

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Truyện ngắn
Chủ đề:
tiếng gọi non sông…
Tác giả: Phạm Văn Duyệt

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Trải
qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, cuối cùng núi Ngự sông
Hương vẫn trường tồn theo vận nước. Mặc cho bão táp phong
ba, chinh chiến lan tràn, thành phố Huế vẫn mỉm cười với
trăm nghìn nỗi tang thương dâu bể, để rồi luôn ôm ấp nuôi
dưỡng cưu mang những người con trót sinh ra và lớn lên trên
mảnh đất non xanh nước biếc này.
Do một cơ duyên nào
đó, ông Đặng được cử ra trấn nhậm vùng đất Thần Kinh văn vật
sau khi vừa tốt nghiệp khoá hành chánh cao cấp tại Sài Gòn.
Cuộc đời bình lặng trôi theo tháng ngày. Vợ chồng ông
nhờ ơn trời sinh hạ được năm con, đứa nào cũng khôi ngô tuấn
tú, làm cho ai nấy đều tấm tắc ngợi khen.
Cái khung
cảnh êm ấm đó khiến cho vợ ông tuy đã ngoài ba mươi và con
cái đùm đề mà vẫn còn xứng với câu ca dao:
Ra
đường thiếp hãy còn son
Về nhà thiếp đã năm con cùng
chàng.
Còn ông luôn giữ được phong độ, chưa hề
mất đi cái dáng dấp cao ráo phong lưu hoạt bát như ngày nào.
Tuy làm quan lớn ở tỉnh địa đầu nhưng Ông có tính hiền hoà
dễ chịu, lại hay gần gũi hỏi han hết người này tới người nọ,
cho dẫu họ là thuộc cấp hay dân thường, vì thế mà lắm người
thương mến. Nếu như còn độc thân chắc cả chục nhà giàu kêu
gả con cho ông.
Nhưng việc đời hay sinh những sự trái
ngang, dường như trời ghen tuông với những hạnh phúc bình
thường khiến cho lắm người chưa trọn yên vui lại gặp điều
buồn thảm, hoặc đang ôm giấc mộng đời bỗng dưng xót xa bi
lụy, lâm vào những nghịch cảnh đắng cay.
Phải chăng
vì thế mà biến cố Mậu Thân ập đến. Trong lúc gia đình ông
cùng đồng bào Huế Đô rộn ràng đón Tết, pháo nổ mừng xuân
chưa dứt thì bỗng đâu tiếng súng từ xa vọng về, càng lúc
càng rõ dần. Cuối cùng tất cả hiện nguyên hình một cuộc
chiến ngay trong Nội Thành.
Vì bất ngờ, vì tin vào
lời hưu chiến nên quân đội miền Nam thiếu cảnh giác, không
canh gác đề phòng chu đáo, khiến Cộng quân đi vào thành phố
như vào chốn không người. Khói lửa ngút trời, chết chóc kinh
hoàng, đau thương chồng chất.
Mãi sau hai mươi bốn
ngày chiến đấu cam go, giành từng tấc đất, lá Cờ Vàng Ba Sọc
Đỏ mới trở lại tung bay trên ngọn kỳ đài Ngọ Môn. Trong khi
đó bao anh hùng đã hiên ngang chết đi để cho Huế sống.
Tuy tránh cảnh bị thảm sát dưới các hố chôn sống tập thể
nhưng ông Đặng cũng không bao giờ về nữa. Ông đã mất tích ở
một vùng xôi đậu giữa lúc đang điều nghiên tình hình sau mấy
ngày tạm ngưng tiếng súng.
Vợ ông nhiều đêm đốt đuốc
đi tìm chồng. Lắm lúc giữa khuya thanh vắng văng vẳng tiếng
cú nghe rợn người, nằm thao thức mãi không ngủ được bà quyết
vùng dậy băng ra đường về vùng lửa đạn nơi chồng dấu yêu
biệt tăm biệt dạng.
Nhưng trời xanh không cứu nổi cơn
đau của người góa phụ. Bà vẫn chịu cảnh đi không lại trở về
không.
May mà mấy đứa con khôn lớn dần. Biết chăm chỉ
học hành, chịu cực chịu khổ phụ giúp Mẹ kiếm sống qua ngày.
Âu cũng an ủi cho bà nguôi khuây mọi chuyện mà lo tròn nghĩa
vụ thờ chồng nuôi con như bao người mẹ Á Đông khác.
Rồi vận xui tràn về như cơn hồng thủy, chưa kịp lấy lại bình
tâm sau cơn đau dài thì miền Nam sụp đổ. Đúng là “phúc bất
trùng lai hoạ vô đơn chí”. Cả nhà bà bị đưa đi vùng kinh tế
mới tận phía Nam. Rơi vào một mảnh đất khỉ ho cò gáy. Ban
ngày vượn hú chim kêu, tối về tù mù ngọn đèn leo lét. Không
đi cũng không được vì lý lịch gia đình cực kỳ đen tối. Đến
nước này thôi thì một liều ba bảy cũng liều.
Bà chỉ
còn biết cầu xin Trời Phật ban cho ơn phước. Điều lành xui
tới điều dữ đẩy lui.
Tuy không quen với chuyện ruộng
vườn cày sâu cuốc bẫm hoặc bứt lúa nhổ tranh, bà cũng cố
thức khuya dậy sớm, lầm lũi tảo tần, đem hết sức mình ra để
động viên nhắc nhở con cái, kiếm hạt gạo cọng rau nuôi con
độ nhật.
Nào ngờ rừng thiêng nước độc không từ bỏ một
ai. Chẳng bao lâu bà lâm bệnh nặng, nhà nghèo lại thiếu
thuốc thang nên đành nhắm mắt xuôi tay bỏ lại đàn con thơ
dại mà theo chồng về nơi chín suối.
Từ đây mỗi đứa
một nơi, tan đàn xẻ nghé. Mấy anh chị lớn tản ra buôn gánh
bán bưng lo chuyện sinh nhai. Riêng Hà được ông chú rước về
nuôi cho ăn học.
Nói là nuôi chứ thực ra Hà phải đảm
đương công việc nội trợ cả nhà mười mấy mạng, chợ búa, nấu
ăn, dọn nhà, giặt giũ. Ngày đêm xong xuôi đâu đó mới dám
nghĩ đến chuyện học hành.
Tuy cực nhọc buồn tủi, Hà
vẫn cố công đèn sách cho có cái nghề. Trong lúc các em con
chú ỷ thế nhà giàu lêu lổng ham chơi chẳng để ý chi đến
chuyện sách đèn.
Sau bảy năm trời tận tâm tận lực, Hà
hoàn tất chương trình đại học sư phạm. Nhờ đỗ đạt cao nên
được bổ về dạy tại trường trung học ngay trong thành phố.
Thấy ở nhờ ở đậu mãi không mấy thoải mái nên Hà xin chú
cho dời qua khu nội trú của trường. Như vậy vừa có thì giờ
dạy dỗ vừa trau dồi vốn liếng tiếng Anh vì nàng luôn ham
học, cầu tiến, và không muốn dừng lại ở mức này.
Người con gái ngoài đôi mươi, thùy mị dễ thương, lại là cô
giáo cấp ba, hỏi ai mà không cảm mến. Chính vì thế mà năm
bảy chàng trai đuổi theo bén gót. Lúc đầu còn thờ ơ, sau dần
Hà đâm ra lưu luyến cảm tình với Lâm, giáo viên dạy cùng
khối lại phụ trách đoàn thanh niên.
Trai gái lâu ngày
quen hơi nhớ tiếng, tìm hiểu nhau, và họ bằng lòng kết tóc
xe tơ. Hai người mua căn nhà nhỏ gần chợ Hòa Hưng. Với đồng
lương tháng ít ỏi, Hà phải cố may vá kiếm thêm tiền chợ.
Trong khi đó Lâm tuy học ngành kỹ thuật nhưng không chịu làm
thêm mà chỉ dành thì giờ lo chuyện đoàn chuyện đảng. Có lúc
khó khăn quá Hà buột miệng nói với chồng:
– Anh có
nghề điện tử, sao không đi sửa máy móc cho người ta kiếm
thêm tiền lo nhà lo cửa mà cứ quanh quẩn làm ba cái chuyện
đảng đoàn mất hết thì giờ. Thật là vô tích sự!
Đang
ngồi đọc chồng tài liệu đại hội đảng, Lâm càu nhàu tỏ lộ vẻ
bất bình:
– Chuyện nhà chuyện cửa để em lo. Em việc
trong anh việc ngoài. Em không cống hiến gì cho đảng thì anh
phải hy sinh chứ còn ai vô đây mà lo cho mình nữa.
Nói thế rồi Lâm xách cặp tới trường, bỏ mặc Hà đơn độc một
mình trong buổi chiều chủ nhật buồn tênh.
Lẽ ra ngày
cuối tuần hai vợ chồng dành thì giờ chăm sóc cho nhau và bàn
tính chuyện này chuyện nọ. Nhất là Hà muốn báo cho chồng
biết tin vui mà bao lâu họ chờ đợi. Họ sắp sửa có con. Hà
mang thai được chừng hai tháng.
Bữa nay là năm thứ
mười tám ngày cha Hà bị mất tích. Chị em nàng không biết
đích xác ngày chết của bố nên cứ lấy hôm bị bắt làm lễ giỗ.
Hà bàn tính với chồng mời nội ngoại thân nhân bạn bè.
Nhưng chưa kịp nói cho tận tường thì bất ngờ Lâm khoát tay:
– Thôi đi Cô ơi! Tưởng chết liệt sĩ còn cúng kỵ chứ theo
ngụy quân ngụy quyền mà bày đặt rình rang làm gì cho thiên
hạ cười. Không khéo kẹt cho tui đang được chiếu cố xét vào
đối tượng đảng mà lại có bố vợ là tay sai của Mỹ.
Biết chồng cố nói ra. Hà đành im lặng ngồi may tiếp mấy cái
quần, chẳng thèm nói thêm một lời nào nữa.
Ngày lễ
thanh minh mọi người đi tảo mộ. Lại nhằm ngày thứ bảy, Hà âu
yếm nói với chồng:
– Từ ngày lấy nhau em chưa có dịp
đưa anh đi thăm mộ mẹ. Hôm nay hai đứa mình lên Thủ Đức thắp
hương khấn vái mẹ anh nhé.
Lâm có vẻ thờ ơ nói mấy
lời cằn nhằn không muốn đi.
– Thôi để dịp khác. Mẹ
anh ở dưới quê mình còn chưa thăm mà thăm gì mẹ em ở gần đây
khi nào đi lại không được.
Một cơn mưa nhè nhẹ như
kiểu mưa phùn xứ Huế khiến cho không khí lành lạnh hiu hiu.
Vừa nghe chồng thối lui. Vừa sợ nhiễm hơi đất sinh bệnh
nên Hà bỏ đi nghỉ, không còn mơ tới chuyện viếng thăm người
mẹ thân yêu đang nằm trong đất lạnh cách đâu chừng hơn hai
chục cây số đường.
Tới kỳ đại hội đảng, Lâm phấn đấu
lập công bằng hết công tác này sang công tác khác. Chàng vừa
soạn xong kế hoạch của đoàn thanh niên chào mừng đại hội,
nhưng do tập trung nhiều công sức nên quá mệt mỏi. Lâm bảo
vợ đang chăm chú ngồi may:
– Em dẹp ba cái quần áo đó
đi. Giúp anh chép mấy tờ này cho kịp ngày mai. Tạm bỏ tất
cả. Đảng là trên hết. Đảng cứu đời ta. Ta cần hết lòng với
đảng. Em phải hỗ trợ anh, làm theo anh. Nếu không thì em
không xứng là đồng chí của anh.
Từ lâu Hà ít để ý đến
chuyện sinh hoạt đoàn thể của chồng, chẳng nói vào mà cũng
chẳng nói ra. Nàng chỉ muốn cuộc sống bình dị lứa đôi trong
đó hai vợ chồng cùng chung sức đóng góp. Ngoài đồng lương
căn bản, cả hai cố gắng làm lụng thêm cũng đắp đổi qua ngày
chứ không đến nỗi túng thiếu nợ nần như nhiều người dân quê
khác.
Ước mơ đơn giản nhưng chẳng bao giờ thành đạt.
Bởi vì Lâm càng ngày càng tách biệt ra lo chuyện riêng tư mà
ít khi quan tâm công việc gia đình. Nói mãi cũng không xoay
chuyển được tình thế. Đôi lần Hà khóc một mình cho đỡ cơn ấm
ức chất ngất trong lòng.
Rồi sức người có hạn, nước
đã tràn ly. Không sao giữ lại được. Suốt mấy năm qua âm thầm
nhịn nhục. Nay Hà cảm thấy mình hoàn toàn bất lực, nhiều lúc
ngậm đắng nuốt cay cố bắt chước thân phận Thuý Kiều:
“Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Thử xem con tạo xoay vần
đến đâu”.
Nhưng chả lẽ cứ kéo dài lê thê cái
cảnh vợ chồng ai lo việc nấy mãi sao. Rồi sau còn con cái
nữa, cuộc đời sẽ đẻ ra bao nhiêu điều rắc rối. Nghĩ vậy mà
nàng quyết đi thôi. Một đêm hè trời nóng oi bức, Hà thức
giấc viết lá thư để lại cho chồng:
“Anh thương
yêu,
Cuộc sống lứa đôi không diễn ra như lòng em ao
ước. Đâu ngờ tính tình anh giờ hoàn toàn thay đổi. Thuở ban
đầu hay chiều chuộng nâng niu, lúc nào cũng ân cần săn sóc
lo lắng cho em. Nhưng nay anh khác hẳn rồi. Không còn là Lâm
dịu dàng dễ thương của ngày xưa nữa. Thay vì hiền hòa ngọt
ngào thì anh bỗng trở nên gắt gỏng khó khăn, chẳng mấy khi
hợp tác cùng em trong mọi chuyện gia đình.
Anh còn
bảo em không phải là đồng chí của anh. Giờ đây trong anh chỉ
có đảng, còn vợ con chẳng quan trọng gì.
Em thất vọng
quá. Em mất anh thật rồi, có anh đó mà rồi cũng như không.
Đêm ngày em thui thủi một mình. Mới hơn hai mươi mà đã thế
này thì huống gì mai sau tuổi già bóng xế, chắc không tránh
khỏi những chuyện cay đắng xảy ra.
Em phải đi thôi.
Đành hẹn anh một kiếp nào có hoa có bướm, có tình tự trăng
sao như thuở nào mình mới gặp nhau đầy ngại ngùng e ấp.”
Xếp phong thư trên bàn cẩn thận. Nhìn lại căn phòng thân
thương với bao nỗi ngậm ngùi chua xót. Hà gạt lệ ra đi. Một
cuộc ra đi không hẹn ngày về.
Lúc bốn giờ sáng trời
mờ mờ ướt đẫm sương Hà đã khăn gói lên đường ra bến xe Xa
Cảng. Đi gần cả ngày trời mới tới nhà Dì ruột ở miệt Hậu
Giang.
Nghỉ lại đây một đêm rồi theo cô em họ trực
chỉ Châu Đốc để lên bến tàu Long Bình vượt qua cửa khẩu xứ
Chùa Tháp.
Sau đó người dẫn đường đưa hai chị em về
trú ngụ ở vùng cực Bắc thuộc tỉnh Kompong Som. Nơi đây có
những bờ biển dài nên thường là trạm dừng chân của bao người
vượt biên để qua đất Thái.
Dọc đường gió bụi mịt mờ.
Hà phải ngụy trang làm dân đi buôn. Khuôn mặt bầu bĩnh trắng
trẻo bây giờ đổi thành sạm nắng với những vệt phấn bôi đen.
Thêm cái khăn quàng cổ, bộ áo bà ba bạc màu và đôi dép cũ kỹ
làm nàng tưởng chừng già hơn mười tuổi. Nhờ vậy mà đánh lạc
hướng những cặp mắt dò xét của khách qua đường, nếu không
thì nguy khốn vì Hà chỉ học lõm bõm dăm ba tiếng Miên, thật
khó để người ta tin là dân bản xứ đi lại làm ăn. Lỡ công an
bộ đội phát hiện thì chỉ có nước năn nỉ lạy lục xin tha.
Nước Cambodge sau bao năm chinh chiến để lại xứ sở điêu
tàn đổ nát, đường sá hoang vắng đìu hiu, gập ghềnh loang lổ
ổ gà. Những chiếc cầu bị giựt sập khắp nơi. Đâu đây vang
tiếng súng đạn đì đùng. Mạng sống con người chẳng có gì bảo
đảm. Bên vệ đường nhiều nhà sư lập đàn chay cầu quốc thái
dân an. Tiếng gõ mõ tụng kinh liên hồi như gọi hồn viễn
khách.
Trong miên man làm Hà nhớ lại thuở ấu thời vào
những ngày hè nắng như thiêu đốt, nàng hay rủ bạn bè đạp xe
lên vùng Kim Long, vừa hóng mát dưới mấy rặng tre già uốn
cong bên dòng Hương Giang thơm ngát, vừa lắng nghe tiếng
chuông Thiên Mụ ngân nga trong sương chiều. Đời sống Huế
trầm lặng làm Hà ưa thích khung cảnh tĩnh mịch thanh bình.
Ôi mới đó mà đã hai chục năm rồi. Thời gian vần vũ trôi
qua. Cha mẹ không còn. Anh chị em phiêu bạt mỗi người một
ngả, còn chồng thì vời vợi cách xa.
Dân tộc Khmer
điêu linh nghèo khổ quá. Đã thế mà các nhà lãnh đạo lại tham
quyền cố vị, chia năm xẻ bảy, mỗi người hùng cứ một phương
làm cho đất nước thêm kiệt quệ khốn cùng.
Hướng về
quê hương Hà chợt ngậm ngùi. Xót thương cho thân phận những
nước nhỏ mới giành độc lập như ba nước Đông Dương. Ở đó cấp
lãnh đạo đã không sáng suốt tìm ra con đường phát triển tốt
đẹp nhất để mau tiến lên phú cường, mà lại lầm lạc chạy theo
chủ nghĩa Mác–Lê. Dẫn tới hệ lụy hằng mấy thế hệ phải gánh
chịu những hậu quả tai hại khôn lường.
Kinh tế sắp
hàng cùng nhóm gần chót thế giới. Dân tình ly tán, hoài
nghi, mất niềm tin. Tiền đồ dân tộc không biết trôi dạt về
đâu. Mỗi nước tự làm tiêu hao tiềm lực phong phú của mình.
Có nơi lòng ái quốc của toàn dân bị trù dập chôn vùi, không
tạo được cơ hội cho mọi người phát huy bầu nhiệt huyết.
Bao nhiêu tài nguyên rừng vàng biển bạc bị bỏ hoang hoặc
khai thác phá hủy một cách vô tội vạ mà chẳng mấy ai thương
tiếc. Chính quyền là một tập đoàn chỉ biết tranh giành thủ
đắc cho phe nhóm còn dân lành sống chết mặc bây.
Bước
ly hương đầu đời làm Hà chạnh lòng trắc ẩn. Thương dải non
sông gấm vóc hình chữ S giờ đắm chìm trong bể khổ. Mấy chục
năm chiến tranh để còn lại đất nước tơi bời tan nát. Lòng
người không quy về một mối mà đầy chia rẽ tị hiềm. Như thế
làm sao tiến lên cho được, nói chi chuyện bắt kịp các nước
lân bang đang cất cánh đua chen với những cường quốc Âu Mỹ
thịnh vượng văn minh.
Rồi chuyến tàu nhỏ chở hai mươi
mấy người sau bốn ngày đêm tròng trành với phong ba bão táp
cũng đến được đất Thái.
Từ đây chân trời mở rộng. Hà
lăn xả vào công việc thiện nguyện ở một bệnh viện. Lấy tình
thương mà cứu vớt đồng bào. Tất cả là đồng hội đồng thuyền,
cùng hoàn cảnh như nhau, cùng rời xa quê cha đất tổ để tìm
cuộc sống thích hợp hơn.
Ngày lại ngày quanh quẩn
trong căn trại nhỏ bé, không hề bước chân ra khỏi hàng rào
kiên cố. Thỉnh thoảng có nhớ quê hương thì ra đầu cổng nhìn
xe chạy hai bên đường mà vọng về cố quận xa tít mù khơi.
Thế mà cũng hơn hai năm trời. Bước chân khắp các nẻo
đường. Con gái nàng bắt đầu tập tễnh biết đi. Bé quấn quýt
bên mẹ suốt ngày. Đó là nguồn an ủi lớn lao cho đời Hà trong
chuỗi ngày lưu lạc.
Lúc ấy trại tị nạn có gần hai
chục ngàn người, còn đông hơn dân số một ngôi làng ở Việt
Nam. Họ sống chen chúc khắp các dãy nhà. Hầu như ai cũng
biết mặt nhau. Tất cả phải qua cửa ải thanh lọc vì ra đi sau
ngày cấm 14/03/1989. Đây là cuộc thi đua cực kỳ khó khăn để
giành chiếc vé định cư. Nhất là Hà thuộc diện đàn bà con gái
không từng làm việc cho chính quyền miền Nam ngày trước thì
cái chuyện đậu thanh lọc tưởng chừng như đội đá vá trời.
Biết thế nên Hà dốc sức chuẩn bị chu đáo cho cuộc phỏng vấn
của Bộ Nội Vụ Thái Lan.
Với kiến thức bốn năm đại
học, nàng tổng hợp được một bài bản khá công phu, đưa ra
những lý lẽ đầy thuyết phục về lý do đi tị nạn chính trị của
mình.
Trời đã không phụ công nàng. Ngày công bố kết
quả ở nhà thờ trại, Hà được nhận giấy đậu ngay đợt đầu mặc
cho những thắc mắc ngạc nhiên của biết bao người kém may mắn
khác.
Bước đường đi định cư, Hà có thể chọn nhiều
nước như Mỹ, Canada, Nhật Bản, Đan Mạch, Úc, Tân Tây Lan
hoặc Pháp.
Đa số đồng bào muốn xin đi Mỹ. Họ cho rằng
đó là nước tiên tiến hùng mạnh bậc nhất hoàn cầu. Không đi
Mỹ là uổng phí, là ngu dại. Có người còn nói thà ở lại mười
năm rồi được đi Mỹ còn hơn chỉ chờ một tháng để đi Pháp đi
Úc.
Riêng Hà, khi phái đoàn Mỹ phỏng vấn, nàng tìm
cách từ chối khéo léo chứ không mất công viện dẫn bằng chứng
để mong được chấp thuận.
Không hề ghét nước Mỹ nhưng
Hà vẫn băn khoăn mãi về cái chết tức tưởi của Tổng thống Ngô
Đình Diệm hơn ba mươi năm về trước. Từ đó Hà đâm ra buồn
người Mỹ. Tại sao nước Mỹ từng ủng hộ nhiệt thành Cố Tổng
thống Diệm trong những năm đầu của Đệ Nhứt Cộng Hòa nhưng
đến 1963 lại mưu toan thay ngựa giữa dòng, tìm cách hạ bệ
nguyên thủ một nước đồng minh, manh tâm trợ giúp đám loạn
tướng làm cuộc đảo chính, lật đổ, và thảm sát cả hai anh em
Ngài. Đưa đến hậu quả là miền Nam mất hơn mười năm sau đó.
Rồi chính Tổng Thống Richard Nixon long trọng cam kết
với Tổng thống Thiệu không bao giờ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa
để Ông bằng lòng ký kết hiệp định Paris. Tờ thư còn nguyên
vẹn như một nhân chứng rành rành mà Mỹ vẫn nhắm mắt làm ngơ
cho cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, không hề can thiệp khiến
hàng vạn quân cán chính phe bại trận phải bị trả thù một
cách đê hèn tủi nhục. Trong đó lắm người ngã gục oan khiên
ngay chốn lao tù để giữ tròn khí tiết kẻ sĩ.
Hơn thế
nữa, bất chấp sự phản đối quyết liệt của cộng đồng người
Việt hải ngoại, vì quyền lợi của các tập đoàn tư bản cũng
như của chính nước Mỹ, người Mỹ đã thiết lập bang giao với
cộng sản Việt Nam. Mặc dù Mỹ thừa sức biết rằng nhà nước này
đang vi phạm nhân quyền và từng coi họ là kẻ thù không đội
trời chung.
Chẳng còn tin được nước Mỹ. Họ chỉ bảo vệ
quyền lợi của riêng họ. Liên kết rồi phản bội không biết bao
nhiêu đồng minh khắp nơi trên thế giới. Khi cần thì họ đưa
lên. Khi thấy không ích lợi nữa thì họ thay thế. Chính Tổng
thống Thiệu từng nói không ngoa: “Khi nào Mỹ bảo xuống là
tôi xuống”.
Thật đúng là trò chơi chính trị chứ không
biểu lộ tình người như nước Mỹ thường rêu rao.
Suy đi
tính lại Hà quyết chọn Úc làm quê hương. Trong thâm tâm, Hà
nghĩ Úc là xứ đầy nhân đạo, đất rộng người thưa, khí hậu ôn
hòa chứ không quá lạnh lùng khắc nghiệt như Canada hoặc Bắc
Âu nhiều nơi tuyết phủ ngập đường.
Xưa nay Úc nổi
tiếng về lòng khoan dung độ lượng. Từng làm việc với những
người Úc thiện nguyện nên Hà hiểu được tấm lòng chân thực
thương người của họ. Tư tưởng đã mở đường cho nàng tới xứ sở
Kangaroo.
Thôi cũng mừng qua được đoạn đường chồng
chành ghềnh thác. Dẫu sao vẫn là thành công có một không hai
của đời nàng. Thân gái dặm trường mười hai bến nước đưa con
tới được xứ người thì còn gì đáng ngợi ca hơn.
Một
hôm đang dẫn con đi dạo dưới chân cầu Darling Harbour thì
bất chợt thấy bóng dáng ai quen quen đang rảo bước ngược
chiều. Có phải mắt Hà mờ đi vì nắng chói chang? Hay nàng bị
ảo giác chăng? Ai đây hỡi trời?
Chưa kịp định thần
thì người ấy vội hét to lên:
– Trời ơi! Hà! Em qua
đây từ lúc nào mà anh kiếm mãi không ra. Anh nhắn tin trên
báo mấy kỳ rồi, chờ mãi chẳng nghe em trả lời. Thật đúng là
quả đất tròn có ngày cũng gặp nhau.
Quá xúc động
nghẹn ngào. Rưng rưng hai hàng lệ. Hà ôm chầm lấy Lâm. Bé
Hạnh từ sau chạy tới nũng nịu gỡ tay mẹ như không muốn cho
nàng vương vấn tình cảm với ai. Thế rồi họ dắt nhau vào công
viên ngồi chuyện trò. Những cơn gió vi vu làm mát rượi lòng
người.
Lâm kể Hà nghe bị chi bộ nhà trường khước từ
đơn xin vào đảng với lý do có vợ vượt biên. Dù cho Lâm ra
sức chứng minh tinh thần và ý chí trung thành với đảng nhưng
chẳng ai tin. Vì vậy mà hồ sơ của chàng bị treo. Chỉ tiêu
kết nạp đảng lại dành cho những người có lý lịch tốt hơn.
Từ đó càng ngày Lâm càng bị xem là đáng nghi ngờ theo
dõi. Cái chức bí thư đoàn phải giao cho một giáo viên trẻ
hơn chàng hai tuổi.
Quyết đi thôi. Đi để chuộc lỗi
với Hà. Phải đền bù tình yêu tha thiết của nàng. Ý tưởng ấy
thôi thúc Lâm tìm đường vượt biên qua ngả Hồng Kông.
So với Hà thì thời gian chờ đợi của chàng mau lẹ và ít vất
vả hơn. Phải chăng trời xui cho hai người sớm gặp lại. Nhờ
vậy mà sau hơn một năm chàng đến được nước Úc.
Việc
đầu tiên là cất công tìm kiếm Hà, đăng báo, điện thoại, nhắn
tin khắp nơi cả hàng trăm người.
Biết lòng dạ của
chàng. Biết chàng còn thương mình. Hà nói say sưa như chim
con bắt đầu biết ca hót:
– Lâm ạ! Những lúc một mình
em đã suy nghĩ thật nhiều. Em thấy rằng chuyện gì đã qua thì
nên để cho qua luôn đừng vướng bận mãi thêm nặng lòng. Hãy
bắt lại từ đầu. Hãy cùng nhau lập trang sử mới rạng rỡ hơn.
Chuyện tình mình cũng vậy. Chuyện nước mình cũng vậy.
Anh thấy không. Kể từ khi dòng Bến Hải ngăn đôi, cuộc
chiến một mất một còn giữa hai miền Nam Bắc trong hơn hai
mươi năm chỉ làm lợi cho những nước lớn. Trên bàn cờ do họ
sắp đặt, người Việt mình chỉ là những con tốt phải đi tới
chứ không được đi lui. Mà bi thảm thay đường đi đó là tử lộ
chứ không phải là sinh lộ. Rốt cuộc dân mình chết chóc đau
thương, làm bia đỡ đạn cho họ tranh bá đồ vương.
Oái
ăm thay cuộc chiến này dính dấp đến chủ nghĩa cộng sản. Mà
nhiều nơi nó đã bị đào thải không kèn không trống. Bởi vì
không phù hợp với những nước đó. Lại càng không thích hợp
với dân tộc Việt Nam. Được đem thử nghiệm ở nước mình năm
sáu chục năm rồi mà có đem lại điều gì hay ho đâu. Cả Liên
Sô và Đông Âu phong trào Cộng sản tàn lụi dần. Giờ đây đành
nhường bước cho những lực lượng tự do dân chủ.
Vấn đề
còn lại là nước mình phải làm sao bây giờ để cất cánh, khỏi
chịu kéo dài tình trạng trì trệ suy vong.
Phải thấy
rằng nền kinh tế Việt Nam như cái thùng không đáy, đổ vào
bao nhiêu nước cũng không đầy. Khi mà tham nhũng trở thành
quốc nạn, tất nhiên những tích sản của nền kinh tế hao hụt
dần, không tích lũy thêm được gì, thử hỏi làm sao mà khá lên
cho được.
Còn lòng người nói chung chẳng khác chi
những tia nắng mặt trời, cứ thích ly tâm mà không chịu hướng
tâm. Phải có một thế lực thiêng liêng mầu nhiệm nào đó mới
mong lôi kéo mọi người ngồi lại với nhau để cùng chung xây
đắp quê hương.
Ý em muốn nói một nhà lãnh đạo hay một
chủ thuyết, một hướng đi phải không? Lâm xen vô cắt ngang
dòng tư tưởng của Hà. Nàng cười đáp:
– Nhà lãnh đạo
thì cả trong lẫn ngoài chưa thấy nói đến ai. Đảng cộng sản
nay mất lòng dân rồi.
Còn hải ngoại thì có quá nhiều
đoàn thể tổ chức nên không biết ai để mà lựa chọn. Chưa ai
đủ sức nổi bật xứng đáng cho cương vị lãnh đạo đất nước. Có
lẽ cần cuộc bầu chọn công khai một khi đất nước đạt được dân
chủ thực sự.
– Riêng về chủ thuyết thì đây đó đã thấy
xuất hiện đường lối cương lĩnh của nhóm này nhóm nọ. Hầu như
đó chỉ là những gợi ý cho tương lai. Muốn trở thành hiện
thực ắt hẳn phải cần bàn thảo góp ý bổ sung thêm một cách
sâu rộng trước khi được đại đa số người chấp nhận làm kim
chỉ nam cho công cuộc kiến quốc.
Điều quan trọng là
con người. Em nghĩ như vậy. Mấy năm qua em từng cố sống với
anh dù hoàn cảnh bản thân đôi ta khác xa nhau. Cha em bị
cộng sản giết. Mẹ anh chết do bom Mỹ thả lầm. Thế mà mình ở
với nhau không thuận hòa, để rồi em phải bỏ nước ra đi giữa
lúc đứa con đầu lòng còn nằm trong bụng.
Anh cũng
thế. Nhiều lúc lãng quên cả vợ con để mong trở thành đảng
viên cộng sản mà vì có vợ trốn ra nước ngoài nên không được
chấp nhận.
Bao nhiêu gia đình Việt Nam hiện nay đang
mắc vào vòng dây oan nghiệt đó. Mấy chục năm chiến tranh thì
ít ai không có người thân theo bên này hoặc chiến đấu cho
phía bên kia. Từ đó mà chính kiến bất đồng, khiến không ai
tin ai. Ai cũng cho mình là đúng là hay, chẳng ai chịu
nhường ai.
Vì nghe theo chủ nghĩa ngoại lai mà hủy
hoại tình mẫu tử đệ huynh. Cha xa con, vợ mất chồng, anh
lánh em. Chiến tranh hết rồi mà vẫn tràn ngập đâu đây “những
khoảng cách còn lại” nơi này nơi nọ.
Đã mấy chục năm
hận thù chồng chất. Người xây kẻ phá thì làm sao cho nên
công nên chuyện. Hãy tưởng tượng tính khí dân mình không
khác chi trong một hồ nước mà con cá lội tới trước, con tôm
đi thụt lùi, còn con cua lại bò ngang. Đụng nhau loạn xạ xì
ngầu. Nếu chưa bể hồ thì cũng vấy nước đục không còn thấy rõ
lối đi.
Hồn thiêng Mẹ Việt Nam ở đâu đây hiện về thấy
đàn con bất hòa, mâu thuẫn, nghi kỵ hơn thua, không chịu
nhường nhịn nhau thì chắc Mẹ buồn lắm.
Cho nên em
nghĩ cần có chuyển biến lòng người. Vì tổ quốc, vì đại cuộc
mà xoá bớt mọi dị biệt bất đồng. Quên đi quá khứ của từng
người. Chỉ biết rằng mình là thành viên của đại gia đình
Việt Nam, phải có trách nhiệm và nghĩa vụ vun xới quê hương
để nước non xứng danh trên trường quốc tế.
Hãy mở
rộng vòng tay, đỡ đần nhau, thông cảm đùm bọc nhau, nắm chặt
tay nhau lèo lái con thuyền Việt Nam tới bờ tới bến.
Tất cả hãy cùng ca theo tiếng gọi của Tản Đà:
“Nam
Bắc Trung chị cùng em
Chút tình hữu ái chị bàn cùng em”.
Lâm ôm con vào lòng. Bé Hạnh ngủ thiếp đi tự bao giờ.
Thấy như đời tươi sáng lên. Chàng cầm tay Hà thỏ thẻ:
– Mấy năm ra nước ngoài em hiểu nhiều chuyện quá, lý
luận chẳng thua chi một triết gia. Đâu còn Hà của ngày xưa
thường hay nhút nhát thẹn thùng. Em khá am tường về chính
trị mà bấy lâu anh đâu có hay, thực anh thua em mất. Thôi từ
nay anh hứa không làm phật lòng em nữa. Phải đoàn kết với
nhau chứ mạnh ai nấy sống chỉ có nước hại nhau thôi.
Nắng chiều nhạt nhòa. Trên bầu trời mây xanh lãng đãng trôi.
Từng đoàn chim bay về tổ.
Hai người đưa nhau trở lại
nhà mà lòng đầy khoan thai thư thái. Từ hôm nay họ mới thanh
thản yên bình, bởi trong họ đã bắt đầu hấp thụ, nung nấu, và
hành xử cái tinh thần tương thân tương ái giữa hằng triệu
người con Mẹ Âu Cơ. Điều đó không những đan kết họ lại với
nhau mà còn giúp cả nước hàn gắn muôn vàn rạn nứt đổ vỡ sau
bao nhiêu năm trường đắm chìm trong vũng lầy chinh chiến.
Họ mừng vui vì trên đường đời không còn phải làm người
lữ hành cô đơn nữa. Ưu tư suy nghĩ của họ đã có kẻ chia sẻ
đồng hành. Đó chính là hạnh phúc thực sự của một đời người.
Phạm Văn Duyệt



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by phạm văn duyệt chuyển
Đăng ngày
thứ
Sáu, November 21, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH