
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tạp ghi
Chủ đề:
bằng tú tài pháp–việt
Tác giả:
Nguyễn thị Cỏ May

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)

Hôm
thứ hai 16 tháng 6 vừa qua, theo thông báo của Bộ Quốc gia
Giáo dục, trên khắp nước Pháp, tức cả Pháp hải ngoại, có
724,633 thí sinh ghi tên dự thi Tú Tài. Trong số này, có 2
thí sinh rất đặc biệt, một trẻ nhứt thế giới và từ trước tới
nay, mới có 8 tuổi. Thông thường ở tuổi này, cậu bé đang học
lớp Ba hoặc lớp Nhì là đã sớm rồi. Và thí sinh kia là một Cụ
78 tuổi. Người lớn tuổi sau Cụ, cũng cùng tham dự thi Tú Tài
năm nay, vừa mừng sanh nhựt 68 tuổi. Dĩ nhiên cả ba người
đều thi Tú Tài với tư cách thí sinh tự do.
Hiện nay,
cả ba đang thi vấn đáp. Ngày 4 tháng 7 sẽ có kết quả.
Năm 2023, Pháp có cậu Tú 12 tuổi. Năm sau, ở Strasbourg,
Miền Đông–Bắc, có một cô bé 9 tuổi dự thi Tú Tài nhưng chẳng
may không đậu. Không biết năm nay, bé có thi lại hay không.
Ở Bỉ, năm 2018, báo chí rùm beng tin vui cậu bé Laurent
8 tuổi ở vùng Flandre, phía Bắc, đậu Tú Tài.
Chương
trình 3 năm Đệ II cấp, theo Việt nam trước kia là Đệ Tam, Đệ
Nhị, và Đệ Nhứt, sau
[này] là lớp 10, 11, và 12, cậu bé chỉ
học một năm rồi đi thi. Soạn thi, cậu bé học lớp luyện thi
riêng vì chán học ở nhà trường. Laurent có chỉ số thông minh
là 145, trong 2% những người có chỉ số thông minh trên 130.
Tú Tài là tên gọi bằng cấp kết thúc bậc Trung học ở Việt
nam. Tên gọi bằng cấp “Tú Tài” dường như chỉ có ở Việt nam
và từ thời xa xưa trong hệ thống giáo dục và khoa cử nho học
nên mới có Tú Xương (1870–1907) và có thơ “Không hay sao lại
đỗ ngay Tú Tài”
[*].
Tới lúc Tây cai trị, bằng cấp Trung
học của Tây là “Le Baccalauréat” cũng được Việt nam gọi luôn
là “Tú Tài”. Và Tú Tài Tây!
Tú Tài

Theo Từ điển, chữ “Tú Tài” có nghĩa là “đẹp đẽ, có khả năng,
tài giỏi”. Còn Tú Tài Tây, Le Baccalauréat, lại hoàn toàn
không có nghĩa xa gần gì như chữ “Tú Tài” của ta hết cả. Chữ
Baccalauréat, ta gọi là “Tú Tài tây”, mượn từ chữ la–tinh
thời trung cổ “Baccalaureus” có nghĩa là “thanh niên quí tộc
muốn trở thành hiệp sĩ, sự chiến thắng – Le Chevalier”.
Tú Tài Tây ra đời từ năm 1808 nhưng qua năm sau, mới có
khoá thi đầu tiên có 31 người dự thi, 30 người thi môn văn
chương, 1 người thi văn chương và khoa học. Điều lạ là Paris
không có thí sinh dự thi khoá đó.
Ở Hà Nội, năm 1902,
đã có Trường Trung học Đệ I cấp Paul Bert. Năm 1912 mở Đệ II
cấp có 143 học sinh, có 2 học sinh người Tàu và 1 Nhựt bổn.
Năm 1914, Toàn quyền Albert Sarraut cho mở rộng Trung học Đệ
II cấp. Năm 1919, Trung học Đệ II cấp khai giảng với tên
“Trường Trung học Hà Nội” (Lycée Hanoi). Năm 1923, đổi thành
Trung học Albert Sarraut. Tới năm 1940, trường được 1,405
học sinh, tất cả đều học theo chương trình giáo dục như tại
Pháp.
Như vậy Hà Nội là xứ bảo hộ lại có Trung học Đệ
Nhị cấp và có Tú Tài sớm trong lúc đó, Sài Gòn là thuộc địa
Pháp, niên khoá 1922–1923, Trường Chasseloup–Laubat hãy còn
là Collège chỉ dạy tới Brevet Elémentaire (Trung học Đệ I
cấp). Nhưng từ năm học 1926–27, nhà cầm quyền cho tổ chức
bằng “Tú Tài bổn quốc” (Le Baccalauréat de l’Enseignement
Secondaire local, thường gọi Le Bachot local). Muốn thi Tú
Tài bổn quốc, sau bằng Brevet, học sinh học lên lớp Seconde,
và 1 năm nữa rồi đi thi. Tú Tài bổn quốc chỉ có Một bằng duy
nhứt, chớ không phải Tú Tài I và Tú Tài II như chương trình
Pháp. Nhưng học và thi khó giàn mây xanh vì phải học nhiều
môn mà Tú Tài Tây không có. Như văn chương Pháp và Việt,
Triết Đông và cận Đông, triết Tây như trong chương trình
Tây, Toán, khoa học như chương trình Tây, lại thêm cả chữ
nho, sử địa Tây và cả ta. Môn nào cũng khó và nhiều. Học
sinh học không kịp thở. Lý do có Tú Tài bổn quốc vì nhà cầm
quyền thực dân bị các Cụ Bùi Quang Chiêu, với tờ La Tribune
Indochinoise, và Nguyễn Phan Long, với tờ Echo Annamite,
kịch liệt công kích là Nhà nước chỉ cho dân chúng học tới
Trung học Đệ I cấp, theo chánh sách ngu dân của thực dân.
Học khó, thi khó, thế mà qua Tây lại không vào Đại học
được, phải thi lại Tú Tài Tây. Đi làm, chức phận và lương
thấp hơn những người có Tú Tài Tây.
Muốn học thêm ở
Việt nam, người có Tú Tài bổn quốc phải khăn gói ra Hà Nội,
vào học các trường Cao đẳng như Y, Dược, Kỹ thuật, Hành
chánh. Thời hạn học từ 2 tới 4 năm. Tốt nghiệp trở thành Cán
sự. Như học Y khoa trở thành Y sĩ Đông Dương, làm việc phụ
tá cho Quan Đốc–tờ Tây. Không có quyền mở Phòng khám bịnh.
Về Công chánh, Cán sự, Phụ tá cho Kỹ sư Công chánh. Ở Nam
kỳ, các ông này được dân nhà quê Miền Tây gọi “ông Họa đồ”
vì các ông đo đất cát và vẽ lại ranh giới ruộng đất cho điền
chủ. Học giả Nguyễn Hiến Lê cũng là ông “Họa đồ” khi ông
được bổ nhiệm tới Cao Lãnh làm việc. Dân Sài Gòn thì gọi là
ông “Trường tiền”. Thời đó chưa nghe ai nói “Công chánh”.
Các ngành khác, như về Thương mại, Sư phạm hay Hành chánh,
thì chỉ học 2 năm (Đào văn Hội, 15 năm Đèn sách, Sài Gòn,
1971).
Nhưng họ đều giỏi khi làm việc. Về sau này,
những Y sĩ Đông Dương được nhìn nhận là Y sĩ, Thầy thuốc,
Médecin, có quyền mở Phòng mạch, Dưỡng đường, trên bảng chỉ
ghi Médecin. Ở ngã tư Lê văn Duyệt – Hồng Thập tự, có Dưỡng
đường Như Lân. Ông chủ là Y sĩ Đông Dương Trần Như Lân thuộc
trường hợp được “điều chỉnh” dưới thời chánh phủ Nguyễn văn
Tâm.
Về sau, nhà cầm quyền Hà Nội mở Đại học thì các
Trường Cao đẳng được sáp nhập vào Đại học trở thành những
phân khoa.
Trở lại chương trình Trung học Đông Dương,
qua niên khoá 1937–38, xét thấy Tú Tài bổn quốc quá rắc rối
và thật sự không có giá trị lại bị dân chúng công kích nên
nhà cầm quyền dẹp bỏ. Và Sài Gòn đã có tổ chức thi Tú Tài
Tây. Trường Chasseloup–Laubat có thêm Đệ Nhị cấp, trở thành
Lycée.
Tú kép, Tú mền, Tú đụp
Trong hệ thống
Nho học ngày xưa, người thi đậu kỳ thi Hương được gọi là
Sinh đồ. Tới năm 1828, vua Minh Mạng cho đổi lại là “Tú
Tài”.
Thi Hương, tức thi Tú Tài, đầu tiên tổ chức
dưới triều vua Trần Thuận Tông năm 1396. Gọi thi Hương vì kỳ
thi được tổ chức ở quê hương của thí sinh. Nhưng một trường
thi gồm nhiều địa phương hành chánh. Như trường Nam ở Nam
Định tập trung thí sinh của các tỉnh chung quanh Nam Định.
Trường Hà tập trung thí sinh chung quanh Hà Nội.
Qua
các đời vua Lê Thái Tông (1434–1439), Lê Nhân Tông
(1443–1453), thi Hương qui định có 4 kỳ, gọi là bốn trường.
Kỳ 1: thí sinh thi kinh nghĩa, thư nghĩa;
Kỳ 2: chiếu, chế,
biểu; Kỳ 3: thơ phú; Kỳ 4: văn sách.
Nền học cũ chấm
dứt vào những năm đầu thế kỷ XX.
Đậu Tú Tài chưa đủ để
được nhà vua bổ đi làm quan, mà chỉ được làm Thầy Đồ đi dạy
học. Nên mới có ông Tú, Cụ Đồ, rất được dân chúng trọng
vọng. Làm quan như Quan Huyện, Quan Phủ, hay làm Quan ở
Triều Đình, phải đậu Cử nhơn. Thí sinh phải đậu 4 kỳ thi
Hương, tức 4 Tú Tài, rồi tới Huế dự thi Hội, từ Cử nhơn tới
Tiến sĩ.
Người chỉ đậu 2 Tú Tài, tức đậu ở 2 trường
thi, thì gọi là “Tú kép”, 3 Tú Tài thì gọi là “Tú mền”, 4 Tú
Tài được gọi là “Tú đụp”.
Nhà thơ
Trần Tế Xương ở Nam
Định (1870–1907) đi thi 8 lần thi Hương nhưng không đậu đủ 4
trường nên người đời gọi ông là
Tú Xương.
Có một điều
đáng ghi nhớ, ngay dưới thời quân chủ cực thịnh, trong việc
tổ chức thi cử và bổ nhiệm người đi làm quan, chánh quyền
phải tuyệt đối tông trọng “Luật Hồi tỵ”. Như không được bổ
nhiệm một quan chức về nơi quê quán, không được phép cho con
em dự thi nơi thân nhơn làm việc trong ban khảo thí. Luật
này vẫn được áp dụng cẩn thận cho tới thời Việt Nam Cộng
Hòa.
Ngày nay, ở Việt nam, nhứt là ở Miền Trung và
Bắc, có nhiều nơi nhà cầm quyền gồm cả một gia đình hay một
dòng họ. Và điều này được cho là tiên tiến vì tất cả mọi
người đều có khả năng và đều là đảng viên cộng sản.
3
thế hệ Tú Tài
Bằng cấp Tú Tài Tây ngày nay thường bị
tra vấn về giá trị thiệt của nó, như về mặt hiểu biết, cách
thi cử, hoặc giá trị thực dụng như cái thông hành cho phép
học lên cấp cao hơn hoặc vào cửa xí nghiệp. Có dư luận cho
rằng Tú Tài sau những lần cải tổ, lần cuối năm 2021, nay chỉ
là một cái xác chết nhưng tim còn đập.
Hôm
16/06/2025, Radio France cho phát thanh bài điều tra của nhà
báo Anne–Lyvia Tollinchi. Trước đó, bà tới thăm một gia đình
người Pháp ở Vaucluse (miền Nam) gồm 3 thế hệ Tú Tài, bà
ngoại Mireille, mẹ Emma, con gái thí sinh năm nay là Chiara,
để tìm hiểu nhận xét của họ về văn bằng Tú Tài.

Tú Tài vẫn còn nguyên giá trị
của nó, khi trải dài qua 3 thế hệ của gia đình ở Vaucluse?
Từ sau lần cải tổ gần đây, năm 2021, thí sinh chỉ có 4
môn thi viết, trước đây có gần cả chục phải vượt qua. Số thí
sinh thi đậu ngày nay cũng lớn. Tiêu chuẩn phải từ 80%. Ngay
trong một nhà, bà cháu, mẹ con đều thi Tú Tài, thời gian
khác nhau theo thế hệ của mình. Chiara, 17 tuổi, thi năm
nay, mẹ Emma, 50 tuổi, thi năm 1994 lúc 21 tuổi, và bà,
Mireille, 71 tuổi, thi năm 1973.
Emma còn nhớ rõ
những lo âu, hồi họp lúc chờ vô vấn đáp. Bà ngồi ở hành lang
để ôn bài. Bà phải đậu vì Tú Tài rất quan trọng. Chỉ có hơn
phân nửa dân chúng Pháp có được Tú Tài.
Bà cho biết
thế hệ của bà phải đi học, có bằng cấp mới kiếm được việc
làm. Bà nhận thấy rõ cái khác biệt đó đối với thế hệ của cha
mẹ bà và với con gái của bà.
Riêng về học lên cấp
trên, bằng Tú Tài mở cửa vào các ngành khác nhau một cách
rộng rãi. Ngày nay, học sinh phải chọn ngành, chọn trường từ
trước, và phụ thuộc vào số điểm có được của những năm học
trước khi thi. Vậy mà năm nào, sau khi các trường Cao đẳng,
Đại học khai giảng, vẫn cón hàng chục ngàn học sinh có Tú
Tài không có chỗ học.
Năm 1973, bà Mireille không cần
thêm bằng cấp nào khác nữa để có việc làm. Với bằng Tú Tài
G, về Quản trị và Thương mại, chỉ vài tháng sau, bà có ngay
việc làm. Chủ xí nghiệp còn khen bà có khả năng cao hơn việc
làm của bà. Tới năm 90, theo Emma, thì tình hình đã không
còn được như vậy nữa. Chỉ có Tú Tài thì không kiếm được việc
gì hết. Emma học thêm 2 năm lấy bằng Cao đẳng chuyên nghiệp.
Nhưng sau đó, bà phải học lên Cử nhơn Khoa học Giáo dục để
có việc làm khá hơn.
Chiara theo hồ sơ đã được nhận
vào học ngành viễn thông ở Aix sau khi đậu Tú Tài cuối tháng
6 này.
Chuyện học lên sau Tú Tài ngày nay là cả một
áp lực đè nặng lên thí sinh Tú Tài, còn nặng hơn cả việc rớt
hay đậu Tú Tài.
Ngày trước nhiều người khóc vì không
có Tú Tài. Ngày nay, nhiều người khóc vì không biết học ở
đâu.
Bà Mireille làm một cử chỉ truyền thống trong
gia đình có từ nhiều thế hệ để chúc may mắn cháu ngoại đậu
Tú Tài vào đầu tháng 7 này là xoa ngón tay cái, ngón may
mắn. Lấy ngón tay cái đặt vào lòng bàn tay và nghĩ về người
mình cầu chúc may mắn. Người đi thi sẽ thi đậu.
Bà
cầu chúc cháu ngoại của bà sẽ đậu Tú Tài kỳ thi này!
Nguyễn thị Cỏ May

Tác giả ghi chú:
[1] Thơ của Tú
Xương

thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch


|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày Thứ Tư, July 2, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH