẫn
còn sáng niềm tin trên khuôn mặt trái soan như ngày nào và
giọng cười, tiếng nói vẫn lém lỉnh, luyến láy như ngày xưa
ấy chưa hề “hoá thạch” theo thời gian làm già cỗi tâm hồn?
Yến ngồi ở băng ghế sau, thỉnh thoảng chồm lên phía trước
và:
– Anh biết không... Sau khi anh đi một thời gian,
cuối năm 1980 chúng nó điều em đi học để lấy bằng Phó Tiến
sĩ Y khoa...?!!! Trời ơi, đất hỡi...! Học lực của em chưa
xong bậc trung học phổ thông, trình độ y tá trong “khu” rừng
chưa qua khỏi chiếc “lá mít”... Vậy mà “lãnh đạo” đề cử cho
em đi Hà Nội “chuyên tu” học lấy bằng cấp, học vị Phó Tiến
sĩ Y khoa chỉ trong vòng 6 tháng, thì duy nhất trên hành
tinh này chỉ có nền giáo dục của “chủ nghĩa xã hơi” là “dzĩ
đại” ngu xuẩn, xem mạng người như súc vật...! Xong khoá học
“chuyên tu” em trở về lại chức vụ cũ với mảnh bằng Phó Tiến
sĩ Y khoa như chuyện khôi hài mà có thực tại đất nước Việt
Nam dưới thời đại đồ đểu, bọn bần nông vô học đương quyền
thống trị! Em chán nản vì nạn quan chức tham ô hống hách
lộng quyền...! Muốn thực hành một ca mổ, bệnh nhân phải trả
trước cho bác sĩ 500 ngàn đồng, mỗi y tá 200 ngàn, tiền chi
phí của bệnh viện mỗi ngày 500 ngàn, đó là chưa kể “tiền
đường” đưa tại chỗ để được nhập viện... Có một ngày, em đi
chợ Hàng Bông, nơi mà trước đây anh đậu chiếc xích lô chờ
khách, em chợt nghe hai người đàn bà đứng kế bên nói sách
mé, miệt thị: “xí... dốt như chuyên tu, ngu như tại chức mà
cứ làm bộ như là đỉnh cao trí tệ”! Về nhà em hỏi chồng, Tân
cười hì... hì...: “thì họ ‘phán’ đúng quá trời rồi, em còn
hỏi cái gì nữa”?! Sau đó em xin ra khỏi đảng và nghỉ việc để
chờ em trai của Tân bảo lãnh “Quy–Mã”.
Căn nhà đơn sơ
chỉ có hai phòng ngủ nhỏ hẹp. Hai đứa con trai của Tân–Yến
vừa đi làm vừa đi học xa nhà, nên các cháu share phòng ở với
một gia đình khác cách đó khoảng 100 miles. Yến giục tôi:
– Anh đi tắm rửa rồi ăn cơm với tụi em.
Trên bàn
cơm, tôi chỉ thấy một đĩa đuông dừa xào, một tô canh rau
nhút, và hai khứa cá trê biển kho tộ, hai cái chén, hai đôi
đũa. Tôi ngạc nhiên hỏi:
– Sao dọn chỉ có 2 cái chén
ăn cơm? Yến vội trả lời:
– Phần này là của tụi em,
còn của anh là cái khác...!
Tân đứng dậy, mở closet
lấy ra một gói giấy rồi từ tốn mở ra, bên trong là một hộp
giấy cứng để trước mặt tôi... là một phần lương khô cá nhân
của Quân Đội Mỹ “chính nó” Ration C...!!! Tôi quá ư là ngạc
nhiên và xúc động bội phần, tâm thần như bị hụt hẫng... và
cả ba chúng tôi không ai mở miệng nói được một lời nào,
nghẹn ngào trong nỗi niềm chợt buồn vui lẫn lộn như muốn
khóc “nói chi cũng bằng thừa”...! Trên bàn ăn Yến hai tay
chống cằm cứ nhìn tôi thương cảm và không màng chi ăn uống!
Tôi bỗng “dở hơi” lúng túng vụng về như gã khờ khạo vì trên
“đưòng chiến chinh” lì lợm ít khi “bị” rơi vào trạng huống
“thương nữ tái hiệp anh hùng bèn sầu bi tích lệ”...!
– Vợ chồng em ăn cơm đi... “tôi” cũng ăn. Yến nhanh nhẩu:
– Ăn sao được mà ăn... vì tụi em mừng quá khi gặp lại
anh còn tưởng chừng như một giấc mơ! Anh biết không, khi em
nghe anh ra lệnh đem tụi em ra xa bắn bỏ, em nghĩ số mạng
mình đã kết thúc, với hai tay bị trói chặt, mắt bị bịt che
kín, thân mình bị đè sấp xuống đám lau sậy... Bỗng ba bốn
tràng đạn nổ muốn xé rách màng nhĩ, hồn phi, phách tán bay
bổng lên mây, rồi lại nghe văng vẳng tiếng của ai đó nói:
“cởi trói cho cô này thôi”! Rồi tiếng chân của “tử thần” xa
dần... chỉ còn lại tiếng khóc thổn thức của ba đứa em mà
thôi...! Chị Hanh được cởi trói vì khỏe mạnh và lớn con hơn
hai đứa em, rồi chị ấy lần lượt cởi trói cho em và Ánh...
hoàn hồn và mừng rỡ vì biết mình còn sống, chúng em vội vàng
lội qua sông Bé tìm về được đơn vị của mình trong khi ba hộp
lương khô Racion C vẫn còn trong bịt nylon dắt theo bên
mình. Từ sau đó, “tư duy” của em dần... dần thay đổi rồi tự
hỏi người “Lính Ngụy” có thật đánh thuê cho Mỹ và có ác ôn
hiếp dâm phụ nữ, bắn giết dân hiền lành, lương thiện như
những gì mà em đã bị “chúng nó” tuyên truyền nhồi nhét vào
đầu óc từ bấy lâu nay không...?
Tôi chợt nhớ tới
những binh sĩ dưới quyền đã thi hành “lệnh bắn bỏ” 3 cô y tá
cán bộ VC trong Chiến Khu D, bèn hỏi Yến:
– Cô có
biết những người Lính thi hành lệnh bắn bỏ các cô bây giờ ra
sao không?
– Dạ không.
– Họ đã chết trận hết
cả rồi!
Đôi mắt Yến khép nhẹ, tâm hồn như chùng
xuống, tôi thấy lóng lánh ánh mắt hình như có giọt lệ ngàn
phương đọng ở khoé mắt, Yến cố che giấu nỗi xúc động, nén bi
thương bằng cách cầm đũa lùa vội một vài miếng cơm ăn thẫn
thờ, đôi mắt cố nhìn xuống bàn để tránh không bật ra tiếng
khóc...! Tôi đánh trống lảng, xoay qua hỏi Tân về chuyện làm
ăn sinh sống. Từ ngày về thành phố ngoại ô Boston này, nhờ
người bạn giúp đỡ, Tân đi làm thợ tiện, Yến làm y tá bán
thời gian cho một văn phòng bác sĩ người Việt, cuộc sống ổn
định mặc dù còn nhiều vất vả... Trong suốt thời gian này rất
nhiều tên đặc tình (tình báo dân vận) Việt cộng liên lạc, đề
nghị sẽ cung cấp tiền bạc, phương tiện để cho Yến tái hoạt
động lại cho chúng, nhưng Yến dứt khoát từ chối không hợp
tác với bọn quỷ đỏ này nữa.
Tôi hỏi Tân:
– Chú
là cựu giáo sư văn chương lâu năm của Trường Trung Học
Nguyễn Đình Chiểu. Vậy chú nghĩ thế nào về buổi tao ngộ ngày
hôm nay giữa tôi và vợ chú là hai người khác chiến tuyến,
tôi Quốc Gia và Yến Cộng sản?
– Thưa anh, sau 1975
giữa hai “phe” Quốc Gia và Cộng sản đã có một lằn ranh rõ
rệt do “bên thắng cuộc” cao ngạo vạch ra, chúng qui định tất
cả nhân sự Quân, Cán, Chính miền Nam là Ngụy Quyền và toàn
thể dân miền Nam là Ngụy Dân. Cũng như anh, em đã chịu đựng
trải qua nhiều đắng cay với chế độ mới, là một nhà giáo mà
chỉ biết cúi đầu nghe những lời thuyết giảng của bọn cán
ngố, dốt đặc cán mai, “rao giảng” tà thuyết Marxism,
Leninism như con vẹt cho đám học trò thơ dại, tuổi đời ăn
chưa no lo chưa tới... là nỗi đau tra tấn tinh thần vô
cùng...! Em cũng phải kham nhẫn để được còn có việc làm và
tiêu chuẩn mua được nhu yếu phẩm để nuôi thân hèn mọn... và
tiếp tế phụ giúp cho cha mẹ! Thời gian sau em gặp Yến, hai
đứa yêu nhau rồi lấy nhau thành chồng vợ, Yến chân thật tâm
sự với em những nỗi tủi nhục, gian truân của cả quãng đời lỡ
bước lầm đường đi theo bầy quỷ đỏ vô thường giết hại dân
lành, đốt phá quê hương... Nhưng cũng là do ở cảnh ngộ oan
khiên, chẳng đặng đừng như cơn lốc cuốn Yến vào mà thôi, chứ
bản chất Yến là thiếu nữ rất hiền hoà, lương thiện, và mộc
mạc quanh năm, suốt tháng ngày sống bình dị với vườn cây
lành, trái ngọt, và tiếng hát vọng cổ, câu hò dọc theo nhánh
sông Tiền, sông Hậu...
Hò... hơ... đèn Sài Gòn
ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh dzìa
học lấy chữ Tu
Chín trăng em đợi... ơ... hò...
Chín
trăng em đợi, mười thu em chờ...
Và:
Hò... lơ... quê em có hàng cau sai trái
Giồng trầu xanh
lá nắng chiếu ngoài hiên
Nước Tiền Giang đưa anh tới nơi
này... ơ... hò...
Để em nhìn thấy, đêm ngày nhớ
thư...ơ...ng...!
–[HMU]
Trong đêm trời oi bức, khó dỗ giấc ngủ, Yến tâm sự là có
ý muốn thoát ly ra khỏi bối cảnh rác rưởi dơ bẩn của chế độ
mà Yến đang được ưu đãi. Yến không muốn thù hận những kẻ đã
manh tâm hãm hại nàng, mặc dù Yến rất chán ghét và khinh bỉ
bởi sự ngu dốt nguyên thuỷ đã hoá vôi mà thời gian chỉ làm
đùn lên thêm nhiều lớp dày đặc khô cứng... và thù hận chỉ
làm thêm phiền não nữa mà thôi, chi bằng tìm phương kế để
vượt thoát ra khỏi “nhà tù lớn” này mới là thực tế. Tôi lại
nhắc Tân:
– Chú ăn tiếp đi... kẻo thức ăn nguội lạnh
hết! Tôi thấy Yến thỉnh thoảng lại chăm chú nhìn tôi như
quan sát để xem cảm xúc tình cảm của tôi chăng? Yến buông
đôi đũa và nói tiếp lời chồng:
– Anh biết không...?
Khi anh báo tin lên thăm tụi em, em nói Tân đi tìm một món
quà đặc biệt có ý nghĩa để tặng anh, Tân tìm tới Army
Surplus Store hỏi order mua và chờ vài ngày sau mới có được
hộp Ration C này, vì trước đó hai vợ chồng em cứ bàn mãi
không biết anh thích món gì, cuối cùng em chợt nghĩ ra ý
tưởng ngộ nghĩnh này và em gọi “nó” là: “còn một chút gì để
nhớ thương”! Tôi đặt chén đũa xuống bàn và đứng lên:
– Tôi xin phép vào phòng một chút sẽ trở ra ngay, cô chú cứ
tiếp tục ăn cơm! Rồi đi vội vào phòng mở túi xách lấy ra hai
món quà cho Tân và Yến mà trước khi đi vợ tôi đã gói bọc cẩn
thận. Trở ra bàn ăn, tôi nói và phân chia quà tặng:
–
Anh và Chị có chút quà mọn để thân tặng đôi vợ chồng em.
Tân mở chiếc hộp là một cặp viết Parker với lời cám ơn,
Yến tháo gỡ từng sợi dây đỏ cột ngoài Box rồi từ từ mở nắp,
quà đặc biệt tôi tặng cho Yến là một Chiếc Xe Xích Lô thủ
công. Yến có vẻ bồi hồi, ánh mắt rưng rưng rồi không thể dằn
cơn xúc động dâng tràn, Yến bật lên tiếng khóc vội xô ghế
đứng dậy, chạy nhanh vào bếp cố bụm miệng để kìm hãm bớt
tiếng nức nở sụt sùi...! Tôi với Tân ngồi yên hoá đá như hai
pho tượng, tâm tư cũng có nhiều nỗi bi lụy và cảm thông với
tâm tình “một trời kỷ niệm” chẳng hề phai mờ trong tâm hồn
vốn mang nặng ân tình cũng là cõi lòng riêng tư mà Yến đã
trải qua...!
Có Trời Mà Cũng Có Ta?
Tôi lưu lại hai đêm, ba ngày ở nhà vợ chồng Yến–Tân, cả
hai vẫn đi làm như thường ngày, nhưng Yến làm partime nên có
thì giờ ở nhà nhiều hơn. Tôi bước ra sau hiên nhà hút thuốc,
Yến ra đứng cạnh bên và thân tình như huynh muội, nàng ôm
lấy cánh tay và ngước nhìn mái tóc trắng bạc của tôi rồi nói
nhỏ:
– Anh xem kìa... tóc anh có khác gì những mảnh
tuyết còn đang đọng ngoài kia...! Còn em tựa như cành cây
khô trụi lá sau mùa đông tàn tạ vì cảnh ngộ và tuổi đời...!
Anh đã không cần chiêu hồi em? Nhưng qua những ngày tháng
biết anh trong cảnh đời trong héo ngoài tươi, kham nhẫn khổ
cực đạp xích lô đưa đón em đi làm, em cảm nhận có một cái gì
đó nơi anh mà em chưa hiểu thấu...? Em xét lại bản thân, suy
nghĩ và so sánh sự khác biệt giữa người Quốc Gia và Cộng
sản... rồi “ngộ” ra và đi đến tự thay đổi toàn diện là ly
khai với bọn “nằm mộng giữa ban ngày”, và sau cùng xem như
ơn trên không bỏ rơi người lành nên em và Tân cùng con cái
được định cư và sống cuộc đời hạnh phúc trên đất nước Mỹ này
như ân huệ trời ban cho những kẻ có Tâm kỳ vọng và sống
hướng thượng tới sự tốt đẹp hiền hoà...! Đêm hôm qua em
không ngủ được, cứ nhìn chầm chặp chiếc xe xính lô để trên
đầu giường và nghĩ đến thân phận nổi trôi theo vận nước của
anh và chạnh lòng rồi tự hỏi: có biết bao những chiến sĩ
trong quân đội miền Nam cũng đã có cùng sự chịu đựng oan
nghiệt và giữ được nghị lực phấn đấu như anh...? Em rất trân
trọng và hâm mộ các Anh và biết rằng sở dĩ Quê Hương Việt
Nam còn được tồn tại mãi cho tới ngày hôm nay là vì Dân Tộc
Việt là một Nòi Tình có bản chất Nhân Ái làm gốc, sống triệt
để Hướng Thượng, Kiên Cường Kham Nhẫn, và Quật Khởi... luôn
đấu tranh để được sinh tồn, tiếp nối, và tiến hoá...!!!
Tôi rất vui biểu đồng tình và đưa tay vỗ về nhẹ bờ vai
gầy guộc của Yến, rồi ngước nhìn xa xa vào khoảng trời mông
lung có những đám mây như cô đọng lững lờ, một vài vạt nắng
vàng yếu ớt không đủ xua tan tiết trời giá lạnh mùa đông...
Nhưng trong tâm tư của tôi đang nhen nhóm bếp lửa ấm lan toả
thâm tình an nhiên và hạnh phúc! Bất chợt tôi có ý nghĩ ngộ
nghĩnh: từ vật là khẩu phần Racion C và chiếc xe xích lô làm
Duyên mà Tôi và Yến đã vượt qua chiến tuyến thù hận Quốc Gia
và Cộng sản, kinh qua bao cảnh ngộ oan nghiệt của dòng đời,
chúng tôi như “cùng một lứa bên trời lận đận” giữ được lòng
nhân lương thiện làm gốc Đạo làm Người... để rồi gặp lại
nhau đây là một Nghiệp tốt? Cám ơn Thượng Đế chăng? Vượt
ngoài tầm hiểu biết hạn hẹp của trí óc phàm phu và cũng đã
vội tố cáo sự dốt nát và căn tính giảo hoạt khi lắm lời lẻo
mép, dụng ngôn từ bất tận lý rao giảng thế giới vô cùng...!
Thượng Đế ôi... Ngài đã là món hàng độc, đẹp, muôn màu sắc
lung linh ảnh hiện trong trí óc mù mờ của nhân loại mà tự
ngàn xưa cho đến ngàn sau có lẽ vẫn còn hữu dụng cho bọn con
buôn tôn giáo, lý giảng huê dạng để tranh nhau thu đoạt lợi
lộc của cải thế gian...?!!!
Chúng ta từ đâu đến
cuộc đời này?
Như loài trùng hoang thiếu cánh
Bới móc
kiếm ăn trong niềm vinh nỗi nhục...
Bước đi cô liêu như
khách dạ hành cô độc
Tìm được gì, năm tháng rớt quanh
đây?
Buổi chiều nhìn nắng vàng qua cửa
Phút thanh xuân
thoáng đã tà huy
Tiếng chim kêu từ cuối vườn ai đó
Thoảng hư không như báo triệu điềm gì?
–[MĐTTA]
Thời hà Phương:
Nhược đãi Ưng lai Sư Tử
thướng
Tứ phương thiên hạ thái bình phong.
Hay:
Long xà an sở ngộ
Chu ngũ phục viên
tuyền. –[Sấm
Ký – Nguyễn Bỉnh Khiêm]
Vâng, không có một sự việc gì xảy ra trên cuộc đời này
mà không có nguyên nhân? Duyên khởi – Nghiệp báo cũng là
gieo Nhân và gặt Quả. Chúng tôi những ngưòi lính trong Quân
Lực Việt Nam Cộng Hoà thực sự cầm súng tự vệ, chiến đấu để
giữ an bình cho toàn thể dân chúng và phần lãnh thổ, biển
đảo miền Nam Việt Nam chiếu theo Hiệp Định Geneva 1954. Suốt
21 năm trong cuộc chiến Quốc – Cộng, chúng tôi chưa hề bắn
một phát đạn nào qua vĩ tuyến 17 (cầu Bến Hải) để giết hại
đồng bào miền Bắc thân yêu. Trong nền tảng giáo dục “Tiên
học Lễ – Hậu học Văn” từ thuở tiểu học cho tới đại học,
chúng tôi chưa từng phải học kiểu tuyên truyền nhồi sọ để
huấn tập ác tính, háo sát như: “Có 10 tên giặc Mỹ xâm lược
vào làng, chú bộ đội ta bắn chết 9 tên, vậy còn lại mấy
tên”? Từ trong Ý niệm nhân ác, nghiệp quả xấu đã trổ sinh...
Vậy thử hỏi “cái” tương lai từ “thành quả” cướp của, giết
người suốt từ trước 1954 mãi cho đến ngày nay, thu đoạt biết
bao nhiêu tích sản cũng là bấy nhiêu máu xương người đồng
chủng, thì nước đại dương có rửa sạch tội lỗi mà hý loạn
cương thường chăng? Những ai gieo gió, ắt sẽ gặt bão, lịch
sử thế giới đã chứng minh như thế. Chúng tôi và Yến là những
người nhân hậu cho dù quá khứ là kẻ thù, tìm nhau từ những
con sông sâu, bờ lau sậy cạn dòng chí cho tới ruộng vườn,
núi non, rừng rú hiểm trở để mà bắn giết nhau vì địa lý
chính trị giới hạn vùng sinh sống, cư trú, và ý thức hệ Quốc
– Cộng... Nhưng chỉ là thế chẳng đặng đừng, thực chất chúng
tôi là Người với nhiều yếu tố nhân phẩm làm khuôn mẫu tốt
đẹp đúng nghĩa làm Người... do vậy “Trời” cao không phụ hiền
nhân, đã đãi ngộ cho chúng tôi được sống an bình, hạnh phúc
nơi trú xứ thích hợp Mỹ Quốc có nhiều điều kiện tốt, để còn
đóng góp trí lực báo ân nơi đã cưu mang mình và hướng về
đồng bào trong nước mưu sự buổi Bình Minh trên Quê Hương
thanh bình.
Bình Minh tới Bình Minh sẽ tới
Tôi
mong lắm tiếng gì như tiếng ầm vang của biển
Đồng Bào tôi
cũng mong như thế
Và hình như tiếng ấy đã bắt đầu...?
Hoa Tự Do (Bút Sinh Hoa)
30 tháng 4 năm 2015 năm nay nữa đã là 40 năm chẵn kể từ ngày
nước Mỹ mở rộng vòng tay nhân ái, đón, và cưu mang tập thể
Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản. Cộng Đồng Người Việt thành hình
và Cuộc Chiến Quốc – Cộng vẫn còn đang tiếp diễn cho dù đã
không còn tiếng súng nổ vang rền...!!! Nhưng từ buổi đầu bỡ
ngỡ còn đang lo sinh kế gia đình, báo chí Việt Ngữ đã xuất
bản, “Nền” Văn Chương Người Việt Tự Do Hải Ngoại và Lịch Sử
Ngàn Người Viết đã thành hình với những tên tuổi Nhà Văn
thành danh mới lạ, họ chưa từng viết Văn trước 1975 và không
có tham dự những Sinh Hoạt Văn Học rất sáo ngữ, rất rỗng do
những “tay” viết quen ngồi chễm chệ trên chiếu lớn “văng
học” mà bả óc thì rất nhỏ, chúng thường quen thói mặc áo
thụng vái lạy nhau rất phường tuồng, sở trường loại “văn”
không tư tưởng nhạt phèo... “Lớp” Nhà Văn mới nhập cuộc
“chơi” thật, viết thật, văn tài thật, và chuyện thật, người
thật... vì chính họ là nạn nhân và cũng là chứng nhân... Họ
đã viết bằng tất cả tim óc, máu, và nước mắt, tâm hồn... và
đốt Lửa đấu tranh giữ vững “bên” này trận tuyến không khoan
nhượng với kẻ thù “Việt Gian Cộng sản” bên kia chuyến
tuyến... Bút thép đã nở Hoa, Hoa Tự Do vô giá, chiến đấu
kiên máu phun đẫm mới đơm bông.
MĐ Út Bạch Lan/E22
nguồn: blog
tcđtc1vntd




thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày Thứ
Tư, September 10, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH