

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tùy bút
Chủ đề:
bình thơ
Tác giả:
Vương Trùng Dương

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
“Hoa Dù nở trong mây
Hồn tôi ai chấp cánh...” –(HHC)

Trong
cuộc đời binh nghiệp của Saint–Exupéry, tác phẩm đầu tay
cuốn L’Aviateur (Người Phi Công) và Vol de Nuit (Bay Đêm)
với nhiệm vụ phi công, cảm hứng từ những chuyến bay của
chính tác giả đã đóng góp cho nền văn học Pháp khi nhận giải
thưởng của Viện Hàn Lâm Pháp năm 1939... Người lính Nhảy Dù
Hà Huyền Chi cũng cảm nhận cuộc đời binh nghiệp từ những
cánh dù khi phục vụ trong binh chủng để sáng tác thơ. Và, từ
đó đã đi vào nền Văn Học Nghệ Thuật trải dài qua nhiều thập
niên.
Hà Huyền Chi tên thật là Đặng Trí Hoàn,
sinh ngày 21/12/1935 tại Hà Nội. Năm 1954, ông di
cư vào Nam một mình.
Năm 1957, nhập
ngũ Khoá 14 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Tốt nghiệp với cấp
bậc thiếu uý, Trung đội trưởng thuộc Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.
Năm 1973 giải ngũ với chức vụ [cấp bậc]
thiếu tá ở Cục Tâm Lý Chiến.
Năm 1975 sang Mỹ và cư ngụ tại tiểu bang Washington cùng gia đình.
Thi phẩm đầu tay của ông là “Saut Đêm” xuất bản vào năm
1963. Bắt đầu nổi tiếng với bài đầu tiên được đăng trên báo
Chiến Sĩ Cộng Hòa: “Không Gian Vương Dấu Giầy”. Ngoài
bút hiệu Hà Huyền Chi còn có các bút hiệu khác như
Mậu Binh, Hồ An, Mã Tử, Hạc Bút Ông...
Hà Huyền Chi đã hoạt động trên nhiều lãnh vực Văn Học Nghệ Thuật và đã chiếm được
nhiều giải thưởng:
– Giải Phóng Sự Tiền Phong (1967)
– Giải Văn Học Nghệ thuật bộ môn Thơ (1971)
– Giải Tượng
Vàng (1972)
– Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc bộ môn
Điện Ảnh (1974).
Các tác phẩm (thơ và truyện) đã xuất bản:
– Saut Đêm (1963),
– Khu Vườn Chim Sẻ (1970),
– Những Nụ Gai Mòn (1970),
– Rừng Ái Ân (1970),
– Vũng
Tối Đầy (1970),
– Còn Gì Cho Anh (1971),
– Bước Đam Mê
(1971),
– Mưa Đêm Trong Chiến Hào (1971),
– Thằng Thái
Bình (1974),
– Trên Cánh Đồng Mây (1975),
– Cho Mặt
Trời (1975),
– Tên Nô Lệ Mới (1979),
– Như Đá Ngàn Năm
(1981),
– Cõi Buồn Trên Ta (1984),
– Đời Bỗng Dưng
Thừa (1987),
– Hành Trình 30 Năm Thơ Hà Huyền Chi (1988),
– Thơ Đen (1991),
– Thơ Kẽm Gai (1994),
– Tháng Một
Buồn (1994),
– Thơ Trong Da Ngựa (1995),
– Một Túi
Bình Sinh Một Túi Thơ (1996),
– Đồng Thiếp (1996),
–
Bão Đầy (1998),
– Bên Trời Mài Kiếm (thơ song ngữ
Anh–Việt) (1999),
– Sóng Ngầm (2003)...
Thơ Hà Huyền Chi được phổ nhạc nhiều nhất, khoảng 400 bản nhạc phổ
thơ từ 48 nhạc sĩ trong đó nhiều nhất là nhạc sĩ Mai Anh
Việt, với 70 bài. Nhưng nhạc phẩm được nhiều người ưa thích
nhất là bài “Lệ Đá” do Trần Trịnh soạn nhạc và ông đặt lời,
và bài “Goá Phụ Ngây Thơ” do Trần Thiện Thanh phổ nhạc sau
này.
Ca khúc Lệ Đá của Trần Trịnh với lời Hà Huyền
Chi ra đời năm 1967, 68 được phổ biến rộng rãi và đi vào
lòng người thưởng ngoạn. Có lẽ đây là nhạc phẩm với mỗi lời
ca mang theo hình ảnh người tình kéo dài một phần tư thế kỷ,
HHC nói về sự hình thành nhạc phẩm:
“Chúng tôi kéo
nhau lên đài phát thanh Quân Đội, Trần Trịnh ngồi vào piano.
Và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất
ngây dịu nhẹ đó, rất Pianissimo ấy. Melody thật tha thiết,
ngọt ngào, bắt nhĩ. Khi ấy Đông đã kéo Dzương Ngọc Hoán qua
và Hoán khen bản nhạc này không tiếc lời, khiến tôi có ngay
quyết định giúp Trần Trịnh. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần
nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hưởng của bản nhạc.
Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất
của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng, là không biết bằng cảm hứng
nào đó, tôi đã hòa được cái rung cảm đích thực của thơ tôi
vào nhạc Trần Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn. Anh và
Hoán cùng hân hoan hát Lệ Đá khiến tôi cũng choáng ngợp
trong niềm vui.
Lập tức tôi viết lời 2. Buổi trưa
nắng gắt, dưới mái tôn thấp lè tè của quán cơm lính trong
trại. Trên chiếc bàn bọc nhôm nóng bỏng, cáu bẩn, tôi thả
hồn bay với Lệ Đá. Tôi viết thật dễ dàng, và khóc cũng dễ
dàng với lời 2 này.
Tôi cứ vừa viết vừa khóc thế đó,
như khi ngồi chép lại những dòng này. Tôi bỏ dở bữa ăn, đem
lời 2 lên đài phát thanh Quân Đội gặp Nhật Trường trước
phòng vi âm. Tôi đưa Lệ Đá ra khoe, Nhật Trường hát ngay với
nỗi hân hoan bốc lửa. Hắn túm ngay lấy Trần Trịnh đòi soạn
cấp kỳ hoà âm cho ban nhạc và 2 bè khác cho Mai Hương, Như
Thủy ca. Khoảng nửa giờ sau Lệ Đá được thâu cấp kỳ. Nhật
Trường, Mai Hương, Như Thủy, mỗi người trên tay một bản Lệ
Đá ‘mì ăn liền’ say mê hoà ca với nỗi xúc động đồng thiếp.
‘Take one Good take!’ Hát và thâu hoàn chỉnh ngay lần thứ
nhất.
Nhật Trường như bay ra khỏi phòng vi âm ôm lấy
tôi và Trần Trịnh...
Khi ấy tôi viết thêm lời 3 cho
Lệ Đá khi đi công tác ở Sóc Trăng, Cà Mau. Nơi Rừng Mắm của
Bình Nguyên Lộc với muỗi mòng dễ nể. Nhà văn Bình Nguyên Lộc
dọa, chỉ cần quơ tay một cái là đã túm được cả chục con
muỗi. Bạn bè hăm, trâu bò còn phải ngủ trong mùng. Khách sạn
tỉnh lẻ không khá gì hơn mấy quán trọ trong phim Anh Hùng Xạ
Điêu, Cô Gái Đồ Long. Thực khách vừa nhâm nhi, vừa quơ
chưởng, đuổi muỗi. Mới chập tối, tôi đã chui vô chiếc mùng
thố. Và buồn tình tôi viết lời Lệ Đá 3 (tháng 9 năm 1968)...
Chiều 27/4/1975 tôi còn cái hẹn với người tình Khánh
Liên ở Thị Nghè. Tình hình thời cuộc lúc đó biến chuyển cực
nhanh, nên tôi không đến được với Khánh Liên, tôi đã không
thể thu xếp để tới chỗ hẹn, nói lời từ giã cuối cùng với
nàng. Nỗi buồn đeo cứng lấy tôi. Khi ngồi nín thở dưới hầm,
khi rán ngoi nhìn mặt sông Lòng Tảo lần cuối. Nhìn mặt sông
cuồn cuộn đau, khi thấp thoáng nghĩ ngàn dặm sẽ chia lìa
cùng Sài Gòn, quê hương, và người tình Khánh Liên...
Nên bài lời 4 này khởi viết từ tháng 4 và được hoàn chỉnh
vào tháng 7/1975...
Lệ Đá lời 5 ở hải ngoại. Năm
1992, tôi đắm hồn vào một tình yêu mới. Nàng đến với tôi như
một tiểu muội thứ thiệt. Rồi tôi đổ đốn đâm ra yêu tiểu
muội, qua một phân thân của nàng là Nguyệt Lãng (sóng
trăng)... Tôi xa nàng từ 1993. Dù cái tình của chúng tôi vẫn
là ngàn đời chẳng thể chia xa. Và từ tháng Mười 1992 đến
tháng Chạp 2002, đã là hơn 10 năm vèo qua trong thân tình,
chúng tôi vẫn chưa hề giáp mặt nhau, dù chỉ một lần. Dù tôi
đến Cali nhiều bận. Rất nhiều bận. Không gặp, phải chăng là
cố gắng phi thường của chúng tôí. Để giữ cho tình mãi đẹp.
Cho dù, những năm sau này, tiểu muội của tôi đã trong tình
trạng không còn ràng buộc bởi hôn nhân.”
*
Trong bài viết “Mãi Mãi Hà Huyền Chi, Người Tình Son Trẻ”
của Việt Hải, tổng hợp các bài viết của văn hữu, trích những
dòng chia sẻ về nhà thơ:
“... Tôi biết tên anh Hà Huyền Chi vào thời tao loạn của quê hương, khi mà sách sử
ghi nhận những năm miền nam rơi vào thời kỳ hỗn loạn nhất,
1964 đến 1968. Và rồi cũng cùng khoảng thời gian đó bài ‘Lệ
Đá’ được công chúng thời ấy đón nhận vô cùng nồng nhiệt, vì
bản nhạc có lời ca rất thơ mộng tỏa nét kiêu sa, trong sự
nhịp nhàng theo âm vận, cung điệu và tiết tấu trầm bổng thật
du dương.
Anh viết bài ‘Thi Trung Hữu Nhạc Hay Tương Quan Giữa Thơ và
Nhạc’ như sau: ‘Thi
trung hữu họa và Thi trung hữu nhạc là điều hiển nhiên không
ai có thể phủ nhận được. Cổ nhân đã nói thơ, ngâm thơ, hoặc
hát thơ từ trước khi loài người phát minh ra văn tự nhạc cụ
và nhạc thuật. Tôi đến với nhạc bằng cảm tính nhiều hơn là
nhạc lý. Dù vẫn thường để tâm học hỏi thêm, nhưng sự hiểu
biết của tôi về nhạc, vẫn không đi xa hơn lãnh vực cảm tính
này’
”.
* Khi được hỏi về người nhạc sĩ nào đã phổ nhiều thơ anh nhất
thì anh cho biết đó là nhạc sĩ Mai Anh Việt (MAV) với 70
bài.
HHC còn cho biết thêm: “MAV thích thử thách,
muốn phổ những bài khó khăn, gai góc nhất và MAV có thói
quen là phổ nguyên văn bài thơ, rất hiếm khi phải cắt xén.
Và những bài thơ khó nhai, khó nuốt ấy đã trở thành một
trong những ca khúc đắc ý nhất của MAV. Kinh nghiệm là những
bài thơ càng trúc trắc thì khi vào nhạc lại càng trầm bổng,
bay múa hơn... Thế nhưng hầu hết các nhạc sĩ đều tránh né
đưa vào nhạc những bài thơ khúc mắc, đòi hỏi nhiều dụng công
ấy. Kinh nghiệm là để có thể phổ nhạc, bài thơ nên dài tối
thiểu là 4 đoạn”.
Một điểm son mà HHC đã tạo được cho
chính mình là kinh nghiệm và đôi khi HHC tự hát trong đầu
một thể điệu nào đó khi làm thơ. Và tự anh đã chuốt gọt, hay
hoán chuyển các thi ngữ cho êm ái thuận miệng, thuận nhĩ
hơn. Do đó lúc sau này, hầu hết những bài thơ HHC đều có thể
phổ nhạc dễ dàng vì anh đã cho họ khung nhạc hướng dẫn
trước. (Và có nhiều bài đã được 3, 4 nhạc sĩ soạn thành ca
khúc.)
* Khi HHC được hỏi: “Nếu phải lựa 10 bản nhạc
hay nhất, phổ thơ anh thì sẽ là bài nào?”
HHC: Những
bản nhạc phổ thơ tôi, được tôi yêu thích nhất, chưa hẳn đã
là những bản hay nhất mà tôi có. Đôi khi sự thưởng ngoạn tôi
bắt nguồn từ một cảm xúc riêng tư nào đó. Bởi hầu hết thơ
tôi được hình thành từ đãi lọc những chất liệu có thật trong
đời sống, trong kỷ niệm vui buồn. Đôi khi cũng có những vay
mượn từ tâm trạng người khác, như ở thể loại thơ tình nước.
Những thảm trạng tù đày, vượt biển mà tôi chưa từng kinh
qua. Tuy nhiên, tôi chưa hề cường điệu hô hào người khác
xung phong lên tuyến đầu để quang phục quê hương, nếu hôm
nay tôi còn ngồi trong cõi bình yên.
Thơ tuyên truyền
cũng được, thơ khẩu hiệu cũng được, nhưng người làm thơ nên
tự trọng và lương thiện với chính mình. Nếu có một khẩu hiệu
trong thơ tôi, thì chính là câu: ‘Follow Me’ như chúng tôi
học được nơi quân trường.”
Khi đi vào khu rừng sâu thăm thẳm của thi ca HHC, người ta càng thấy cái dũng khí
trong lời thơ của người lính Nhảy Dù, cái khí phách sinh
động của chí nam nhi mà HHC đã cho vào thi ca như:
“Ta hết ta là thuở khuấy trời
Đạp sao cưỡi gió mộng như
đời
Cơm bầu rượu ống mà thanh thản
Mũ Đỏ như hồn rạng
rỡ phơi...”
HHC là một người mang nét nghệ sĩ tính,
bề ngoài của anh có dáng vẻ phong trần, lả lướt, lãng tử, và
bất cần đời như bao vần thơ Mậu Binh mà tôi đã đọc. Mậu Binh
theo trường phái Vị Xuyên, Tú Xương, của thi ca tinh nghịch,
thi ca tiếu lâm, và trào lộng khi nhìn cuộc đời. Tuy vẻ bên
ngoài như vậy, nhưng HHC mang nội tâm của một người chồng,
người cha tuyệt vời khi tôi được tiếp chuyện với chị Quý
Hương. Anh vẫn tri ân tình nghiã vợ chồng nồng nàn qua thi
ca và đậm đà trong cuộc sống... Hai anh chị có với nhau 5
cháu, với 4 gái và một cậu út. Không ra ngoại lệ của nhiều
người cha thi sĩ, anh làm thơ dặn dò con cái. Ví dụ như
trong bài “Di Chúc Cho Con”:
“...
Con yêu dấu, nếu
ngày mai bố chết
Đừng xót xa cho kiếp bố nhục nhằn
Khóc vừa đủ cho một lần vĩnh biệt
Bố lìa đời không một
chút ăn năn...”
HHC trao cho con một di chúc quê hương, một tiếng lòng thổn thức của kẻ sĩ phu, không tròn nợ
quốc gia đại cuộc, thì một lòng vẫn mãi mãi trung trinh với quê hương:
“... Con yêu dấu, nếu ngày mai bố chết
Hãy hiểu rằng ta sống gửi thác về
Cuốn phim buồn vừa
chiếu xong đoạn kết:
‘Những mảnh đời trôi nổi khát khao
quê.’”
HHC viết lên lời tâm sự, nỗi lòng nhân ngày
30/4/2003 như sau:
“Chiều 30 tháng Tư, 1975, tôi ném
vội tất cả giấy tờ tuỳ thân, như ném lại từng mảnh tim nhục
hờn trên sông Lòng Tảo. Tôi khóc cho mình, cho quê hương,
khóc cho nỗi đau đớn, nhục nhã của kẻ bại binh, dù rằng
người lính miền nam vẫn chưa một lần chấp nhận thua cuộc
trong tâm khảm:
‘Thơ chảy máu suốt phần đời vong quốc
Quê trong lòng như vạn mũi dao đâm...’”
Nỗi lòng viễn
xứ vẫn ám ảnh người lính Nhảy Dù năm xưa, dù người lính nay
tuổi đời đã cao, nhưng hồn vẫn khoác hoa dù trong tâm khảm
để bồi hồi về quá khứ, để xót xa nhung nhớ về cố quốc, như
chuyện tích Tàu xa xưa kể về con ngựa đất Hồ Nam cất cao
tiếng hý nhớ về quang phục cố hương:
“Ngựa Hồ ngóng
gió lưng đồi
Cất cao tiếng hý ngậm ngùi cỏ hoa
Đầu
sông một gã lính già
Ôm cần, câu nỗi nhớ xa buồn gần”
Ở khía cạnh quê hương đất nước thì thi ca HHC vẫn tỏa
đầy một trời thơ cho quê hương, dân tộc. Nhiều bài thơ trong
thi tập “Thơ Trong Da Ngựa” hay “Bên Trời Mài Kiếm” mà anh
đã sáng tác vinh danh Quân Lực VNCH, thơ anh tô điểm cho
chính nghiã sáng ngời của người lính Cộng Hoà miền Nam trong
cuộc nội chiến vừa qua.
Nhận định của nhà thơ Dương
Viết Điền khi anh đọc thơ HHC, bài “Không Gian Vương Dấu
Giầy”:
“Tôi tìm thấy HHC một hình ảnh hào hùng của
người chiến sĩ xuất thân từ quân trường VBQG Đà Lạt, rồi anh
tung cánh hoa dù từ trên không, cái không gian của Việt Nam
quê hương ngạo nghễ, nhưng trong nhọc nhằn vì bom đạn, khói
lửa chiến chinh qua bóng dáng những Thiên Thần Mũ Đỏ:
‘Đêm nay trời đổi gió
Nằm đếm sao trên trời
Đời
những người Mũ Đỏ
Vui nhiều lắm em ơi
Từng chuyến,
từng chuyến bay
Nói lên nhiều thương nhớ
Dù trĩu nặng
vai gầy...’”
HHC cảm thấy chí làm trai hào hùng như
bông dù rộ nở như chinh phục không gian:
“Hoa Dù, Hoa
Dù nở
Lòng trai, lòng trai say
Trời cao vum vút gió
Xóm làng mờ chân mây
Từng chiếc lại từng chiếc
Hoa Dù
nở trong mây
Hồn tôi ai chấp cánh...” –(Không Gian Vương
Dấu Giầy).
Thi ca HHC phảng phất nét oai phong, cái
khí phách hiên ngang, hào hùng của những Thiên Thần Mũ Đỏ,
những chiến binh vào sinh ra tử, xem cái chết nhẹ như tơ
hồng, bài “Sầu Ngụy Trang Che Tủi Hận Đầy Lòng”:
“Mây ngủ giấc hiền trên cánh thiên nga
Sau ngàn dặm thiên di
tìm đất ấm
Dấu giầy nào vương cánh gió bao la
Gã Nhảy
Dù thương quê mài mũi hận”.
Cho những Thiên Thần Mũ
Đỏ đã gục ngã, HHC nhắn gửi tâm sự sắt son hay nỗi lòng
“huynh đệ chi binh”:
“Trong ta son sắt một lời thề
Nuôi cao lửa hận làm gươm súng
Cho một ngày mai quyết trở
về
Hỡi bạn bè ta dưới mộ sâu
Trong tù, trên biển, giữa
giang đầu
Những người ghìm súng nơi rừng thẳm
Ta khóc
xuân này để nhớ nhau”.
“Đọc thơ HHC để nhớ đến những
cánh hoa dù tung bay giữa quê hương, đọc thơ HHC để thấm nỗi
ngậm ngùi, xót xa khi người chiến binh bị bức tử buông súng,
đọc thơ HHC cảm thông với kiếp đọa đày trên vai người dân
Việt Nam”. –(Dương Viết Điền)
Lời nhận xét của nhà
thơ Mạc Phương Đình (MPĐ), San Jose khi đọc thơ HHC như sau:
“Tôi được đọc những dòng thơ của Hà Huyền Chi trên báo
chí, trong những tập thơ đã in, đã được tặng giải Văn Học
Nghệ Thuật năm 1971. Trong thi ca đấu tranh mà một phần lớn
đã phản ảnh mối liên hệ của HHC gắn bó với quân đội VNCH,
thơ anh mang đầy hào khí của những chàng trai nặng trĩu tấm
lòng với quê hương, với tổ quốc, như trong bài ‘Ngày Quân Lực’ là điển hình:
‘Kiếm cung phủ lớp bụi dầy
Vẫn
trong tháng Sáu, một ngày khó quên
Tiếng ồn cắt cỏ nhà
bên
Tưởng đâu xe xích lăn trên Sài Gòn...’
Ngoài
ra, Hà Huyền Chi đã viết lên hàng ngàn bài thơ tình, mượt
mà, óng chuốt, ngọt ngào men tình ái, suốt quãng đường dài,
từ tuổi hai mươi, ba mươi, bốn mươi, cho đến bây giờ, trên
dấu mốc ‘thất thập cổ lai hy’ của cuộc đời, ‘thơ tình Hà
Huyền Chi vẫn tiếp tục chảy ra, tràn lên giấy trắng, vẫn lai
láng những dòng thơ mang niềm ray rứt, băn khoăn với những
âu yếm hay giận hờn, không một phút giây ngập ngừng, biếng
nhoài, mệt mỏi. Tiếng nói, tiếng gọi tình yêu của thơ Hà
Huyền Chi đã cất lên, vang vọng trên khắp cùng đất trời, vẫn
mãi nồng nàn như hơi ấm phả vào cuộc đời đầy truân chuyên
đau khổ, cho đời sống thăng hoa hơn, vượt lên trong tình yêu
bao la, rộng lớn mang đầy tính nhân bản tuyệt vời’”... –(Mạc
Phương Đình)
Tôi cũng nhận được những cảm nghĩ của
thi sĩ Nghiêm Xuân Cường từ Michigan chia sẻ khi anh viết về
HHC:
“Thi sĩ HHC là một con nguời hào phóng, hết mình
với anh em, hết lòng vì nghệ thuật. Thơ HHC thật dồi dào
phong phú về âm điệu, thể luật cũng như về đề tài mà nhất là
đề tài tình yêu. Chúng tôi cũng rất may mắn đã có duyên và
đuợc sinh hoạt văn nghệ với anh chị HHC vài lần khi còn ở
Seattle, TB Washington. Có lần sau khi chàng dự tiệc về, khi
tôi gọi dây nói chuyện trò ngày hôm sau, thi sĩ HHC tâm sự:
‘Em biết không, hôm qua khi về sau 2 giờ sáng, anh thức làm
thơ luôn tới sáng một hơi mười mấy bài thơ!’. Làm thơ xong,
anh đi làm luôn. Đó là tinh thần yêu thơ của người thơ HHC
đó. Tôi nhớ mãi một bài thơ trong cả ngàn bài thơ của anh,
mà bài nào cũng đầy ắp ý và đúng niêm luật, đó là bài ‘Tan
Tác’ vài đoạn cuối:
‘Quán rượu nằm ven biển,
Đêm mưa lạnh mù trời
Chỗ ngồi quen ai chiếm,
Gã lênh đênh
như đời
...
Xong một đời tỵ nạn,
Tàn một kiếp
thuyền nhân,
Gã say buồn thê thảm
Đêm qua đã từ trần.
Ôi em bé mồ côi
Bị bắt theo hải tặc
Có hay chăng bên
trời
Cha em vừa oan thác
Bên cánh rừng viễn xứ
Thêm
xác người Việt Nam
Ngàn nấm mồ vô chủ,
Chưa biết mùi
khói nhang...’
Chỉ một bài thơ thôi mà cho chúng ta
thấy cái ngậm ngùi đau thương của một kiếp người và cái tình
người bao la trong thơ của người thơ HHC. Bây giờ nếu có thể
tưởng tượng là cái tình người và sự phong phú về ý thơ và
vần điệu ấy được nhân lên vài trăm lần với muôn bài thơ của
HHC thì ta sẽ thấy vuờn thơ của HHC xinh đẹp biết bao nhiêu
nữa.” –(Nghiêm Xuân Cường)
Kế đến là lời đóng góp cho
bài viết do nhạc sĩ Nguyễn Đăng Tuấn tại New Jersey nhận
định về thơ HHC:
“Hà Huyền Chi, thơ anh với tôi như
những dòng thơ quê hương trong cõi đời u uẩn, nhưng nó lại
như dòng suối ngọt ngào mang những tình tự chất ngất yêu
đương trên phương diện tình cảm, anh viết về người bạn đời
của anh mà anh âu yếm gọi là ‘Nửa Kia Ơi’:
‘Chót đã
tiêu hoang nửa cuộc đời
Đừng buồn ta nhé, nửa kia ơi
Cho dù tai tiếng hơn tăm tiếng
Đối diện lương tâm chẳng
hổ ngươi
Chẳng ngán thiên lôi chẳng sợ trời
Rượu chè,
cờ bạc tý ty thôi
Trăng hoa quen thói, em thừa biết
Đời vẫn cùng em đũa có đôi
...
Vẫn câu chung thủy
là tâm niệm.
(Đáy sóng mò trăng có lúc thôi)
Cung kiếm
mạt thời, đời mạt kiếp
Chỉ còn em đó, nửa kia ơi!’ –(Hà
Huyền Chi, tập ‘Thơ Trong Da Ngựa’)
Thơ Hà Huyền Chi,
được truyền đi mạnh mẽ, với ca khúc ‘Lệ Đá’ mà anh viết lời.
Hơn thế nữa, anh viết ròng rã cả hằng bốn mươi năm nhiều số
lẻ, từ ‘Không Gian Vương Dấu Giầy’, cho đến các bài thơ được
mang đều đặn lên Net ngày hôm nay, hầu như mỗi tảng sáng sớm
chúng tôi nhận đều đặn một hay hai bài thơ mới từ anh. Sáng
nay tôi lại tìm thấy ‘Mai Này Núi Gọi Sông Thưa’:
‘Lưng chiều thả nhớ về em
Thả dòng khói lãng bay lên đỉnh
sầu
Mai này đời mãi bên nhau
Bao xa cũng tới bao lâu
cũng chờ
Mai này núi gọi sông thưa
Để ta làm gió làm
mưa với tình.’
HHC viết lên những dòng thơ phản
kháng, chống đối cộng sản hiên ngang như cái thuở tung hoành
ngang dọc của ‘Không Gian Vương Dầu Giầy’, của hồn binh lửa
chinh chiến ghi dấu quân hành, song song bên cạnh đó HHC cho
thấy hồn lãng mạn của con tim son trẻ qua hàng trăm bài tình
thơ mà tôi có dịp xem qua, tôi vẫn biết nhà thơ này vốn có
nhiều thơ hơn là số thơ tôi đã xem, và nguồn thơ sẽ còn
nhiều như mỗi sáng sáng trong các forums bạn bè vẫn có dịp
thưởng lãm cái nguồn thơ hình như cảm hứng vô tận của nhà
thơ vẫn mãi mãi, HHC son trẻ và đậm đà mà tôi có hân hạnh
được ghi đôi dòng về anh...” –(Nguyễn Đăng Tuấn)
Một người bạn thơ khác vốn thích thơ HHC qua những vần thơ về
tình cảm cũng như về quê hương trong chiến tranh, anh Trang
(Peter) Morita đã nhận xét về HHC như sau:
“Tôi
thường xem thơ của anh Hà Huyền Chi trên các báo chí thuở
Sài Gòn của những năm dầu sôi lửa bỏng 67, 68.. Tôi bắt gặp
anh cưỡi chiếc xe Rumi vàng rất phong trần, lang bạt như
chất thơ của người lính dù HHC. Ngoài bản nhạc ‘Lệ Đá’ nhạc
của Trần Trịnh mà lời do HHC đóng góp, tôi còn nhớ nhạc sĩ
Trần Thiện Thanh đã phổ nhạc phẩm vô cùng thương tâm ‘Goá
Phụ Ngây Thơ’, do thơ Hà Huyền Chi. Mời các bạn lắng nghe
lời thơ bi thương khi người lính không muốn thấy người tình
của mình sớm trở thành người goá phụ ngây thơ mang tang
chồng theo vận nước nổi trôi:
‘Đà Lạt lạnh môi em vừa
đủ ấm
Bởi chia ly nên đẹp chuyện tương phùng
Con dốc
nhỏ hoa anh đào lấm tấm
Lối sỏi mòn hai đứa đã đi chung
Em nhẩm tính trên lóng tay tháp bút
Là cách xa biền biệt
tháng năm trôi
Tuổi trẻ ơi sao quá nhiều nước mắt
Chiến tranh ơi bóng tương lai mịt mù.’”
Người lính
dẫu thương người tình bé nhỏ đậm đà, nhưng anh không muốn
biến tình yêu thành một định mệnh nghiệt ngã:
“Đơn
xin cưới, một tờ đơn xin cưới
Anh thảo rồi, anh lại xé em
ơi
Bởi không muốn thấy người yêu nhỏ bé
Một sớm nào,
thành góa phụ ngây thơ
Nên đơn cưới, một tờ đơn xin cưới,
Anh viết rồi, rồi anh lại xé em ơi.”
Người lính thảo
đơn xin cưới xong, rồi chính tay anh lại xé nát con tim vì
không muốn làm khổ đời người yêu. Như vậy có phải chăng thơ
HHC đã nói lên cái đau khổ cho tuổi trẻ yêu nhau trong cái
thực tế quá oan khiên của một dân tộc trong thời chinh chiến
điêu linh?
... Xuyên qua những nhận xét của các thi,
văn, nhạc hữu có những cái nhìn về thơ HHC từ nhiều góc cạnh
khác nhau, ta thấy rằng thơ Hà Huyền Chi thể hiện nét nhân
bản, chân chất trong thơ anh... thơ Hà Huyền Chi là cái mốc
thời gian nhắc nhở thuở Nam Bắc phân tranh, mà lời bài hát
hay bài thi ca này do người thi sĩ Thiên Thần Mũ Đỏ cũng đã
viết lên những bài thơ độc đáo với “Saut Đêm”, với “Không
Gian Vương Dấu Giầy”...
Bao nhiêu ân tình HHC dành
cho quê hương đất nước, bao nhiêu ân tình thơ HHC dâng hiến
cho đời, gia đình anh không quên anh, bạn bè anh không quên
anh, người ái mộ thi ca HHC không quên anh, và quê hương
Việt Nam sẽ không bao giờ quên người thi sĩ mà tôi xin phép
được gọi là:
“Mãi mãi Hà Huyền Chi, người tình son trẻ.
Mãi mãi Hà Huyền Chi, người lính không già”.
Xin cám ơn người thi sĩ màu áo hoa rừng, dù rằng anh đang
tung cánh dù trên không trung hay đang cưỡi chiếc Rumi vàng
của một thuở dấu yêu Sài Gòn năm cũ, chính anh đã đem cho
đời qua sự đóng góp những áng thi ca đã làm thăng hoa thêm
cho vườn hoa văn học Việt Nam.
“Một lần nữa chúng tôi
xin chân thành cám ơn anh...” –(Việt Hải, Los Angeles).
*
Hà Huyền Chi chia sẻ tâm tình:
“Tôi chọn
Nhảy Dù, màu mũ đỏ dễ thương. Chọn gian khổ làm đầy thêm
nghĩa sống... Xa trường mẹ mới thấy hồn chao động. Nhớ gì
đâu từng kỷ niệm buồn vui. Gặp lại đệ huynh trong binh lửa
rực trời. Thấy thân thương hết nói.
Tôi đánh giặc,
làm thơ. Tôi yêu cuồng sống vội. Nhảy Dù, nhảy đầm, đời khật
khưỡng say. Bài thơ đầu tay: ‘Không Gian Vương Dấu Giầy’.
Đời rộng lượng biến tôi thành thi sĩ. Tôi, Hà Huyền Chi,
viết không ngưng nghỉ. Thơ giòn như súng tiểu liên. Tôi bập
bỗng thơ khi bước giữa bãi mìn. Mê viết lách, tôi nhảy về
báo chí. Rồi phát thanh, điện ảnh tận vui. Cũng đóng 8 phim,
cũng đạo diễn một thời. Rồi ấn họa cho đủ mùi tạp lục.
Tháng Tư đen với đáy cùng đớn nhục. Tôi giạt sang Mỹ
quốc cầu an. Tôi đọa đày tôi. Thiếu tá lao công. Thi sĩ bồi
bàn. Rồi kế toán, cộng trừ mạt kiếp. Gia tài mang theo là
một trời quê hương tưởng tiếc. Tám chuyện dài như chứng tích
bi thương. Lệ khô rồi còn nhức nhối đường gươm. Thơ lại bắn
từ trái tim nứt rạn. 24 tập thơ vẫn dư sức đạn. Từ thơ là
nhạc, hơn 400 phổ bản. Hơn 40 nhạc sĩ góp phần. Kỷ vật cho
đời là Lệ Đá, phù vân.
Cám ơn trời ban chút xíu hồng
ân. Cám ơn vợ cho nồng nàn tương cảm. Ơn Đồng Minh cho mũi
dao lút cán. Cám ơn em cho nước lớn sông dài. Cám ơn đời còn
đẹp lúc chiều phai”.
Nhà thơ Hà Huyền Chi nay đã vào
tuổi bát tuần, từ bài thơ đầu tiên trong binh chủng Nhảy Dù
xuất hiện trên bán nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa năm 1960...
đến những ngày xa xứ với tấm lòng của người lính ngậm ngùi
cho quê hương... ông vẫn sáng tác đều đặn. Thời gian sau này
không in thành tác phẩm mà chỉ phổ biến trên trang web và
internet. Là người lính hào hoa, là nghệ sĩ đa tình lãng mạn
nhưng ông có được cảm thông để cùng nhau đi hết cuộc đời.
Little Saigon, Feb 2018
Vương Trùng Dương
nguồn: tống phước hiệp đót com

Phụ
lục
CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN NHẢY
DÙ

Tôi nhớ mãi nét hào hùng binh chủng
nhớ những ngày đầu nhập trại Hoàng Hoa
thấp thỏm chờ đợi lệnh Phòng Ba
mong cho chóng có tên đi học nhảy.
Màn mở đầu là màn thi chạy
rồi nhảy dài, hít đất kéo xà ngang
rồi... kéo dây, nhảy xổm thập bát ban
phần sức khoẻ dĩ nhiên là qua thoát!
Màn kế tiếp ba tuần liền dưới đất
tập chuồng cu, kéo gió, chống dù lôi
đài mười một thước, rồi nhảy, nhảy chuồng cu!
thì... cũng kệ... nghe GO... nhắm mắt phóng...
Tuần lễ cuối... mới là tuần gay cấn
nhảy sô đầu C47 hom hem
chị Vui chơi khó đem mấy em thật đẹp
đèn xanh bật mấy em GO mất hút...!
em GO được, chẳng lẽ mình không được?
dây SOA dài thót ruột... chết cha...
ầm ầm... rồi im lặng dù mở to
mới sực nhớ mình “quên” đâu có đếm.
Sô thứ hai nhảy C119
quan tài bay mà tụi Mỹ nó chê
từ sô thứ bốn ta GO ngon ra phết
mần sáu sô... khoá dù nào đã hết.
Nghỉ một ngày... dưỡng sức nhảy sô đêm
C123 gầm thét phóng vụt lên
qua khung cửa đèn Sài Gòn hoa lệ
máy bay vào vùng... mới bắt đầu thấy ngại
(bãi đáp, khói màu, quen thuộc của tôi đâu?)
bên ngoài cửa phi cơ đen nghịt một màu
hồi hộp thế... nghe GO... là tôi phóng
đếm đến 333 nhìn lên tôi khám
T–Mười nở tròn... che khuất một vòm sao
hít một hơi dài... ôi! phẻ phổi biết bao
đáp gọn phát nữa... tôi Thiên Thần Mũ Đỏ!!!




thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tkd đọc báo, trình bày & ấn loát
Đăng ngày
thứ Ba, November 18, 2025
tkd . Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH