

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tham luận
Chủ đề:
chính trị & tôn giáo
Tác giả: Trần Xuân Thời

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Người
có tín ngưỡng quan niệm hồn (tâm linh) và xác (xã hội) không
thể tách rời nhau, nên các tôn giáo thường khích lệ giáo hữu
tham gia chính trị để xây dựng đời sống toàn diện cả hồn lẫn
xác. Vì thế, luận điệu chúng ta nghe một số người viện dẫn
Tôn giáo không làm chính trị để từ chối tham gia các hoạt
động chống chủ nghĩa Cộng sản vô thần xem ra không mấy hợp
lý qua các dữ kiện:
1. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô
II đã ban hành thông điệp về "Mối Bận Tâm Xã Hội –
Sollicitudo Rei Socialis" – ngày 30 tháng 12 năm 1987
nhằm hoằng dương nguyên tắc tôn trọng nhân phẩm vì nhân thế
được tạo thành theo hình ảnh của đấng Tạo Hóa. Do đó, tín
hữu không những mến Chúa mà còn phải yêu người. "Để đem
đời sống Thánh Kinh vào trật tự thế giới nhằm phục vụ con
người và xã hội, các tín hữu tuyệt đối không thể từ chối
việc tham gia vào sinh hoạt chính trị."
2. Tôn trọng nhân phẩm
chẳng những trên bình diện giao tế phải giữ lễ, nghĩa, liêm,
sỉ với tha nhân mà trong đời sống hằng ngày còn phải được
thể hiện qua hành vi tôn trọng những quyền lợi cá nhân và xã
hội bằng cách tạo cho con người cơ hội tham gia vào "Các
việc hình thành chính sách, chương trình, kế hoạch chính trị
trên bình diện quốc gia hay trong các định chế xã hội, cộng
đồng phù hợp với phẩm giá con người".
3. Nhân luật
cũng đã quy định sự tôn trọng nhân quyền qua Hiến Pháp như
HP của Anh quốc, Hoa Kỳ, Pháp quốc, và các quốc gia tự do
trên thế giới và nhất là trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền mà hơn 190 quốc gia thành viên đã cam kết phổ biến và
thi hành. Mặc dù có một số thành viên tuy đã ký kết nhưng
thất tín, vì nhà cầm quyền Trung cộng, Bắc Hàn, Cuba, và
Việt Nam không tôn trọng những gì họ đã ký kết và tôn thờ
Tần Thuỷ Hoàng, Karl Marx, Hồ Chí Minh toàn là cao thủ vô
nhân đạo...
4. Muốn kiến tạo xã hội lành mạnh, mọi
sinh hoạt phải được đặt trên căn bản hợp lý vì những hành
động phi lý sẽ tạo nên sự bất hợp tác và khủng hoảng. Hơn
nữa, thấy việc sai trái mà không cảnh giác tức là đồng lõa
với bất công và tội ác. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô đã nhấn
mạnh đến "Đức tính dũng cảm và sáng suốt, tranh đấu cho công
bình và tinh thần đoàn kết xã hội".
5. Nhiệm vụ tranh
đấu cho công bình xã hội (social justice) gồm nhiệm vụ "Huấn
luyện để trau dồi khả năng hầu giúp con người có những phán
đoán chính xác và cần thiết về các môi trường địa phương,
quốc gia, quốc tế, với những đặc thù về văn hoá, xã hội,
kinh tế, chính trị của mỗi cộng đồng, dân tộc, từ đó mới có
hành động phù hợp với tinh thần bác ái và tình yêu nhân
hậu."
6. Phương thức mà các vị Giáo Hoàng nêu lên là
phương thức "Đối thoại trong sự tương kính để đi đến những
giải pháp đồng nhịp và kiến hiệu". Sở dĩ cộng đồng, xã hội,
sinh hoạt thiếu hữu hiệu, rời rạc, vì thiếu sự trao đổi kiến
thức, tránh né sự đối thoại. Những hành vi khích lệ sự tôn
trọng nhân phẩm của con người là những hành vi tốt tạo được
sự thăng tiến, ngược lại những hành vi tạo sự chia rẽ khiến
cho sinh hoạt bị trì trệ, thoái hoá là những hành vi cần
được cải tiến. Nho học cũng có quan niệm tương tự "Nhân tâm
sinh nhất niệm, thiên địa tận giai tri". Hễ con người nghĩ
đến một ý niệm nào thì thiên địa đều biết. Người nghĩ đền
điều thiện thì có thần linh giúp sức, và ngược lại, nghĩ đến
điều ác có ma vương xúi dục. Cũng vậy, "Nhất nhật bất niệm
thiện, chư ác tự giai khởi. (Trang tử). Một ngày không tưởng
đến sự lành, tức thì vạn ác rần rần nổi lên."
Thiên
lý ước chế tất cả, từng lời nói, hành động, từng suy nghĩ, ý
niệm của con người, mắt Thần đều soi xét rõ ràng như ánh
điện. Kỳ thực, thiện ác của con người, không chỉ là nhìn
thấy hành động đó, nghe thấy lời nói đó, dù cho ngay trong
suy nghĩ lúc có lúc không, thì quả báo thiện ác đã tự phân
rõ trắng đen, tốt xấu phân minh. Từ cổ chí kim, con người
đều tin rằng: "Thiện ác tới bước cuối cùng đều có báo ứng;
chỉ là sớm hay muộn mà thôi."
Vậy mà ngày nay Trung
cộng lại đi ngược lại đạo lý, ép buộc con người nhồi nhét
thuyết vô thần và triết học đấu tranh, không cho con người
tin vào nhân quả, tự tung tự tác, dối gạt thế nhân, bức hại
những học viên Pháp Luân Công tu luyện "Chân – Thiện – Nhẫn"
đã 14 năm nay, lý Trời khó dung, ắt bị Trời trừng phạt. Hiện
giờ đã có 140 triệu người dân Trung Quốc Đại lục thoái xuất
khỏi các tổ chức Đảng, Đoàn, Đội của Trung cộng, vì đã hiểu
rõ chân tướng, triệt để đoạn tuyệt với Trung cộng và nhận rõ
bản chất tà ác của nó, lựa chọn thuận theo lý Trời, đây cũng
chính là lựa chọn tương lai tươi sáng cho chính mình. (Thái
Thượng Cảm Ứng Thiên).
7. Với tinh thần tôn trọng
nhân phẩm, các tôn giáo thường can đảm hướng dẫn hành động
của nhân thế bằng cách nêu rõ những nguy hại của các tà
thuyết bất nhân tạo nên nền văn hoá diệt vong (culture of
death), trong đó có chủ nghĩa Cộng sản nhằm hủy diệt nhân
loại.
Đức Giáo Hoàng Piô thứ IX, đã cảnh giác thế
giới về tà thuyết Cộng sản qua Thông điêp "Qui Pluribus.
Đoạn 16, ngày 16 tháng 11 năm 1846, hai năm trước khi bản
Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng sản ra đời năm 1848. Tà thuyết CS đã
gây thiệt hại về nhân mạng và tài sản của hàng trăm triệu
người trên thế giới."
"This is the aim too of the
prevalent but wrong method of teaching, especially in the
philosophical disciplines, a method which deceives and
corrupts incautious youth in a wretched manner and gives it
as drink the poison of the serpent in the goblet of Babylon.
To this goal also tends the unspeakable doctrine of
Communism, as it is called, a doctrine most opposed to the
very natural law. For if this doctrine were accepted, the
complete destruction of everyone's laws, government,
property, and even of human society itself would follow."
"Đây cũng là mục đích của phương pháp giảng dạy phổ biến
nhưng sai lầm, đặc biệt là trong các ngành triết học, một
phương pháp lừa dối và làm hư hỏng những thanh niên thiếu
thận trọng một cách đáng thương hại và cho họ uống chất độc
của con rắn trong chiếc cốc Babylon. Cái học thuyết nguy hại
mà ngườì ta gọi là Chủ nghĩa Cộng sản, tự bản chất là một
học thuyết trái ngược nhất với luật tự nhiên, cũng hướng đến
mục tiêu này. Vì nếu học thuyết này được chấp nhận, thì sự
phá hủy hoàn toàn luật pháp, chính quyền, tài sản của mọi
người, và thậm chí cả xã hội loài người."
8. Nhận
định này quả là lời cảnh giác, tiên liệu chính xác. Vì thái
độ cứng rắn của Giáo hội đối với tà thuyết nhằm tiêu diệt
nhân phẩm nên chế độ Cộng sản quyết tâm chống đối Tôn Giáo.
Vì Thiên Chúa Giáo, cũng như các tôn giáo khác, không chấp
nhận chế độ CS, không phải vì quyền lợi chính trị, tranh
giành quyền lực trần thế, mà chính vì để bảo vệ chính nghĩa
với triết lý và hành động chủ trương tôn trọng và bảo vệ
nhân phẩm và phúc lợi chung của nhân loại.
9. Sau do
ĐGH Leo thứ XIII
Trong Tông Thư năm thứ 80
"Octogesima Adveniens" kỷ niệm năm thứ 80 Thông Điệp "Rérum
Novarum". Thông điệp Tân sự bàn về những sự việc mới xảy ra
sau bản Tuyên Ngôn Cộng sản Quốc Tế do Giáo Hoàng Léô thứ
XIII ban hành năm 1891. Thông Điệp Tân Sự–Rerum Novarum– thể
hiện chủ thuyết xã hội Công Giáo chủ trương thăng tiến đới
sống xã hội về các phương diện nhân quyền, văn hoá, xã hội,
kinh tế, chính trị. Năm 2025, Đức Giáo Hoàng Lêô tứ XIV sẽ
tiếp nối công trình của ĐGH Lêô thứ XIII trong công tác bảo
vệ nhân quyền và thăng tiến xã hội.
Đức Giáo Hoàng
Phaolô đệ Lục (1971) đã nhấn mạnh về trách nhiệm chính trị
của mỗi giáo hữu. "Giáo dân phải đảm nhận trách nhiệm canh
tân thế giới như là nhiệm vụ thiêng liêng của mình và trong
nhiệm vụ đó, nhờ được Phúc Âm soi sáng, Giáo hội hướng dẫn,
lòng bác ái thúc đẩy, giáo dân phải trực tiếp và can đảm
hành động".
10. Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân khích lệ sự
đoàn ngũ hoá." Muốn hoạt động thành công, nhất thiết phải
được đoàn ngũ hoá thành đoàn thể... nếu không sẽ không đủ
sức chống lại áp lực của các định chế chính trị, xã hội".
Điều 216 Bộ Giáo Luật nói đến "hoạt động chính trị đến
bây giờ còn có những nhận định sai lầm như sợ làm chính trị,
không nên làm chính trị, quan niệm đó bắt nguồn từ sự thiếu
hiểu biết về khoa chính trị..."
11. Thánh GH
Gioan Phaolô II trong Tông Huấn "Người Tín Hữu Giáo Dân"
(Christifideles Laici) đã dạy:
"Để đem đời
sống Phúc Âm vào trật tự thế giới nhằm phục vụ con người và
xã hội, các tín hữu tuyệt đối không thể từ chối việc tham
gia vào sinh hoạt chính trị."
Nghĩa là các sinh hoạt
lên khuôn chính sách nhằm thực thi các kế hoạch liên quan
đến đời sống con người như văn hoá, xã hội, kinh tế chính
trị để cổ võ cho công ích, phục vụ phúc lợi chung của nhân
quần xã hội. Không nên trốn tránh chính trị hoặc nghi ngờ
việc chung. Công Đồng Vatican II cho biết Giáo hội ca ngợi
và quý trọng việc làm của những giáo hữu dấn thân, nhận lãnh
trách nhiệm nhằm phục vụ công ích. Quyết định chính trị ảnh
hưởng đến mọi lãnh vực trong đời sống hằng ngày.
12.
Xa lánh chính trị tức là xa lánh đời sống cộng đồng, xã hội.
Tông Huấn Người Tín Hữu Giáo Dân nhấn mạnh "Kẻ thi hành
quyền bính chính trị phải lấy tinh thần phục vụ làm nền
tảng... người tín hữu phải thẳng thắn tranh đấu diệt trừ mọi
toan tính như vận động, xoay xở, gian trá, trục lợi, sử dụng
các phương tiện mờ ám, bất hợp pháp để chiếm đoạt, duy trì,
và mở rộng quyền bính bằng mọi giá". Vì vậy, người tín hữu
cần quan tâm đến vấn đề huấn luyện chuyên môn và chính trị.
"Việc giáo dục cần thiết cho mọi người, nhất là cho giới
trẻ. Chính trị là một nghệ thuật khó khăn nhưng cũng rất cao
quý, phải đem lòng chân thành, dũng cảm để tận tâm phục vụ
lợi ích cho mọi người".
13. Mối bận tâm của Giáo hội
là làm thế nào xây dựng một xã hội công chính, thịnh vượng,
tôn trọng nhân phẩm của con người từ các đoàn thể nhỏ đến cơ
chế chính trị quốc gia. Giáo hội chủ trương bảo vệ và phát
huy tinh thần tự do, dân chủ.
Tạo hóa đã cho chúng ta
lý trí để suy xét và tự do để hành động. Chỉ khi nào con
người có tự do hành động mới chịu trách nhiệm về hành động
của mình. "God, in the beginning, created man, He made him
subject to his own free choice" (Sir.14:15.).
14. Vì
tự do thái quá sẽ gây nguy hại cho tha nhân, nên từ cổ chí
kim, các triết gia thường khuyên nhân thế phải biết tu thân
vi bản. Nền giáo dục cổ, kim, đều chủ trương tiên học lễ,
hậu học văn. Chủ đích của nền giáo dục phổ thông nhằm làm
sáng đức tính của mình, để phục vụ nhân loại trong tinh thần
chí thiện.
"Đại học chi đạo, tại minh minh đức,
tại tân dân, tại dĩ ư chí thiện".
Như vậy, chí
thiện (holiness) là chủ đích căn bản của giáo dục. Tôn giáo
nào cũng chủ trương học đạo để nên thánh hay chí thiện. Vì
chỉ có chí thiện mới giải quyết được thế sự.
"Only
in holiness would the human problems be solved".
15. Vô số giáo hữu các tôn giáo đã hy sinh tánh mạng để
tranh đấu cho mặt trận nhân quyền từ cổ chí kim trên toàn
thế giới. Trong thời Đế Quốc La Mã, hai vị Thánh Phêrô và
Phao Lồ đã hy sinh vì chính nghĩa bảo vệ nhân quyền. Năm 64
sau Công nguyên, dưới thời bạo chúa Néro (AD 54–68). Nero đã
đốt thành La Mã để xây cung điện và đổ lổi cho giáo dân. Đến
hậu bán thế kỷ thứ 20, đảng Cộng sản Hà Nội, sau khi chiếm
được miền Bắc Viêt Nam (1954) đã manh tâm xâm lăng Miền Nam
"dù phải đốt hết dãy Trường Sơn" và giết chết đến người Việt
cuối cùng, để dâng toàn bộ tổ quốc Việt Nam cho Cộng sản
quốc tế.
16. Những người con của Giáo hội phải là
những hướng dẫn viên theo chương trình đã được chính Chúa
Giêsu công bố trong giảng đường Nazareth: "Tín hữu là những
người được mời gọi mang tin mừng đến cho người nghèo khó,
loan báo sự giải phóng cho người bị tù đày, đem ánh sáng cho
kẻ mù loà, tự do và công lý cho người bị áp bức."
Các
triều đại chuyên chế quân chủ trong quá khứ cũng như các chế
độ độc tài tả phái hay hữu phái hiện nay đi ngược lại chủ
trương tôn trọng nhân quyền nên đã xem các tôn giáo như kẻ
thù và sát hại giáo dân. Dù bị sát hại, nhưng ảnh hưởng
ngược lại, giáo dân của các tôn giáo càng ngày càng đông đảo
khiến cho CSVN lập ra cái gọi là tôn giáo quốc doanh để quản
chế giáo sự theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phong thánh
HCM để tôn thờ.
Đối với Thiên Chúa Giáo thì từ thời
đế quốc La Mã, Thiên Chúa Giáo, suốt 300 năm, bị sát hại,
đến thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, Công Giáo trở thành quốc
giáo của Đế Quốc La Mã. Thậm chí khi nói đến Công Giáo là
người ta nghĩ đến Công Giáo La Mã (Roman Catholic) hay khi
nói đến dân La Mã người ta liên tưởng đến người Công Giáo.
Phật giáo trong đời Nhà Đường tại Trung hoa cũng bị bách
hai, hằng trăm ngôi chùa bị tàn phá và hằng ngàn sư, sãi bị
hoàn tục, hoặc bị sung quân.
17. Tinh thần Tôn giáo
là tinh thần tự do, dân chủ, tôn trọng, và hoằng dương những
quyền tự do căn bản bất khả xâm phạm, bất khả tương nhượng
của con người do Đấng Tạo Hoá ban cho nhân loại. Phong trào
tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền phát xuất từ các quốc
gia Tây phương chịu ảnh hưởng của nền Văn Minh Thiên Chúa
Giáo. Nhiều ý niệm trong triết pháp (law philosophy) của các
bộ luật Âu, Mỹ bắt nguồn từ Kinh Thánh. Luật lệ và đạo lý
như bóng với hình không tách rời nhau.
"Law and
morals are inexplicably intertwined".
Bản
Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776 đã ghi rõ:
"All men are created equal, that they are endowed by
their Creator with certain unalienable Rights that among
these are Life, Liberty, and the pursuit of Happiness".
Mọi người sinh ra đều được bình đẳng, thụ hưởng những quyền
bất khả nhượng do Tạo hóa ban cho, như các quyền Sống, Tự
do, và tìm kiếm Hạnh phúc.
Chính quyền Hoa Kỳ, qua
Hiến Pháp, không ban bố các quyền bất khả nhượng mà có bổn
phận bảo vệ các quyền tự nhiên bẩm sinh (innate) của công
dân và cư dân Hoa Kỳ qua "Bill of Rights", hay 10 tu chính
đầu của bản Hiến Pháp.
18. Tinh thần và thể chất như
hồn với xác. Linh hồn kết hợp với thể xác tạo nên sự sống.
Muốn có sự sống, hồn và xác không thể tách rời nhau được.
Tôn giáo là tinh thần, chính quyền là thể xác. Hồn lành
trong xác mạnh.
Chính quyền vô thần không thể là
chính quyền lành mạnh. Để chứng minh thêm hiệu lực của ý
niệm "Tinh thần lên khuôn cho hành động của thể xác", trong
bài diễn văn lịch sử đọc tại Gettysburg, tiểu bang
Pennsylvania Hoa Kỳ năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln đã
tái xác nhận Hoa Kỳ được tái sinh trong Ơn Thánh Chúa là
quốc gia tự do của dân, bởi dân, để phục vụ nhân dân, và sẽ
không biến mất trên thế gian:
"This nation, under
God, shall have a new birth of freedom –– and that
government of the people, by the people, for the people,
shall not perish from the earth." (Abraham Lincoln, November
19, 1863)
19. Vì trí tuệ của con người có khả năng
hữu hạn nên ngoài cuộc sống trần tục, có những điều mà chúng
ta không am hiểu hay thu nhận được qua ngũ giác (perception)
cho nên có chủ truơng Tin trước, hiểu sau.
"Có
tin trước mới hiểu sau" theo chủ truơng trong
thần học của các tôn giáo. St. Augustine (354–430): 'Believe
in order to understand' (credo ut intelligam). Tôn giáo nào
cũng ám tàng những điển mô huyền diệu như tin vào Linh hồn,
Niết bàn, Thiên đàng, điạ ngục, tái sinh, hoá kiếp, đầu
thai, là nhưng điều kiện tiên quyết khi nhập đạo.
Ngược với khoa học vật lý, vì khoa học vật lý có thể kiểm
chứng bằng thực nghiệm, còn thần học đặt căn bản trên sự tin
tưởng nhất là những vấn đề thuộc thế giới thiêng liêng mà
khoa học vật lý không giải thich được.
20. Tổng thống
Hoa Kỳ Calvin Coolidge (1922) đã nhận định:
Chỉ khi
nào con người có tín ngưỡng mới mong được trưởng thành. "It
is only when men begin to worship that they begin to grow".
Nói khác đi, "có tin tuởng, cầu nguyện mới được ơn, có xin
mới được cho, có gõ cửa mới được mở". Hy vọng được ơn Trên
phù trợ là nguồn sống tinh thần giúp con người tu tâm, dưỡng
tánh, hy vọng để trải qua những lúc khốn khó của cuộc đời,
khác với chủ trương vô đạo của chủ nghĩa xã hội Cộng sản.
21. Quan niệm về quyền bất khả xâm phạm, bất khả nhượng
là quyền bẩm sinh, khi sinh ra đã có, do Tạo hóa ban cho
nhân loại là quan niệm thuộc phạm trù thần học (theology)
siêu hình, vượt ra ngoài khả năng suy lý của những người
theo chủ trương duy vật, vô thần, vì họ chỉ tin vào những gì
trông thấy được (materialism/atheism) và không tin vào đời
sống thiêng liêng.
22. Quan niệm về các quyền bất khả
xâm phạm đã và đang ảnh hưởng đến tâm lý, tư duy, và hành
động của nhân dân hữu thần trên thế giới và các triết thuyết
chính trị của các quốc gia dân chủ trên năm châu, bốn bể,
trừ bốn nước theo chế độ vô thần là Trung hoa, Cuba, Bắc
Hàn, và Việt Nam.
23. Sứ mệnh bảo vệ Tự do, Dân chủ,
Nhân quyền là sứ mệnh căn bản, là nền móng, là hạt giống cưu
mang mầm mống của các cuộc cải cách:
(1)–Từ năm 1215
với văn bản Đại Hiến Chương (Magna Carta) ở Anh quốc.
(2)–Sau đó các cuộc cách mạng "khai dân trí, chấn dân
khí, hậu nhân sinh" tại Mỹ (1776), tại Pháp (1789), trong
thế kỷ thứ 18.
(3)–Qua thế kỷ thứ 19, vấn đề giải
phóng nô lệ phát xuất từ Anh Quốc (1833), sau đó được khai
triển tại Mỹ với cuộc nội chiến giải phóng nô lệ
(1861–1865).
(4)–Cũng trên đà dân chủ hoá, khối Cộng
sản Đông Âu sụp đã đổ vào đầu thập niên 1990. Khối CS Trung
hoa, Cuba, Việt Nam, Bắc Hàn, Lào, cũng sẽ cáo chung nhanh
chóng trước trào lưu tiến hoá của nhân loại.
24. Tư
tưởng lên khuôn cho hành động. Vấn đề thực thi sứ mệnh bảo
vệ các quyền tự do căn bản do Tạo Hóa ban cho nhân loại đã
và đang là nguyên động lực điều hướng chính sách đối nội,
đối ngoại của Hoa Kỳ và của các nước dân chủ văn minh. Quyết
tâm bảo vệ chính nghĩa đã là nguyên động lực thúc đầy Hoa Kỳ
lâm chiến để bảo vệ chính nghĩa (just cause) trong các cuộc
chiến gần đây như thế chiến thứ II, chiến tranh Cao ly,
chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Trung Đông...
25.
Thể chế cai trị tại Việt Nam hiện nay:
(1) Là thể chế phản dân chủ, thoái hóa,
tàn tích của chủ nghĩa Cộng sản Quốc Tế.
(2) Đảng CS Hà Nội đã thật sự công khai thề
quyết tâm, một cách mù quáng, vô nhân đạo, hy sinh hàng
triệu thanh niên miền Bắc để xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.
(3) Đảng CSHN chưa bao giờ chiến đấu cho dân tộc Việt
Nam nên nhà cầm quyền CSHN không tôn trọng nhân phẩm, nhân
quyền của nhân dân Việt Nam.
(4)
Ngược lại, chúng ta,
người Việt quốc gia, luôn luôn tâm niệm "Lấy nhân nghĩa để
thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo" thể hiện qua
chính sách "Chiêu hồi" đã giúp hơn 200 ngàn cán binh CS quy
thuận chính nghĩa quốc gia.
26. Sắc lệnh Tông Đồ Giáo
Dân khích lệ sự đoàn ngũ hóa. "Muốn hoạt động thành công,
nhất thiết phải được đoàn ngũ hoá thành đoàn thể... nếu
không sẽ không đủ sức chống lại áp lực của các định chế
chính trị, xã hội".
Điều 216 Bộ Giáo Luật nói đến
hoạt động chính trị đến bây giờ còn có những nhận định sai
lầm như sợ làm chính trị, không nên làm chính trị, quan niệm
đó bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về phạm trù chính trị...
Chính trị thể hiện ý niệm quản trị thế sự cho được chính
trực, bắt nguồn từ sự quản trị Đô thị Nhã Điển, Hy Lạp, vào
thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên đến thế giới ngày nay.
27. Trên đây đã dẫn chứng quan niệm của tôn giáo với chủ
trương tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền cho nhân loại
nhằm vô hiệu hoá những luận điệu ngây thơ "Tôn giáo không
làm chính trị".
Lực lượng tôn giáo hiện nay ở Việt
Nam đông đảo đang tranh đấu cho tự do tôn giáo và các tự do
căn bản cho toàn dân. Nho giáo chủ trương "Dân vi quý, xã
tắc thứ chi, quân vi khinh". Phật Giáo, Công giáo, Tin lành,
Cao Đài, Hoà Hảo... đêù có truyền thống tranh đấu cho tự do,
dân chủ, nhân quyền.
CHIẾU NHỮNG NHẬN ĐỊNH
NÊU TRÊN
28. Sau nửa thế kỷ (1975–2025)
chuẩn bị, đã đến lúc tập thể đồng hương hải ngoại hợp tác
với đồng bào hữu thần quốc nội yêu chuộng tự do, dân chủ,
qua công tác thực thi Quyền Dân Tộc Tự Quyết.
Liên
kết, nội công, ngoạị hợp để giải thể chủ nghĩa vô thần, vô
gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo của chủ nghĩa Công sản,
nhằm tái lập Tự Do, Dân Chủ, Hạnh Phúc Thực Sự cho toàn dân
Viêt Nam thoát khỏi xiềng xích độc tài Công sản dựa trên các
nguyên tắc pháp lý quốc tế căn bản:
(1). Ý niệm quyền
"Dân Tộc Tự Quyết" đã được đề cập đến từ thế kỷ thứ 16 "All
nations have the right to govern themselves and can accept
the political regime it wants, even if it is not the best".
– Các dân tộc có quyền tự trị và chấp nhận chế độ chính trị
theo ý muốn, dù chế độ đó chưa được hoàn mỹ.
Năm
1918, Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson (1913–1921) đã từng
tuyên bố National aspirations must be respected, people may
now be determined and governed only by their own consent.
"Self–determination is not a mere phrase; it is an
imperative principle of action" – Nguyện vọng của các quốc
gia phải được tôn trọng, các dân tộc từ nay có thể tự quản
theo ý muốn của mình. Dân tộc tự quyết không phải chỉ là một
câu nói, mà là một nguyên tắc hướng dẫn hành động.
(2). Chương 1, Điều 1, khoản 2 của bản Hiến Chương Liên Hiệp
Quốc (United Nations Charter – 1945) đã ấn định: "The
purpose of the United Nations is to develop friendly
relations among nations based on the respect for the people
of equal rights and self–determination of peoples, and to
take appropriate measures to strengthen the universal
peace".
Mục đích của bản Hiến chương LHQ là để phát
triển liên hệ thân hữu giữa các quốc gia đặt căn bản trên sự
tôn trọng nguyên tắc công bằng và quyền dân tộc tự quyết của
các dân tộc và áp dụng những biện pháp thích nghi để thăng
tiến nền hoà bình thế giới. Chủ trương này còn được đề cập
đến trong hai Công Ước về quyền chính trị (CCPR) và quyền
kinh tế xã hội (FCESCR) do LHQ ban hành: "All peoples have
the right of self–determination. By virtue of that right,
they freely determine their political status and freely
pursue their economic, social and cultural developments –
Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Bằng vào quyền
này, họ được tự do quyết định về thể chế chính trị và tự do
theo đuổi sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa của
họ".
(3). Chương 15 của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền (Universal Declaration of Human Rights năm 1948) ấn
định.
"Everyone has the right to self–determination
and that no one should be arbitrarily deprived of a
nationality or denied the right to change nationality". –
Mọi người đều có quyền tự quyết, không ai bị tước đoạt quốc
tịch hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch.
(4).
"Right of a people to self–determination is a cardinal
principle in modern international law – Jus cogens –. The
right to freely choose their sovereignty and international
political status with no interference". – Quyền dân tộc tự
quyết là quyền căn bản trong luật quốc tế hiện đại. Quyền tự
do chọn chủ quyền và vị thế chính trị trên chính trường quốc
tế mà không bị can thiệp.
29. Công sản Hà Nội đã vi
phạm Quyền Dân Tộc Tự Quyết của Quốc Gia Việt Nam và Việt
Nam Cộng Hoà.
(1). Hiệp định Geneve ngày 20 tháng 7
năm 1954 do Cộng sản Hà nội và thực dân Pháp ký kết đã tước
đoạt quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Việt Nam khi quyết
định chia cắt đất nước VN thành hai miền Nam Bắc trước sự
phản đối của chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo
Đại lãnh đạo. Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đã bày tỏ thái độ qua
lời phát biểu "Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị
ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản
đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn
trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc gia
Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành
cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền
thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện
Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở" và đến năm 1956,
chính phủ VNCH bác bỏ đề nghị hiệp thương giữa hai Miền Nam
Bắc vì không thể có bầu cử tự do tại Miền Bắc do CS kiểm
soát và Việt Nam vốn là môt quôc gia thống nhất. Hiệp ước
Geneve chia cắt đất nước thành hai miền Nam Bắc vi phạm
quyền dân tộc tự quyết của Quốc gia Việt Nam và của toàn
dân.
(2). Hiệp định Paris (Paris Agreement on Ending
the War and Restoring Peace in Vietnam) ngày 27 tháng 1 năm
1973 công nhận quyền Dân Tộc Tự Quyết của Miền Nam Việt Nam:
Chương IV Điều 9:
(a): Quyền tự quyết của nhân dân
Miền Nam là quyền thiêng liêng, không thể chuyển nhượng và
các quốc gia phải tôn trọng.
(b): Nhân dân Miền Nam
Việt Nam sẽ quyết định chính phủ tương lai cho Nam Việt Nam
qua cuộc bầu cử thật sự tự do và dân chủ dưới sự giám sát
quốc tế.
Trong thực tế CS Hà Nội đã vi phạm Hiệp Định
Paris, xâm lăng VNCH và áp đặt chế độ độc tài CS lên nhân
dân miền Nam Việt Nam từ 1975 đến nay.
Chapter IV, Article 9:
(a): "The South
Vietnamese People's right to self–determination is sacred,
inalienable, and shall be respected by all countries.
(b): The South Vietnamese People shall decide themselves
the political future of South through genuinely free and
democratic general elections under international
supervision."
Điều 19: Các quốc gia
tham dự Hội nghị đồng ý triệu tập Hội Nghị quốc tế trong
vòng 30 ngày kể từ ngày ký thỏa ước để công nhận thỏa ước đã
được ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, duy trì hòa bình
cho Việt Nam, tôn trọng những quyền căn bản của nhân dân
Việt Nam và quyền dân tộc tự quyết của nhân dân miền Nam
Việt Nam, đóng góp, và bảo đảm hòa bình tại Đông Dương.
Article 19: "The parties agree on the convening of an
international conference with 30 days of the signing of this
agreement to acknowledge the signed agreements, to guarantee
the ending of the war, the maintenance of peace in Vietnam,
the respect of the Vietnamese people's fundamental national
rights, and the South Vietnamese people's right to
self–determination, and to contribute to and guarantee peace
in Indo China."
Thi hành điều 19 thượng dẫn, ngày 2
tháng 3 năm 1973, 12 quốc gia họp trước sự chứng kiến của
Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc đã ký một văn kiện gọi là ACT of
the Paris Agreement ending the War and restoring Peace for
Vietnam.
(3). Định Ước (Act of the Paris Agreement on
ending the War and Restoring Peace in Viet Nam), do 12 quốc
gia ký ngày 2 tháng 3 năm 1973 được xem như là bản "Tông Đồ
Công Vụ" của 12 vị Bộ Trưởng Ngoại Giao của 12 thành viên
tham gia vào Hòa Hội Paris, gồm có Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Việt
Nam Cộng Hòa, Canada, Nam Dương, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Trung
cộng, Cộng sản Bắc Việt, và Việt cộng. Bản Định Ước này quy
định biện pháp áp dụng trong trường hợp có sự vi phạm Hiệp
Ước Ba Lê. Định ước này có tính cách quan trọng trong vấn đề
đòi lại quyền dân tộc tự quyết cho Việt Nam khi Việt cộng vi
phạm Hiệp Định Ba Lê xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà, áp đặt chế
độ CS lên toàn dân Việt từ 1975 đến nay.
Điều 2 Bản
Định Ước xác định nguyện vọng và các quyền cơ bản của nhân
dân Việt Nam, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ, quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam
phải được tôn trọng.
– Article 2 "The Agreement
responds to the aspirations and fundamental national rights
of the Vietnamese people, i.e. the independence,
sovereignty, unity, and territorial integrity of Viet–Nam,
to the right of the South Vietnamese people to
self–determination, and to the earnest desire for peace
shared by all countries in the world. The Agreement
constitutes a major contribution to peace,
self–determination, national independence, and the
improvement of relations among countries. The Agreement and
the Protocols should be strictly respected and scrupulously
implemented".
Điều 7(a) "Nếu có sự vi phạm Hiệp Định
Ba Lê nguy hại đến nền hòa bình, một hay nhiều quốc gia có
quyền tham khảo với các quốc gia khác để quyết định biện
pháp giải quyết (b) Hội Nghị Quốc Tế sẽ được tái triệu tập
khi Hoa Kỳ và CS Hà Nội yêu cầu, (c) hoặc theo lời yêu cầu
của sáu hay nhiều hơn trong 12 quốc gia tham dự vào bản Định
Ước".
Nếu chúng ta vận động mạnh mẽ với 9 quốc gia tự
do trong 12 thành viên ký vào bản Định Ước thì chúng ta có
cơ hội thành công.
– Article 7 "(a) In the event
of a violation of the Agreement or the Protocols which
threatens the peace, the independence, sovereignty, unity,
or territorial integrity of Viet–Nam, or the right of the
South Vietnamese people to self–determination, the party
signatory to the Agreement and the Protocols shall, either
individually or jointly, consult with the other Parties to
this Act with a view to determining necessary remedial
measures. (b) The International Conference on Viet–Nam shall
be reconvened upon a joint request by the Government of the
United States of America and the Government of the
Democratic Republic of Viet–Nam on behalf of the party
signatory to the Agreement or (c) upon a request by six or
more of the Parties to this Act.".
30. Đạo luật
Public Law 93–559 do Tổng thống Gerald Ford ban hành ngày 30
tháng 12 năm 1974.
Điều 34(b) ấn định vấn đề tái
triệu tập Hội Nghị Ba Lê "Để giảm thiểu sự đau khổ của nhân
dân và mang lai hòa bình thực sự cho Đông Dương, Quốc hội
khẩn thiết yêu cầu Tổng thống và Bộ Trưởng Ngoại Giao áp
dụng biện pháp sau đây (4) tái nhóm Hội Nghị Ba Lê để tìm
phương cách thực thi toàn vẹn các điều khoản của Hội nghị ký
ngày 27 tháng 1 năm 1973 về các thành viên liên hệ đến cuộc
xung đột tại Việt Nam". – Section 34(b) (4): "In order to
lessen the human suffering in Indochina and to bring about a
genuine peace there, the Congress urges and requests the
President and the Secretary of State to undertake the
following measure... (4) to reconvene the Paris Conference
to seek full implementation of the provisions of the
Agreement of January 27, 1973 on the part of the Vietnamese
parties to the conflict".
Đạo luật này chưa được thực
hiện hay hủy bỏ, do đó còn có hiệu lực. Mặc dù nhân sự đã
thay đổi trong các chính phủ, nhưng trách nhiệm thi hành các
hiệp ước, đạo luật không phải vì thế mà bị thời tiêu.
31. Quyết Tâm Tái Lập Tự Do, Dân Chủ tại Việt Nam
"Avec la persévérance on vient à bout de tout" – "Với sự
kiên trì, chúng ta có thể vượt qua mọi thử thách".
"Gemir, prier, pleurer est également lâche. Fais
energiquement ta longue et lourde tâche" (Alfred de Vigny).
"Rên rỉ, cầu khẩn, khóc lóc đều hèn nhát như nhau. Hãy hăng
hái thực hiện nhiệm vụ lâu dài và nặng nề của bạn".
(1). Các quốc gia tự do thường tôn trọng những gì họ đã ký
kết, nghĩa là dùng phương thức vương đạo, giấy trắng mực
đen. Phương thức bá đạo không phải sở trường của người quốc
gia. Mỗi khi quyền lợi bị vi phạm, chúng ta có quyền đặt vấn
đề, khiếu nại. Do đó chúng ta không ngại khi phải yêu cầu
các quốc gia tự do tái xét và thực thi những điều đã ký kết,
trước sự hiện diện của đại diện Liên Hiệp Quốc, tái lập
quyền dân tộc tự quyết cho nhân dân Việt Nam như đã được quy
định trong luật quốc tế và trong các văn kiện quốc tế đã
được ký kết liên quan đến Việt Nam.
(2). Kết quả
nhanh hay chậm còn tùy hoàn cảnh, nhưng còn tốt hơn ngồi
than thân trách phận, thoái thác, chê bai lẫn nhau hay
nguyền rủa bóng tối. Chúng ta phải vận động tích cực trong
tất cả các quốc gia có người Việt cư ngụ, vận động đồng
loạt, và liên tục. Nếu đã bắt đầu nhưng chưa thành công, thì
phải bắt đầu lại, như Platon đã nói: "Hãy bắt đầu vì đó là
ngưỡng cửa của sự thành công".
(3). Quyền dân tộc tự
quyết có thể thực thi qua các cuộc tổng tuyển cử, trưng cầu
dân ý, bầu cử tự do. Tổ chức bầu cử tự do tại Việt Nam là
một trong những giải pháp mà các cộng đồng, đoàn thể đang
chuẩn bị và vận động. Tập thể người Việt Quốc Gia còn yêu
cầu LHQ, Hoa Kỳ, và các quốc gia tự do hỗ trợ giải pháp tổ
chức bầu cử tự do như đã quy định trong các văn kiện quốc
tế. Nghĩa là không đặt vấn đề vu vơ mà nói có sách, mách có
chứng:
(4). Điều 9(b) Hoà Ước Ba Lê ký ngày 27/1/73
đã quy định:
"The South Vietnam shall decide
themselves the political future of South Vietnam through
genuinely free and democratic general elections under the
international supervision – Miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết
định thể chế chính trị cho tương lai Miền Nam Việt Nam bằng
các cuộc bầu cử thực sự tự do và dân chủ dưới sự giám sát
quốc tế".
(5). Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế`Nhân Quyền mà
tất cả các nước hội viên đã ký kết khi gia nhập Liên Hiệp
Quốc.
Điều 21 Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền ấn định:
(a) "Mọi người đều có quyền
tham chính trực tiếp hoặc gián tiếp được tuyển chọn qua các
cuộc bầu cử tự do. 'Everyone has the right to take part in
the government of his country, directly or through freely
chosen representatives'. Cộng sản VN khủng bố và cấm đoán
người Việt quốc gia ứng cử, các ứng cử viên đều do đảng Cộng
sản đề cử... 'Đảng cử, dân bầu'".
(b) Mọi người đều
có quyền ngang nhau trong việc sử dụng các tiện ích công
cộng. "Everyone has the right of equal access to public
service in his country". Cộng sản VN dành mọi tiện nghi, đặc
quyền đặc lợi, dịch vụ công cộng cho cán bộ, đảng viên cộng
sản, kỳ thị và kìm kẹp người Việt quốc gia trong mọi dịch
vụ, sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục.
(c)
Chính quyền phải lấy ý chí chung của toàn dân làm căn bản, ý
chí này sẽ được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực
sự bằng thể thức phổ thông đầu phiếu, kín, hoặc bằng các
phương thức bầu cử tự do tương đương. – "The will of the
people shall be the basis of the authority of government;
this will shall be expressed in periodic and genuine
elections which shall be by universal and equal suffrage and
shall be held by secret vote or by equivalent free voting
procedures".
32. Suốt 50 năm thống trị toàn cõi Việt
Nam sau 1975, cộng sản Hà nội tự biên tự diễn, không do ý
chí của toàn dân Việt Nam tấn phong thể hiện qua các cuộc
bầu cử tự do. Đảng Cộng sản xâm lăng Việt Nam đã hình thành
một giai cấp tài phiệt mới và quyết tâm phân chia đặc quyền,
đặc lợi giữa các đảng viên, để "áo xiêm buộc trói lấy nhau",
thống trị đất nước trong cảnh bần cùng hóa nhân dân, khiến
cho Việt Nam trở thành nghèo khổ nhất thế giới. Cộng sản rất
sợ nhân dân giàu mạnh, vì phú quý sinh lễ nghĩa, đồng bào sẽ
đòi hỏi tự do, dân chủ, và mỗi khi giàu mạnh sẽ có đủ phương
tiện lật đổ chế độ cộng sản.
33. Nếu giải quyết vấn
đề chính trị cho Miền Nam Việt Nam theo những điều khoản của
Hiệp Định Ba Lê 1973 và bản Tuyên Ngôn QTNQ thì "Toàn quốc
Việt Nam" sẽ được tự do, dân chủ, phú cường, và độc lập khỏi
bị Hán hoá. Chúng ta hãy dồn nỗ lực vào mục tiêu chính là
"Dân Chủ cho Việt Nam" (Democracy for Vietnam) trong tinh
thần đánh thức lương tâm nhân loại, gây áp lực với khối Cộng
sản qua nhiều lĩnh vực văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị,
ngoại giao, công pháp quốc tế, bang giao quốc tế từ các đơn
vị sinh hoạt địa phương như thành phố, quận, tiểu bang, liên
bang, đến cấp quốc gia, hoàn vũ.
34. Trong mọi tổ
chức ái hữu dân, quân, cán, chính, xã hội, tôn giáo, cộng
đồng Việt Nam hải ngoại nên có một cơ cấu tổ chức phụ trách
chương trình bảo vệ nhân quyền với chương trình vận động
đồng bào Việt Nam tự do tại hải ngoại và các cộng đồng tự do
quốc tế hỗ trợ công tác xây dựng dân chủ cho Việt Nam.
Có như thế thì chúng ta mới thể hiện được thành tâm,
thiện chí, thực sự lưu tâm đến quyền sống và nhân phẩm của
đồng bào quốc nội một cách công khai, muôn người như một.
Chỉ có những chính quyền do nhân dân thực sự tự do tuyển
chọn mới lưu tâm đến quyền lợi của dân chúng. Đây là vấn đề
nhân đạo, là sứ mệnh thiêng liêng biểu lộ lương tâm chính
trực. Chúng ta ở hải ngoại chỉ hưởng được hạnh phúc chân
chính thực sự khi thấy đồng bào quốc nội được sống trong
hạnh phúc.
35. Trong trường hợp giải pháp bầu cử tự
do được thực hiện, để tránh vấn đề hợp thức hóa chế độ phi
nhân CS hiện hữu, câu hỏi mà một số người quan tâm là liệu
chúng ta có chuẩn bị đâỳ đủ các lực lượng quần chúng quốc
nội và hải ngoại để hỗ trợ giải pháp bầu cử tự do. Do đó
"Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi
cao". Không ai đơn thương độc mã có thể hoàn thành sứ mệnh.
Chúng ta cần có tổ chức, có đủ đại diện tại các quốc gia tự
do, tại các tiểu bang có người Việt cư ngụ và trên toàn cõi
VN gồm hơn 70 đơn vị hành chánh cấp tỉnh và thị xã nhằm âm
thầm vận động quần chúng trong công tác "khai dân trí, chấn
dân khí", phổ biến các tài liệu về quyền Dân Tộc Tự Quyết,
bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, và các văn kiện liên quan
đến những quyền bất khả xâm phạm của con người, hỗ trợ các
nhà tranh đấu cho nhân quyền ở quốc nội, một cách trực diện
và qua các phương tiện truyền thông hiện đại.
Lực
lượng này gồm những người dấn thân, không phân biệt tuổi
tác, giới tính, có tinh thần phục vụ đển hơi thở cuối cùng
đang sinh sống tại hải ngoại hay quốc nội, có khả năng âm
thầm hoạt động để chuẩn bị tư tưởng quần chúng vì tư tưởng
lên khuôn cho hành động, nhằm ứng phó với tình thế biến
chuyển và sẵn sàng hỗ trợ chính phủ, do đồng bào quốc nội
tấn phong qua thủ tục bấu cử tự do tại quốc nội. Đây là một
trong những vấn đề trọng yếu cần sự phối hợp của các đoàn
thể cộng đồng, ái hữu, tôn giáo, xã hội, chính trị, dân,
quân, cán, chính hải ngoại và đồng bào quốc nội.
Toàn
dân Việt Nam, vì tuơng lai của tổ quốc, sinh mệnh của dân
tộc, quyết định giành lại quyền dân tộc tự quyết, để tồ chức
tồng tuyển cử tự do, nhân dân tự do tuyển chon chính thể hợp
pháp, do dân, ví dân, và phuc vụ phúc lợi chung của toàn dân
nhằm giải thể chế độ Công sản, tự biên, tự diễn, tay sai của
Hán tộc, kẻ thù bắc phương truyền kiếp của dân tộc Viêt Nam,
để tái lập tự do, dân chủ, hầu mang laị hạnh phúc thực sự
cho toàn dân.
Xin ơn Trên phù hộ chúng ta.
Trần Xuân Thời

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by txt chuyển
Đăng ngày thứ Năm, June 18, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH