
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Trang Ẩm–Thực
Chủ đề:
trà
Tác giả:
Bùi Quý Chiến

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Ngày xưa nước giải
khát phổ thông trong dân gian là
nước vối và
trà [chè] tươi.
Ở thôn quê mỗi nhà thường có vườn trồng cây vối và cây
trà [thơ Nguyễn Bính: Sáng trăng sáng cả vườn chè].
Lá vối được hái hết một lần; lá được nắm trong bàn tay và
được thái ra từng khúc chừng 2–3cm rồi đem ủ một thời gian
cho lên men; sau đó phơi khô và tồn trữ để dùng dần. Khi
uống, người ta nấu một nắm lá vối khô với nước, để sôi thật
kỹ. Ấm nước vối có thể nấu lại lần thứ nhì.
Khác với
nước vối, nước trà tươi được nấu bằng lá trà vừa mới hái
xuống. Lá trà được rửa sạch và vò nhẹ cho dập rồi bỏ vào ấm
nấu sôi. Cũng có cách nấu nước sôi trước rồi mới bỏ trà vào
và nấu lại cho tới khi nước sôi lại. Nước trà này gọi là trà
tươi vì nấu bằng lá trà vừa mới hái trên cây.
Ngoài 2
nước uống kể trên, những gia đình giàu có thường uống trà
tàu. Đây là lá trà được chế biến thành trà khô, khi uống chỉ
cần pha với nước sôi. Có lẽ loại trà này được nhập từ nước
Tàu nên gọi là trà tàu.
Ngày nay hầu hết người mình
đều uống loại trà này vì tiện lợi và nhất là vì khoái cảm do
nước trà đem lại.
Nguồn gốc và phát triển
Tất
cả sản phẩm chân thật từ trà đều xuất xứ từ một chủng loại
duy nhất có tên khoa học là camellia sinensis. Các sản phẩm
này khác nhau do cách chế biến khác nhau chứ không phải do
chủng loại khác nhau như quảng cáo khiến nhiều người lầm
lẫn.
Nguồn gốc trà có lẽ từ biên giới Miến Điện và
Tầu. Các sắc tộc bản xứ ở vùng này tới nay còn dùng lá trà
như dược liệu.
Theo một đoạn văn cổ về y học của danh
y Tầu là Hoa Đà [Hua Tuo] TK3TL, lá trà là một vị thuốc.
Đời Đường, nước trà là nước uống giải trí rất rộng rãi
trong dân gian. Lá trà được hấp [steamed] và nén thành dạng
bánh [cake form].
Đời Tống, lá trà được chế biến rời
[loose leaf].
Đời Nguyên và Minh, lá trà được sấy khô
trong chảo [pan dried] cho quăn lại rồi phơi khô kiệt.
Vào TK16, các giáo sĩ Bồ đào nha và các thương gia nhập
trà từ Tầu vào châu Âu.
Trong TK17, cách uống trà trở
thành kiểu thức riêng của người Anh và họ trồng trà rộng rãi
ở Ấn độ, phá vỡ độc quyền về trà của Tầu.
Ngày nay
trên thế giới có 45 quốc gia trồng trà. Cây trà mọc tự nhiên
có chiều cao chừng 2m. Để đạt năng xuất cao, người ta trồng
khít nhau thành luống dài nên cây trà chỉ cao chừng 1m,
thuận tiện cho người hái trà.
Các sản phẩm của trà
Trên thế giới ngày nay có 6 sản phẩm trà do 6 cách chế
biến [processing] khác nhau:
trà xanh,
trà vàng,
trà trắng,
trà ô long,
trà đen,
và trà Pu’er.

Các công
đoạn chế biến trà
Chế biến trà gồm 7 công đoạn, có
công đoạn dùng chung cho cả 6 sản phẩm, có công đoạn áp dụng
cho sản phẩm này mà không áp dụng cho sản phẩm kia.
1. Làm cho lá trà khô héo [withering]:
Lá trà được
trải rộng để lá giảm độ ẩm và trở nên mềm. Chất proteins dần
bị hủy hoại, mùi vị và hương vị bắt đầu thay đổi.
Công đoạn này áp dụng cho cả 6 sản phẩm.
2. Hóa giải
tác dụng của enzyme [de–enzyming]:
Chất enzyme trong
lá trà làm thoái hóa lá trà và ngăn chặn sự oxy hóa tự
nhiên. Để hóa giải tác động của enzyme, lá trà được rang
trong chảo [heating] hoặc hấp [steaming].
Công đoạn
này chỉ áp dụng cho trà xanh, trà vàng, trà ô long, và trà
Pu’er.
3. Oxy hóa [oxidizing]:
Nhằm tăng bề
mặt của lá trà trong khi tiếp xúc với oxy, người ta đảo lộn
[tumbling] và cán [crushing] lá trà. Màu lá trà trở nên thẫm
và hương vị thay đổi.
Công đoạn này chỉ áp dụng cho
trà ô long và trà đen.
4. Ủ [smothering]:
Lá
trà được phủ nhẹ khiến màu xanh của lá đổi ra màu vàng và
hương vị trở nên ngọt.
Công đoạn này chỉ áp dụng cho
trà vàng.
5. Tạo hình dạng [shaping]:
Lá trà
được gấp lại, hoặc xoắn, hoặc cuốn bằng máy thành hình dạng
cong hoặc tròn hoặc phẳng dẹp. Cách tạo hình dạng cũng có
thể làm bằng tay.
Tạo hình chỉ áp dụng cho trà xanh,
ô long, và Pu’er.
6. Làm khô [drying]:
Để trà
được tồn trữ tốt và chuyên chở nhẹ, người ta làm khô kiệt
bằng không khí có nhiệt độ cao.
Công đoạn này áp dụng
cho cả 6 sản phẩm.
7. Cho lên men [fermenting]:
Trà được ép thành bánh tròn dẹp và tồn trữ một thời gian
ít nhất là một năm cho lên men tự nhiên. Càng lâu năm càng
quý và đắt tiền.
Công đoạn cuối cùng này chỉ áp dụng
cho trà Pu’er.
Các hóa chất tự nhiên trong sản phẩm
trà
Trong các sản phẩm trà có 3 hoá chất tự nhiên như
sau:
– Cafeins giúp tập trung tư tưởng và giảm mệt
mỏi tinh thần. Nồng độ cafein của các sản phẩm trà được xếp
hạng từ cao tới thấp: ô long, trà vàng, trà trắng, trà đen,
trà xanh, Pu’er.
–
Catechins giúp thư giãn mạch máu
và cải thiện sự lưu thông máu. Trà xanh và trà vàng có nhiều
catechin nhất, kế đến là trà ô long và trà trắng, ít
catechin hơn cả là trà đen và Pu’er.
–
L–Theanine là
một amino acid hiếm có, chỉ lá trà và một vài loại nấm mới
có, ảnh hưởng tốt tới hệ thần kinh, giúp ngủ ngon và điều
hòa tác động của cafein khi bị quá căng thẳng vì tập trung
tư tưởng. Nồng độ L–Theanine trong các sản phẩm trà được xếp
hạng từ cao tới thấp: trà xanh, trà vàng, trà trắng, ô long,
trà đen, Pu’er.
Các hóa chất tự nhiên kể trên sẽ bị
giảm hoặc mất hiệu quả nếu pha trà với nước có nhiệt độ quá
nóng và hãm trà quá lâu trước khi uống.
Nhiệt độ pha
trà và thời lượng hãm trà được khuyến nghị như sau:
–
Trà xanh: 175°F [80℃], hãm trà từ 1/2 tới 2 phút.
– Trà
vàng: 175°F [80℃], hãm trà từ 2–3 phút.
– Trà trắng:
180°F [82 ℃], hãm trà từ 4–5 phút.
– Trà ô long: 195°F
[90.5℃], hãm trà từ 2–3 phút.
– Trà đen: 200°F [93℃], hãm
trà từ 2–5 phút.
– Trà Pu’er: 195°F [90.5℃], hãm trà 5
phút.
Trà đặc sản Pu’er
Ở Tây–Nam tỉnh Vân Nam
bên Tầu có núi Jingmai với cao độ từ 1.4 tới 1.6 ngàn mét là
quê hương của sắc tộc Blang và một số người sắc tộc Dai. Họ
sống thành 9 làng với dân số chừng 6,000 người và thừa hưởng
từ tổ tiên 5 rừng trà [tea forest] với tổng số diện tích
1,560 mẫu [3,900 acre] gồm 1 triệu cây trà Pu’er.
Trà
Pu’er cũng thuộc chủng loại camellia sinensis nhưng được
trồng từ lâu đời và phát triển tự nhiên nên cao lớn, có
những cây có thân với đường kính 1.2m.
Năm 2023 cơ
quan UNESCO công nhận vùng rừng trà này là Di sản thế giới.
Trà Pu’er đắt 6.5 lần hơn các sản phẩm trà khác. Năm
2024 một bánh trà nặng 457g [12.6 ounce] giá 330 USD.
Người Blang tin rằng mỗi cây trà đều có thần linh bảo
vệ, mỗi gia đình chọn lựa một cây cao lớn để thờ phụng và
cầu nguyện.

Sở thích của người
Việt nam
Phần lớn người Việt chúng ta ưa
chuộng trà xanh. Trà này ít công đoạn chế biến nên giữ được
2 hóa chất thiên nhiên hữu ích:
–
Catechin giúp tim mạch khỏe mạnh.
– L–Theanine giúp điều
hòa hệ thần kinh.
Có lẽ 2 chất này tạo
dư vị đắng nhưng thanh nơi cuống họng sau khi uống.
Bùi Quý Chiến
(Đặc San Lâm Viên)
nguồn:
đặc san lâm viên

thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch


|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by đslv chuyển
Đăng ngày Thứ Tư, June 11, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH