

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tùy bút
Chủ đề:
xuân đinh dậu nhớ về MT–68
Tác giả:
Tiến sĩ Trần An Bài

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

Lời giới thiệu:
Nhân kỷ niệm 45 năm biến cố Tết
Mậu Thân 1968, người Việt quốc gia hẳn không bao giờ quên những
cảnh tượng tang thương đẫm máu do cộng sản Bắc Việt gây nên.
Riêng ngành Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa (CSQGVNCH), có
một câu chuyện thật, thật 100%. Câu chuyện ấy vang lừng khắp thế
giới. Và, được kết thúc với nhiều đau thương, nghiệt ngã. Sau
đó, kéo tới việc “người bạn đồng minh” Hoa kỳ bán đứng và VNCH
bị bức tử; hàng triệu người Việt nam đã phải bỏ nước ra đi tỵ
nạn CS tại các quốc gia Tự do trên khắp thế giới, và hàng vạn
quân, cán, chính VNCH phải trải qua bao nhiêu năm tháng tù đày,
tủi nhục... trong các trại giam trá hình dưới mỹ từ “trại tập
trung cải tạo”.
Câu chuyện thật nêu trên về “Tướng Nguyễn
Ngọc Loan Trong Biến Cố Tết Mậu Thân”. Kính mời quý độc giả cùng
theo dõi.–kd
1. Tết Mậu Thân 1968
Mịt Mù Khói Lửa
Bằng Hiệp Ước Genève năm
1954, các cường quốc trên thế giới đã chia cắt nước Việt Nam
thành hai lãnh thổ với hai chế độ chính trị hoàn toàn khác
nhau về ý thức hệ: Miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa, theo khối cộng sản quốc tế. Miền Nam là nước Việt Nam
Cộng Hòa theo khối Thế giới tự do.
Tuy nhiên, ngay
khi ký Hiệp Ước, miền Bắc đã có kế hoạch xâm chiếm miền Nam
bằng võ lực. Họ gài cán bộ để hoạt động du kích, chôn mìn,
đặt bàn chông, tấn công quân đội VNCH và tiêu hủy các làng
mạc của dân chúng miền Nam. Sau đó, họ thiết lập đường mòn
Hồ Chí Minh dọc biên giới Lào–Cao Miên để chuyển quân và võ
khí, đạn dược từ miền Bắc vào Nam.
Cuối năm 1967, khi
quân đội Hoa Kỳ đã gửi đến Nam Việt Nam khoảng 500 ngàn
quân, Bắc Việt muốn chọn Khe Sanh làm địa điểm giao tranh
thư hùng giống như mặt trận Điện Biên Phủ năm xưa. Đồng
thời, Bắc Việt cũng muốn dùng mặt trận Khe Sanh để che giấu
kế hoạch tổng công kích trên toàn lãnh thổ VNCH vào dịp Tết
Mậu Thân 1968 để phô trương lực lượng.
Vì hai Đại
tướng Bắc Việt Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp bất đồng
quan điểm về trận chiến miền Nam, nên Đảng cộng sản giao cho
Đại tướng Thanh chỉ huy mặt trận miền Nam, còn Đại tướng
Giáp chỉ huy mặt trận miền Bắc.
Ngày 6/7/1967, đang
khi chuẩn bị cuộc tấn công VNCH, Đại tướng Thanh bất ngờ qua
đời. Bắc Việt loan tin là ông chết vì bệnh tim ở Hà Nội,
nhưng sau đó, báo chí Tây phương xác nhận Tướng Thanh chết
vì trúng bom của Hoa Kỳ. Cũng có tin là ông bị thanh toán
nội bộ. Sau đó, Tướng Giáp được Đảng cộng sản chỉ định tiếp
tục lập kế hoạch tấn công lớn vào dịp Tết Mậu Thân.
Như các năm trước, vào các dịp Tết và lễ lớn, hai miền Nam
Bắc đều đồng ý hưu chiến trong ít ngày. Dịp Tết Mậu Thân năm
1968, Bắc Việt đề nghị hưu chiến 7 ngày, nhưng VNCH chỉ đồng
ý 3 ngày. Tin tưởng vào lệnh hưu chiến này, 50% quân nhân
miền Nam được phép về gia đình ăn Tết. Chính Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu cũng rời Sài Gòn về Mỹ Tho để mừng Tết ở
quê vợ. Trong khi đó, quân đội miền Bắc bất chấp lệnh hưu
chiến, ngày đêm chuyển quân và vũ khí để chuẩn bị xâm lăng
miền Nam.
Giữa không khí linh thiêng của ngày Tết Mậu
Thân, mọi người lũ lượt đến chùa và nhà thờ để cầu nguyện
bình an cho Năm Mới. Tiếng pháo và múa lân mừng Xuân của
miền Nam bỗng dưng bị pha trộn bằng tiếng súng của cộng sản.
Nhà cửa bốc cháy hòa lẫn tiếng đàn bà con nít khóc lóc thảm
thương!
Bắc Việt đã tung vào trận đánh Tết Mậu Thân
80,000 lính từ miền Bắc vào, cùng với tất cả các lực lượng
du kích và đặc công trong thành phần Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam để tấn công 36 trong số 44 tỉnh miền Nam và 6 thị
xã, cùng với 64 trong số 242 quận lỵ. Các cán binh cộng sản
chỉ được học tập tấn công, nhưng không biết đường rút quân.
Tại những công sự đặt súng lớn, xạ thủ bị xích chân vào bàn
súng. Điều này chứng tỏ cộng sản quyết tâm tử chiến: thắng
thì sống, thua thì chết.
Đêm 30 rạng ngày 31/1/1968
DL (tức đêm mồng Một rạng mồng Hai Tết), Sài Gòn bị tấn công
tại nhiều địa điểm quan trọng, như phi trường Tân Sơn Nhất,
Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH, đài phát thanh Sài Gòn, Tòa
Đại Sứ Hoa Kỳ, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Dinh Độc Lập phía đường
Nguyễn Du...
Thực sự, cộng sản đã chiếm được đài phát
thanh Sài Gòn và đài này đã bị tắt tiếng một thời gian ngắn,
nhưng Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG đã phối hợp
với quân đội để tái chiếm đài phát thanh và đã không hề có
một bài hát hay lời tuyên truyền nào của Bắc Việt kịp phát
đi từ làn sóng của đài phát thanh Sài Gòn.
Ký giả Don
North của hãng NBC có mặt tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ lúc quân đội
Bắc Việt tấn công đã kể rằng: Vào lúc 2g45 sáng ngày
31/1/1968, 19 đặc công cộng sản đeo băng đỏ trên cánh tay
dùng chiếc xe hơi Peugeot và taxi chạy thẳng vào cổng tòa
Đại Sứ và nổ súng. Họ đã chiếm được một căn phòng trong tòa
Đại Sứ, nhưng lực lượng canh gác phản công. Phía Hoa Kỳ, có
4 quân cảnh và một lính Thủy Quân Lục Chiến tử thương. Còn
tất cả 19 đặc công đều bị giết chết sau 6 giờ giao tranh.
Cộng sản tưởng rằng khi họ về thành phố sẽ được dân
chúng tiếp đón niềm nở. Nhưng thực tế, cộng sản tới đâu,
người dân đều bỏ chạy. Hơn lúc nào hết, các CSQG đã trở
thành người bạn khắng khít nhất của dân. Họ canh gác nhà
thương để bảo vệ bệnh nhân. Họ giúp đỡ dân chạy loạn và họ
phối hợp với các quân binh chủng chiếm lại từng nhà, từng
tấc đất đã bị Cộng quân chiếm giữ. Vì số lượng dân chúng,
gồm đàn bà trẻ con, bị thương tích quá đông, các bác sĩ và y
tá phải tràn ra các đường phố để cứu cấp. Các thương binh
cộng sản được đối xử rất nhân đạo. Họ được cứu chữa giống
như các thương binh VNCH và dân chúng.
Cố Đô Huế bị thiệt hại nặng
nhất. 12,000 quân cộng sản tiến chiếm Huế vào đêm Mồng Một
Tết. Cầu Trường Tiền bị mìn đặc công giựt sập. Phải mất 26
ngày, quân đội VNCH, với trọng pháo yểm trợ từ chiến hạm Hoa
Kỳ, mới có thể chiếm lại Huế. Nhưng buồn thảm và tang tóc
phủ kín Cố Đô, với trên 7,000 thường dân và cán bộ bị chôn
sống tập thể tại rất nhiều hố [mồ chôn tập thể] rải rắc khắp
hang cùng ngõ hẻm.

2. Tướng Loan Nổ Súng


Sáng ngày mồng Hai Tết, tức ngày 31/1/1968 (DL), Chuẩn
tướng Nguyễn Ngọc Loan đang đích thân chỉ huy trận chiến
khốc liệt tại khu vực Chùa Ấn Quang, Chợ Lớn, góc đường Sư
Vạn Hạnh và Ngô Gia Tự thì hai nhân viên Cảnh Sát dẫn đến
trình diện Tướng Loan một đặc công cộng sản đã giết người
rất dã man trong hai ngày qua. Đó là Đại úy Nguyễn Văn Lém,
tự Bảy Lốp.
Chỉ ít phút trước đó, Bảy Lốp đã giết hại
vợ, các con và thân nhân của một sĩ quan Cảnh Sát VNCH. Theo
tài liệu của ông Lão Ngoan Đồng, vào lúc 4g30 sáng hôm đó,
Nguyễn Văn Lém đã chỉ huy một đơn vị đặc công cùng với xe
tăng của Tiểu Đoàn 2 Cơ Giới VC tấn công trại Phù Đổng của
binh chủng Thiết Giáp ở Gò Vấp. Sau khi kiểm soát được trại
lính, Bảy Lốp bắt giữ gia đình Trung tá Nguyễn Tuấn và bắt
Trung tá phải chỉ dẫn cách xử dụng các xe tăng còn để lại
trong trại. Trung tá Tuấn từ chối, thế là Bảy Lốp giết chết
toàn thể gia đình Trung tá, gồm cả một bà mẹ già 80 tuổi.
Chỉ có một bé trai 10 tuổi tuy bị thương nặng nhưng được cứu
sống.
Nguyễn Văn Lém bị bắt gần một hố chôn tập thể
34 thường dân bị giết. Lém khai rằng y rất tự hào là tác giả
hố chôn tập thể đám người này, vì đã hoàn thành nhiệm vụ cấp
trên giao phó. Lúc bị bắt, Lém mặc quần xà lỏn, áo sơ mi cụt
cánh, hai tay bị trói trặt về phía sau mông, nhưng trong
người vẫn còn đeo khẩu súng lục.
Tướng Nguyễn Ngọc
Loan đã được bá cáo về những hành động giết người dã man của
Nguyễn Văn Lém và chính ông đã hành quyết Nguyễn Văn Lém
ngay tại phạm trường.

Thế là Sáu Lèo đã loại Bảy Lốp ra khỏi cuộc chiến đầy
nước mắt của trần thế!
Nhân chứng Nguyễn Tường Toại
là một thường dân lúc đó kể lại:
“Chính tôi là người đã chứng kiến Tướng Loan bắn
tên cộng sản ấy, tôi biết hắn đã làm những gì. Năm 1968 ở
Sài Gòn, giữa cuộc chạm súng, hắn đẩy trẻ thơ vô tội ra như
là một làn sóng người, để đồng đội tẩu thoát. Trong trận
đánh khốc liệt này, hắn sử dụng trẻ con làm lá chắn, để các
binh sĩ phải thôi bắn... Lúc ấy mọi thứ đang hỗn loạn. Là Tư
Lệnh Cảnh Sát, Tướng Loan khi nhìn xác trẻ con chết, ông
hỏi: ‘Tại sao vậy? Chuyện gì vậy?’ Đến khi biết tại sao mấy
đứa bé chết, biết ai chịu trách nhiệm về hành động này,
Tướng Loan đã nổ súng hạ tên thủ phạm.”
3.
Cuộc chiến Việt Nam sang trang
Yếu tố bất
ngờ luôn luôn được hoạch định trong bất cứ trận đánh nào.
Bắc Việt mở cuộc tấn công vào dịp Tết linh thiêng của VN là
một yếu tố bất ngờ, nhưng tại sao trận tấn công Tết Mậu Thân
đã không diễn ra vào cùng một thời điểm trên toàn lãnh thổ
VNCH? Sau này người ta mới được biết đó là do trục trặc kỹ
thuật từ Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt.>Quân
lệnh về ngày giờ nổ súng trên khắp lãnh thổ Miền Nam được
giữ tối mật. Chỉ có cấp lãnh đạo quân sự cao cấp nhất mới
nhận lệnh viết, còn các cấp dưới chỉ nhận khẩu lệnh. Lệnh đó
như sau: “Đánh vào đêm 30 Tết Mậu Thân”.
Khi hoạch
định cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Bắc Việt đã cảm hứng theo
cuộc Đại Phá Quân Thanh của Quang Trung Nguyễn Huệ chiếm
thành Thăng Long năm 1789. Vua Quang Trung thời ấy đã cho
quân sĩ ăn Tết sớm hơn 3 ngày để rồi mở trận Đống Đa – Ngọc
Hồi đánh đuổi quân Thanh vào đêm 30 Tết năm Kỷ Dậu.
Cũng vậy, Bắc Việt muốn làm lịch sử theo gương Tây Sơn:
“Quang Trung Nguyễn Huệ chiếm Hà Nội đuổi giặc Thanh đêm 30
Tết Kỷ Dậu thì cộng sản Bắc Việt chiếm Sài Gòn đuổi Mỹ–Ngụy
đêm 30 Tết Mậu Thân”.
Một
sự kiện rất đáng chú ý khác là bỗng nhiên, ngày 8/8/1967, Hà
Nội công bố sửa lại Âm lịch, áp dụng múi giờ là GMT +7, khác
với múi giờ của Trung Hoa mà Việt Nam đã dùng từ ngàn năm
trước là GMT +8. Hậu quả của việc này là sẽ có một số năm,
ngày Mồng Một Tết Âm Lịch đi sớm hơn Tết của Trung Hoa. Tết
Mậu Thân 1968 là Tết đầu tiên bị ảnh hưởng do quyết định
này. Thế nhưng, trong lúc miền Bắc sửa lịch thì miền Nam vẫn
tiếp tục theo lịch Trung Hoa, không chịu sửa. Thành ra, vô
tình Việt Nam bỗng dưng có hai đêm 30 Tết Mậu Thân tại hai
miền Nam Bắc khác nhau. Lệnh của Bắc Bộ Phủ là “Đánh vào đêm
30 Tết Mậu Thân”, nhưng quân Bắc Việt không biết khởi sự tấn
công vào đêm nào. Đêm 30 Tết theo lịch Bắc Việt hay lịch Nam
Việt?
Nếu đánh vào “Đêm 30 Tết Bắc Việt” thì quá sớm,
vì các quân nhân VNCH chưa xuất trại đi phép nghỉ Tết. Tấn
công trong lúc lực lượng VNCH còn y nguyên tức là tự sát.
Còn nếu đánh vào “Đêm 30 Tết Nam Việt” thì binh lính Bắc
Việt ăn Tết chưa đủ 3 ngày, không giống với Vua Quang Trung.
Khi các cấp chỉ huy mặt trận khám phá ra lệnh tấn công mơ hồ
thì đã quá muộn! Tướng Giáp không có cách nào gửi lệnh điều
chỉnh được nữa. Do đó, mới xảy ra việc Sài Gòn và các tỉnh
miền Nam bị tấn công không cùng một thời điểm.
Quân
đội thuộc Quân Khu 5 của Bắc Việt nổ súng từ Quảng Nam đến
Khánh Hòa vào đêm 30 Tết của miền Nam, tức đêm 29 rạng ngày
30/1/1968 Dương Lịch. Còn tại các nơi khác, Cộng quân lại ăn
Tết đủ ba ngày rồi mới khởi sự tấn công vào đêm 30 rạng ngày
31/1/1968 Dương Lịch, tức là đêm Mồng Một Tết.
Về
phía VNCH, cho tới năm ngày trước Tết, không có dấu hiệu gì
chứng tỏ tình báo miền Nam bắt được kế hoạch tấn công của
Bắc Việt. Nhưng theo tài liệu riêng của Trung tá Nguyễn
Thiện, Trưởng Khối Đặc Biệt CSQG lúc bấy giờ, thì đến ngày
26 tháng Chạp, trong số các tin tức nhận được, có “nguồn tin
Tây Ninh” sau khi đi họp với Trung Ương Cục miền Nam về, đã
báo cáo rất chi tiết kế hoạch tổng tấn công của Việt cộng.
Chúng quyết định lợi dụng tinh thần “ngưng bắn” của Quân Dân
Việt Nam Cộng Hòa để nổ súng, đặc biệt là nhắm vào Thủ Đô
Sài Gòn và các tỉnh lỵ. Tin tức này đã được chuyển cho cả 2
phía: Tổng Nha CSQG và Đại sứ Hoa Kỳ nội trong ngày 27 tháng
Chạp Âm Lịch. Ngay sau đó, Tổng Nha CSQG cũng như bộ Tổng
Tham Mưu Quân Lực VNCH đã ra lệnh cấm trại 100%. Nhưng lệnh
này đã quá trễ, vì có một số quân nhân, công chức đã được đi
phép từ 5 ngày trước. Đi phép luân phiên trước, rồi sau đó
trở về đơn vị thay cho một số khác đi tiếp (tức là đi phép
trước và sau Tết). Điều cũng nên nói ở đây, khi có một số
người đi phép như thế, thì tại các trụ sở của CSQG, từ Tổng
Nha đến các Ty và Chi Cảnh sát đã bắt đầu đào giao thông
hào, sắp bao cát. Đó là lệnh của Tổng Giám Đốc Nguyễn Ngọc
Loan được gửi tới các đơn vị CSQG.
Khi súng bắt đầu
nổ ở một số tỉnh Cao Nguyên vào đêm 30 Tết, các tỉnh khác
cũng vẫn bình thản vui Xuân, coi như không có gì xảy đến cho
mình. Chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn không rời Mỹ Tho
để về Sài Gòn đối phó với tình hình. Đáng lẽ ra, nếu khi
thấy một số tỉnh bị tấn công thì các tỉnh khác, kể cả Sài
Gòn, đều phải ngưng ăn Tết mới phải. Lúc đó, VNCH có tới 24
tiếng đồng hồ chuẩn bị nghênh chiến và bố trí. Thiệt hại của
miền Nam chắc chắn giảm đi rất nhiều.
Còn phía Hoa
Kỳ, báo chí Mỹ chỉ trích cơ quan tình báo CIA đã bất lực khi
không biết được tin tấn công. Nhưng các chứng nhân tại miền
Nam VN đã nhìn thấy quân Bắc Việt di chuyển gần sát các căn
cứ quân sự Hoa Kỳ mà không gặp trở ngại gì, cũng như các
quân nhân Mỹ bị cắm trại 100% trong lúc quân đội miền Nam đi
chơi đầy đường phố, người ta nghi ngờ rằng Hoa Kỳ thực sự có
biết kế hoạch tấn công này. Có thể Hoa Kỳ đánh giá sai lạc
tin tức tình báo, hoặc muốn giấu VNCH hoặc đã có sự thỏa
thuận ngầm nào đó giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt?
Ông
Charles B. MacDonald, một nhà viết sử Quân Đội Hoa Kỳ, đã
đoạt nhiều bằng tưởng lục, đã tiết lộ rằng: “Mặc dầu TT
Thiệu đã không hủy các giấy nghỉ phép cho quân lính, nhưng
với áp lực của Tướng Westmoreland, ông đã cam kết rằng ít
nhất 50% quân số – lúc đó là khoảng 732,000 người – sẽ phải
ứng trực.”
Qua tin tức này, chúng ta có thể đưa ra 2
nhận định: Thứ nhất, Hoa Kỳ biết chắc có cuộc tổng công
kích. Thứ hai, TT Thiệu đã không “nhạy cảm” trước sự cảnh
giác của đồng minh Hoa Kỳ. Có thể vì lệnh của Ngũ Giác Đài,
Tướng Westmoreland không được chính thức tiết lộ tin này cho
VNCH, nhưng bằng một cách gián tiếp, ông đã cảnh giác tới
mức “áp lực” TT Thiệu đừng cho binh linh về phép, vậy mà ông
Thiệu vẫn không hiểu được ý của Tướng Westmoreland, để rồi
vẫn xả trại lính và chính ông cũng thản nhiên về quê vợ ăn
Tết!
Cho dù VNCH bị tấn công hết sức bất ngờ như vậy,
nhưng về phương diện quân sự, cộng sản đã chấp nhận thảm bại
trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân. Chỉ trong vòng từ 2
đến 3 ngày, các lực lượng quân đội và Cảnh Sát miền Nam,
cùng với quân lực Hoa Kỳ yểm trợ, đã anh dũng đẩy lui bộ đội
Bắc Việt ra khỏi tất cả các nơi chiếm đóng, ngoại trừ thị xã
Huế phải mất gần một tháng trời.
Tổng kết thiệt hại
của các bên tham chiến trong biến cố Tết Mậu Thân được ghi
nhận như sau:
Phía Hoa Kỳ và Đồng Minh có 1,536 tử
thương, 7,764 bị thương, 11 mất tích.
Phía VNCH, có 2,788
tử thương, 8,299 bị thương, 587 mất tích.
Phía Bắc Việt,
có 45,000 tử thương, 6,991 bị bắt, còn bị thương và mất tích
không rõ.
Phía dân chúng, có 14,000 tử thương, 24,000 bị
thương và 630,000 người mất nhà cửa.
Tuy nhiên, phải
thành thực nhận rằng cộng sản Bắc Việt đã thành công về mặt
chính trị và xảo thuật.
Về xảo thuật, Bắc Việt đã mở
cuộc tấn công này để dùng sức mạnh quân dân chính miền Nam
thanh toán hết sức mạnh quân sự của Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam (tuy chẳng có nhiều) để chuẩn bị cho ngày miền Bắc thống
nhất đất nước. Điều này thực sự được chứng minh, vì ngay sau
ngày 30/4/1975, các lực lượng của Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam bị Bắc Việt cho giải giới và nhận chìm trong quên lãng,
khiến cho những người trong Mặt Trận này giận tím mật tím
gan mà không đủ sức tạo ra một đề kháng nào cả.
Vy
Thanh, một cán bộ cộng sản cao cấp miền Nam đã thú nhận rằng
“Miền Nam bị nhuộm đỏ” và đau xót châm biếm Trung Ương Cục
(TƯC) Miền Nam:
“Ðây là đất TƯC, đọc theo từng âm của
mẫu tự thành ‘TỨC’. TƯC là chỗ gây ra cái tức, như tức mình
vì thấy quá nhiều chuyện trái tai gai mắt, tức hộc gạch vì
ức lòng quá mà nói ra không được, máu trong tim muốn ộc ra,
tức lộn ruột vì đang đứng gặp chuyện ngược đời thành thử đầu
dộng xuống đất cẳng chổng lên trời.”
Còn về phương
diện chính trị, Bắc Việt đã thành công nhờ các lực lượng
phản chiến tại Hoa Kỳ nổi lên như vũ bão sau Tết Mậu Thân,
khiến cho đương kim Tổng Thống Lyndon B. Johnson (Đảng Dân
Chủ) không dám ra tranh cử nữa và Richard M. Nixon đã lợi
dụng tình hình chính trị tại VN để thắng cử, rồi đưa Henry
Kissinger vào chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao, bán đứng VNCH
cho cộng sản.
Chính Phạm Văn Đồng đã công khai tuyên
bố cuộc chiến Việt Nam đã thắng trên đường phố Hoa Thịnh
Đốn.
Tóm kết, biến cố Tết Mậu Thân thực sự đã thay
đổi toàn diện chiến tranh Việt Nam. Và một diễn biến lúc đầu
người ta tưởng là nhỏ, nhưng lại đã góp phần rất lớn trong
việc thay đổi cuộc chiến. Đó là tấm hình Tướng Loan hành
quyết Bảy Lốp trên đường phố Sài Gòn. Tấm hình đã gây oan
nghiệt cho cả cuộc đời ông và hơn thế nữa, nó đã góp phần
rất lớn trong diễn biến sụp đổ của chế độ VNCH.
Vậy
ai là tác giả của tấm hình đầy oan nghiệt này?
4. Nhiếp ảnh gia Eddie Adams
Eddie
Adams sinh ngày 12/6/1933. Ông đã từng tham dự 13 cuộc chiến
tranh, từ Việt Nam đến vịnh Ba Tư, với tư cách ký giả chụp
ảnh chiến trường. Ông đã lãnh tới 500 giải thưởng.

Khi cộng sản Bắc Việt
mở cuộc tấn công Tết Mậu Thân, nhiều ký giả chiến trường
ngoại quốc được tung ra khắp miền Nam để thu hình và loan
tin. Bám sát bộ chỉ huy hành quân của Tướng Loan ngày mồng
Hai Tết Mậu Thân là nhiếp ảnh gia Eddie Adams của hãng AP và
phóng viên quay phim người Việt Nam làm việc cho đài NBC,
tên là Võ Sửu.
Tất cả các diễn biến về Tướng Sáu Lèo
bắn đặc công Bảy Lốp đã được Eddie Adams và Võ Sửu thu hết
vào ống kính, không sót một chi tiết. Tướng Loan biết rõ
việc này. Nếu muốn, ông có thể ra lệnh tịch thu lại hết các
cuốn phim, nhưng ông đã không làm như vậy. Có thể Tướng Loan
nghĩ rằng ông đã làm một điều rất đúng trong quyền hạn của
ông nên không cần gì phải che giấu. Ngay sau lúc bỏ lại khẩu
súng lục vào bao, ông thản nhiên nói với Adams: “Tên Việt
cộng này đã giết nhiều người Hoa Kỳ và người của tôi.”
Tuy ông Võ Sửu của đài NBC quay được cảnh Tướng Loan bắn
Bảy Lốp, nhưng cả thế giới chỉ biết đến bức hình của Eddie
Adams thôi.
Adams kể lại lúc Tướng Loan bắn Nguyễn
Văn Lém như sau: “Lúc đầu, tôi tưởng Lém được dẫn đến để
Tướng Loan thẩm vấn. Khi ông rút súng chĩa vào Lém, tôi cũng
vẫn còn tưởng là ông chỉ dọa thôi. Hóa ra, ông bắn thật.”
Còn phóng viên Võ Sửu kể lại rằng: Sau khi bắn, Tướng
Loan nói với các ký giả: “Những tên này đã giết vô số dân
chúng của tôi và tôi nghĩ Đức Phật sẽ tha thứ cho tôi.”
Ngay đêm mồng Hai Tết Mậu Thân, bức hình của Adams được
gửi từ Sài Gòn ra ngoại quốc và rồi được in ngay trên trang
nhất của các báo chí trên khắp thế giới.
5.
Bức hình oan nghiệt
Bức hình Sáu Lèo bắn Bảy
Lốp được các nhóm phản chiến đưa ra khai thác tận tình trên
các báo chí, truyền thanh và truyền hình tại Hoa Kỳ để đạt
tới mục đích mong muốn: Phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam
bằng mọi giá, vì – theo lời họ – nó bẩn thỉu, không có chính
nghĩa.
Tom Buckley, bình luận gia của báo Harper nhận xét: “Đây
là lúc công luận Mỹ quay lại chống chiến tranh Việt Nam.”
Viện Gallup vào giữa tháng 3/1968 công bố rằng trước Tết
Mậu Thân, có 1/5 người được hỏi đã nhận mình là “diều hâu”
(tức ủng hộ chiến tranh), nhưng sau khi thấy bức hình Tướng
Loan bắn Bảy Lốp thì họ tự đổi thành “bồ câu” (tức chống
chiến tranh).
Đại tướng Colin Powell, lúc đó mới mang
lon Thiếu tá đang dự khoá huấn luyện ở Fort Leavenworth,
Kansas, kể lại quang cảnh lớp học quân sự sau khi bức hình
oan nghiệt được đăng trên báo chí và truyền hình như sau:
“Hôm đó, khi tôi đến lớp học, mọi nguời không ai tin được
chuyện này đã xảy ra, y như vừa bị một cú thoi vào bụng.”
Cũng kể từ tháng Ba 1968, các cuộc biểu tình chống chiến
tranh Việt Nam tại Hoa Kỳ đột nhiên rầm rộ khác thường.
Tháng 10 năm đó, lực lượng Cảnh Sát Hoa Kỳ bắt đầu đụng độ
với các cuộc biểu tình bạo động. Một năm sau, các cuộc biểu
tình phản chiến tại Hoa Kỳ đòi rút quân ra khỏi Việt Nam đã
thu hút hàng triệu người tham dự. Chính phủ Hoa Kỳ bị Quốc
Hội trói tay, cắt ngân sách viện trợ cho VNCH. Quân đội Hoa
Kỳ bắt đầu xếp ba lô hồi hương vào năm 1973, để rồi hai năm
sau (30/4/1975), miền Nam Việt Nam tức tưởi tuyên bố đầu
hàng.
Cộng sản chiếm dinh Độc Lập, Sài Gòn, ngày
30/4/1975
6. Adams hối hận
Adams kể lại rằng sau khi bức hình Tướng Loan bắn Bảy Lốp
được gửi về trụ sở trung ương, thượng cấp của ông khuyến
khích ông ráng chụp thêm nhiều bức hình giống như vậy, nhưng
Eddie Adams nói rằng ông bắt đầu suy nghĩ về việc này. Càng
tìm hiểu về Tướng Loan, ông càng ngưỡng mộ Tướng Loan về tài
đức. Tướng Loan là người đang được dân chúng Việt Nam thương
mến, ông là người làm tốt cho xứ sở ông. Ngay từ khi cộng
sản tấn công vào Sài Gòn, ông là vị tướng duy nhất điều động
lực lượng Cảnh Sát ngoài đường phố. Nếu không có Tướng Loan,
không biết số phận Sài Gòn sẽ ra sao? Vậy mà bức hình của
ông lại gây ngộ nhận để công luận lên án Tướng Loan là tàn
bạo.
Tên tuổi Adams bỗng nhiên nổi lên như cồn. Chỉ
một năm sau, tức năm 1969, nhờ bức hình này, Adams lãnh luôn
hai giải thưởng cao quý Pulitzer và World Press Photo. Nhưng
thật lạ kỳ! Ông ta bắt đầu nhận ra có điều gì không ổn. Ông
thuật lại rằng: “Tôi mặc bộ đồ dạ hội sang trọng để lãnh
giải thưởng và tiền thưởng về bức hình đó tại Đại Hội Nhiếp
Ảnh ở Hòa Lan. Khi ban nhạc trổi bài quốc ca Hoa Kỳ, tôi bật
khóc. Không phải tôi khóc vì sung sướng, mà khóc cho Tướng
Loan. Cho tới giờ phút đó, tôi vẫn chưa ý thức được việc tôi
đã làm. Khi chụp tấm hình đó, tôi đã hủy hoại đời ông tướng,
vì ông bị dân chúng ở cả nước ông lẫn Hoa Kỳ lên án về tội
giết tù binh chiến tranh. Trong bất cứ cuộc chiến nào, người
ta cũng vẫn thường làm như vậy, nhưng hiếm có nhiếp ảnh viên
nào chụp được mà thôi.”
Năm 1983, Adams trở lại Việt
Nam và được biết tấm hình oan nghiệt của ông được trưng bày
ở một chỗ rất trang trọng của Bảo Tàng Viện Chiến Tranh tại
Sài Gòn. Tuy nhiên, hiện nay không hiểu vì lý do gì, bức
hình đã được gỡ bỏ, và chỉ được bày bán trong gian hàng bán
đồ kỷ niệm tại Bảo Tàng Viện này thôi.

Sau năm 1975, có tới 8
người đàn bà đứng ra nhận là vợ của Nguyễn Văn Lém. Tuy
nhiên, cho tới nay, xác của viên đặc công này vẫn chưa được
tìm thấy.
Trong nhiều dịp khác nhau, Adams tiếp tục
bày tỏ niềm ân hận về hậu quả bất công của tấm hình: “Tôi
nhận tiền để trình diễn cảnh một người giết một người. Tướng
Loan đã bắn chết tên Việt cộng đã giết rất nhiều người dân
vô tội và Tướng Loan chỉ dùng công lý để xử tội hắn mà
thôi.”
Vào năm 1994, Adams không muốn trưng bày bức
hình oan nghiệt này nữa. Ông giải thích: “Nếu sự việc tái
diễn, có lẽ tôi cũng lại chụp tấm hình như vậy, vì đó là
nghề nghiệp mà! Nhưng tôi không còn muốn nói gì về bức hình
ấy nữa. Tôi không trưng bày nó nữa. Tôi không xử dụng nó bất
cứ tại nơi đâu.”
Ông thường nói rằng: “Tướng Loan là
một vị anh hùng của chính nghĩa. Bức hình tôi chụp đã lừa
dối công luận. Ông chiến đấu cho cuộc chiến của chúng ta,
không phải cuộc chiến của họ. Vậy mà mọi điều nhục nhã lại
đổ trên đầu con người này.”
Trong cuộc tỵ nạn của
người Việt Nam năm 1975, Eddie Adams cũng đã chụp được những
tấm hình nổi tiếng về cuộc vượt thoát can đảm, đầy gian nguy
của thuyền nhân Việt Nam vào năm 1977. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
đã xin phép hãng AP để gửi sang Quốc Hội các tấm hình này.
Nhờ vậy, gần 200,000 thuyền nhân Việt Nam được chấp thuận
định cư ở Hoa Kỳ. Eddie Adams sung sướng nói rằng: “Tôi thà
được biết đến qua những bức hình tôi chụp 48 người Việt Nam
tỵ nạn trên chiếc thuyền dài 30 foot, rồi bị hải quân Thái
đuổi ra biển. Nhờ những tấm hình này, tôi đã làm được những
điều tốt mà không gây đau khổ, oan nghiệt cho ai cả.”
7. Tranh luận về bức hình
Tại
sao bức hình Sáu Lèo bắn Bảy Lốp đã trở thành đề tài nóng
bỏng?
Nhóm
phản chiến Hoa Kỳ lập luận rằng: Đại úy đặc công Nguyễn Văn
Lém đã bị bắt, hai tay bị trói quặt về sau lưng, tức là
Nguyễn Văn Lém đã thực sự trở thành tù binh chiến tranh,
Tướng Loan không có quyền hành quyết một kẻ thù trong trường
hợp đã bị bắt, không còn phương tiện tấn công. Hành động này
trái với điều 3 Quy Ước Genève ngày 12/8/1949 về tù binh. Từ
đó, họ kết luận cuộc chiến Việt Nam là bẩn thỉu, người Mỹ
không nên dính vào nữa.
Phóng viên chiến trường Neil
Davids của Úc Đại Lợi, trong cuốn “In The Frontline”, đã
bênh vực Tướng Loan rằng tên đặc công mặc áo dân sự, tức là
không phải “quân nhân địch” như đã quy định trong Quy Ước
Genève về tù binh, y lại phạm tội quá rõ ràng là giết nhiều
đàn bà con nít và ngoan cố không chịu đầu hàng thì Tướng
Loan có gọi là “phiến loạn” để xử bắn trong thời gian “thiết
quân luật” thì cũng không có gì để gọi là quá đáng.
Tướng William Westmoreland, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Quân Sự
Hoa Kỳ tại Việt Nam đã nhận định rằng hành động của Tướng
Loan là “không khôn ngoan, nhưng Tướng Loan đã làm dưới áp
lực. Vấn đề này liên quan tới pháp lý mà ông không thể phán
đoán được. Ông chỉ muốn nhấn mạnh đến áp lực vào thời điểm
đó, tức là sự giận dữ về những hành động khủng bố của cộng
sản.” Và sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, Tướng
Westmoreland đã phẫn nộ công kích báo chí vì đã tạo ra những
nguồn tin thất thiệt, tâng bốc sự thảm bại của Việt cộng
thành một cuộc “chiến thắng tâm lý” của cộng sản.
Nhưng thực sự, cả thế giới đã mắc lừa phản chiến Mỹ: Lừa về
sự kiện và lừa về pháp lý.
a) Về sự kiện:
Chính tác giả tấm hình, ông Eddie Adams đã nói bức hình
của ông mới chỉ nói lên được một nửa sự thực. Ông ân hận,
ông khóc lóc, ông phân bua, ông gào thét trên truyền hình,
truyền thanh, báo chí và trước quan tài của Tướng Loan để
cảnh giác thế giới rằng họ đã hiểu lầm về ý nghĩa bức hình
của ông. Một nửa cái bánh vẫn là cái bánh, nhưng một nửa sự
thực là sự sai, sự gian xảo, sự lừa lọc, sự lầm lẫn. Thế mà
cả thế giới vẫn nhắm mắt, bịt tai và im lặng để cho Tướng
Loan chết trong oan khiên và VNCH chết tức tưởi trong nhục
nhằn.
Vậy cái nửa sự thực kia mà bức hình Adams không
diễn tả được là gì?
Đó là:
1. Adams đã không
ghi lại được những hình ảnh Nguyễn Văn Lém bắn giết và chôn
sống dã man những người dân vô tội mà Tướng Loan có trách
nhiệm phải bảo vệ. Họ là đàn bà, con nít không có phương
tiện tự vệ trong tay. Sự việc này cũng đã được điều 4 Quy
Ước Genève ngăn cấm các quân nhân tham dự chiến tranh không
được làm như vậy.
2. Adams đã không diễn tả được cảnh
Bắc Việt đã lợi dụng thỏa ước hưu chiến ngày Tết thiêng
liêng như phương tiện để tấn công bất ngờ VNCH, gieo bao
nhiêu tang thương, chết chóc, tủi hờn cho dân chúng miền
Nam.
3. Adams cũng đã không ghi được cảnh tượng hàng
ngàn người dân Huế bị chôn tập thể do bàn tay các đồng chí
của Nguyễn Văn Lém gây nên.
Tóm lại, cái nửa sự thực
mà Adams không trình bày được là nguyên nhân dẫn đến cái nửa
sự thực được diễn tả trong bức hình. Nói cách khác, Tướng
Loan nổ súng kết liễu đời Nguyễn Văn Lém chỉ là hậu quả tất
nhiên của chính việc làm của Lém đã giết hại những người dân
vô tội mà thôi.
b) Về pháp lý:
1. Trong bốn phe tham chiến tại Việt Nam: Bắc Việt, Nam
Việt, Hoa Kỳ và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, chỉ có chính
phủ miền Nam (VNCH) đã không hề ký kết bất cứ phần nào của
Quy Ước Genève về tù binh và còn công khai bác bỏ vào ngày
18/2/1974. Còn Hoa Kỳ ký ngày 2/8/1955; Bắc Việt ký vào các
năm 1953, 1957 và 1976; và Mặt Trận ký vào các năm 1973,
1974.
Tại sao VNCH đã không ký Quy Ước này? Chúng tôi
chưa tìm ra tài liệu để trả lời. Tuy nhiên, cần ghi nhận
ngay rằng VNCH có quyền làm như vậy mà không ai có thể suy
luận xấu cho hành động không ký kết này. Các Quy Ước quốc tế
không phải là tài liệu gì cần thiết đến nỗi các quốc gia hội
viên không ký không được. Liên Hiệp Quốc cũng không có quyền
bắt các hội viên phải ký kết mọi Quy Ước quốc tế, như Quy
Ước về tù binh. Tính đến năm 2005, mới chỉ có 192 quốc gia
trên thế giới chấp thuận toàn thể Quy Ước về tù binh. Một số
quốc gia chỉ thuận một phần. Số khác thuận với những giới
hạn do họ đặt ra. Ví dụ: Hoa Kỳ chấp nhận toàn thể Quy Ước
về tù binh, ngoại trừ Hiến Chế (Protocol) 1 và 2 ban hành
năm 1977.
Như vậy, VNCH (1954–1975) chưa hề bao giờ
ký kết chấp nhận Quy Ước Genève về tù binh thì làm sao có
thể quy kết VNCH và Tướng Loan vi phạm Quy Ước này được?
2. Dù có phê chuẩn Quy Ước, nhưng mỗi quốc gia lại tự ý
giải thích Quy Ước theo quan niệm và quyền lợi riêng tư của
mình.
Hãy lấy ngay trường hợp Bắc Việt và Hoa Kỳ làm
bằng chứng.
Bắc Việt không tuân thủ Quy Ước dành cho
tù binh Hoa Kỳ với lý do rằng Hoa Kỳ đã mở cuộc chiến tranh
đế quốc xâm lược Việt Nam, tức là một cuộc chiến không có
chính nghĩa, cho nên tù binh Mỹ không đáng hưởng những đặc
ân của Quy Ước tù binh.
Phía Hoa Kỳ lại cũng không
cho quân lính Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được
hưởng Quy Ước, viện lý do là Bắc Việt và Mặt Trận đã áp dụng
những chiến thuật du kích quá dã man, không thích hợp cho
một cuộc chiến quân sự. Binh lính Bắc Việt và Mặt Trận bị
bắt thực sự chỉ là những can phạm hình sự, chứ không phải
đúng nghĩa tù binh.
Gần đây nhất, sau khi Hoa Kỳ đem
quân chiếm đóng Afghanistan vào tháng 10/2001 và lật đổ
chính quyền Taliban, Tổng Thống George W. Bush không cho các
quân nhân của Taliban hưởng ân huệ của Quy Ước Genève, vì
chính quyền Bush gọi họ là “chiến binh phi pháp luật”
(unlawful combatants), chứ không phải tù binh chiến tranh
(prisoners of war).
Đến tháng 3/2003, Hoa Kỳ lại mở
cuộc chiến lật đổ chính phủ Saddam Hussein tại Iraq và không
cho bất cứ chiến binh nào không có quốc tịch Iraq bị Hoa Kỳ
bắt trên đất Iraq được hưởng quy chế tù binh.
Như
vậy, dù có chấp nhận Quy Ước về tù binh mà lại cắt nghĩa Quy
Ước theo ý riêng của mình, thì có ký hay không ký cũng chẳng
khác nhau bao nhiêu.
Giả như VNCH có ký vào Quy Ước
Genève thì có thể giải thích rằng Nguyễn Văn Lém không phải
là tù binh chiến tranh, vì khi bị bắt, y không giao tranh
với quân lực VNCH, mà lại đang lùng kiếm giết hại dân lành
vô tội. Rõ ràng y là tội nhân hình sự, chứ không phải tù
binh.
3. Việc ký kết đã vậy, còn việc vi phạm Quy Ước
quốc tế cũng không phải là điều ít khi xảy ra.
Ví dụ:
– Bắc Việt thỏa hiệp ngưng chiến trong dịp Tết Mậu Thân,
nhưng công khai mở cuộc tấn công trên toàn lãnh thổ VNCH.
– Bắc Việt ký Hiệp Định Đình Chiến Genève 1954, nhưng
vẫn ngăn cản, không cho đồng bào miền Bắc di cư và chuẩn bị
đem quân xâm chiếm miền Nam.
– Bắc Việt ký Hiệp Ước
Hòa Bình Paris 1973, nhưng vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh
tại miền Nam Việt Nam cho đến ngày thành công.
– Bắc
Việt ký Quy Ước tù binh, nhưng không áp dụng. Thẩm Phán Quân
Sự Hoa Kỳ, ông Ronald P. Cundick viết rằng: “Mặc dù Bắc Việt
và Việt cộng (ám chỉ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đã không
chịu áp dụng Quy Ước Genève về tù binh, nhưng họ vẫn nói
rằng họ đối xử nhân đạo với quân nhân bị bắt. Tuy nhiên,
trên thực tế, các tù binh Hoa Kỳ bị Bắc Việt và Việt cộng
bắt giữ đã bị đối xử dã man và bị dùng như con tin chính trị
và lợi khí tuyên truyền.”
Thế giới đã không lên tiếng
về việc hàng triệu sinh linh đã phải hy sinh trong các vụ
Bắc Việt vi phạm các Hiệp Ước kể trên, mà lại làm ầm ĩ vụ
Tướng Loan bắn Nguyễn Văn Lém. Người ta đòi hỏi Nguyễn Văn
Lém phải được hưởng quy chế tù binh theo Quy Ước Genève. Làm
gì có Quy Ước đó trong cuộc chiến ở Việt Nam? VNCH không ký.
Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ký, nhưng chính họ
đã xé bỏ từ lâu. Quy Ước Tù Binh chỉ còn là mảnh giấy lộn,
bị bom đạn đốt cháy. Còn đâu mà tìm?
4. Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam được khai sinh ngày 20/12/1960 với mục đích
lật đổ chế độ chính trị miền Nam bằng bạo lực.
Bắc
Việt luôn luôn chối là không hề tham dự gì vào các trận đánh
ở miền Nam. Đó chỉ là chuyện riêng tư giữa nhân dân miền Nam
nổi dậy chống nhà cầm quyền của họ.
Nếu lập
luận này là đúng thì hai hậu quả được đặt ra cho vụ Tướng
Loan:
Thứ nhất, Nguyễn Văn
Lém là một phần tử trong tổ chức nổi loạn chống chính phủ
miền Nam, nên không phải áp dụng Quy Ước Quốc Tế Genève, mà
là luật lệ VNCH.
Thứ nhì, luật pháp
của VNCH thời đó đã đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật,
nghĩa là các cán binh cộng sản chống lại VNCH bằng võ lực
không còn được luật pháp bảo vệ như một công dân thường.
Nguyễn Văn Lém là một phần tử trong tổ chức bị luật pháp đặt
ngoài vòng pháp luật, y lại còn bị bắt quả tang trong lúc
phạm tội hình nguy hiểm. Vậy thì Tướng Loan, vị chỉ huy cao
cấp nhất ngành Cảnh Sát, đang có mặt trên phạm trường có
quyền thụ lý nội vụ và quyết định những biện pháp thích
nghi. Tướng Loan đã hành xử đúng quyền hạn của ông khi quyết
định xử tử Nguyễn Văn Lém ngay tại phạm trường, để chấm dứt
tội ác của y. Quyết định của ông phải được coi là hợp luật.
Cần ghi nhận rằng Tướng Loan không hề bị khiển trách hay
điều tra bởi các cơ quan Giám Sát, Hành Pháp, Tư Pháp hay
Lập Pháp của VNCH về việc ông đã hành quyết Nguyễn Văn Lém.

Tuy nhiên, sau ngày
30/4/1975, chiếc màn nhung tuyên truyền của cộng sản rớt
xuống, cả thế giới đều thấy rõ ràng Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam chỉ là con đẻ của Bắc Việt. Bằng chứng quá nhiều:
– Con đường mòn Hồ Chi Minh do Hà Nội xây dựng,
–
Vũ khí đạn dược từ Nga Sô và Trung Cộng từ Bắc đổ xuống Nam,
– Các cán binh đều nói giọng miền Bắc,
– Tướng Võ
Nguyên Giáp chỉ huy trận đánh tiến chiếm miền Nam,
–
Hà Nội công khai tuyên bố chiến thắng và tức khắc khai tử
hai thể chế chính trị tại miền Nam cùng một lúc: VNCH và Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam. Đúng là một phát súng, hai con
chim ngã gục!
Phải đợi tới lúc này, cả thế giới mới
nhìn thấy một sự thực hiển nhiên là Bắc Việt đã xé bỏ biết
bao nhiêu Hiệp Ước Quốc Tế ngay khi chữ ký chưa ráo mực,
miễn sao đánh chiếm được miền Nam. Vậy thì đưa Quy Ước Quốc
Tế Genève về tù binh ra buộc tội VNCH và Tướng Loan rõ ràng
chỉ là một công việc thừa thãi, đúng ra là một trò hề! Sau
này, tất cả những bộ mặt phản chiến nổi danh tại Hoa Kỳ như
nữ tài tử Jane Fonda, và nữ ca sĩ Joan Baez đều đã đấm ngực
ăn năn.
Đây là lời thú tội của Jane Fonda: “Tôi xin
được nói đôi lời, không phải chỉ gửi đến các cựu chiến binh
Việt Nam ở New England, mà đến tất cả những người đã từng
chiến đấu ở Việt Nam. Họ là những người bị tôi gây tổn
thương, hoặc bị tôi gây thêm sầu khổ, do những lời tôi đã
nói hay những việc tôi đã làm. Tôi cố gắng giúp chấm dứt sự
chết chóc và chiến tranh, nhưng có những lúc tôi không chín
chắn và thiếu thận trọng khi làm việc đó và tôi... rất hối
hận vì đã làm tổn thương họ. Tôi muốn được xin lỗi họ và gia
đình họ.”
Nhưng mọi việc đã quá muộn màng. Đời con
gái khôn ba năm dại một giờ! Lịch sử đã sang trang. Miền Nam
đã hoàn toàn bị nhuộm đỏ! Có hối hận cũng chẳng ích lời gì
nữa!
5. Sau cùng, vấn đề còn lại là việc
Tướng Loan xử tử Bảy Lốp có đúng thủ tục pháp lý và nhân đạo
hay không?
Lý lẽ quan trọng nhất người ta
thường nêu lên để trách cứ Tướng Loan là đã xử tử Nguyễn Văn
Lém mà không có án lệnh của tòa án.
Không! Người ta
đã lầm. Lầm hoàn toàn! Người ta đòi hỏi Nguyễn Văn Lém phải
được bắt giữ đúng thủ tục tư pháp? Ai có quyền bắt giữ kẻ
phạm pháp? – Đó là Cảnh Sát. Nhưng Cảnh Sát là những người
mà Lém đang tìm giết. Chẳng những giết Cảnh Sát mà Lém còn
giết cả vợ con, gia đình Cảnh Sát nữa. Lém đâu có cần đến
Cảnh Sát! Dù sao, thực tế Nguyễn Văn Lém đã bị Cảnh sát bắt
đang lúc quả tang phạm pháp.
Người ta đòi phải đem
Nguyễn Văn Lém ra tòa án xét xử. Còn tòa án đâu mà xử? Tòa
án cũng như các cơ sở công quyền đều là mục tiêu Lém và các
đồng chí của y đang chủ trương đốt phá cho kỳ hết. Thẩm phán
là những người Lém đang tìm bắt để chôn sống.
Tất cả
miền Nam Việt Nam trong dịp Tết Mậu Thân là một bãi chiến
trường khổng lồ mà Bắc Việt đã dựng lên. Trong hoàn cảnh
chiến tranh, chết chóc, lửa đạn như vậy mà lại còn đòi hỏi
nào là Quy Ước, nào là Cảnh Sát Tư Pháp, nào là Tòa án, nào
là Thẩm phán... Tất cả những thứ đó Nguyễn Văn Lém không
cần. Điều mà y thực sự cần là chấm dứt tội ác và đền tội.
Nguyễn Văn Lém đã không mặc quân phục, đội nón cối, đi
dép râu để giao tranh với quân đội VNCH như các bộ đội Bắc
Việt khác. Nguyễn Văn Lém mặc thường phục, đi giết hại,
khủng bố đàn bà con nít để bắt họ làm bia đỡ đạn. Bảy Lốp
chẳng những đã không phủ nhận mà còn hãnh diện về các vụ
giết và chôn sống đàn bà con nít của y. Hành vi này kết
thành tội sát nhân với trường hợp gia trọng, bắt buộc phải
bị tử hình.
Phương cách thi hành án tử hình vẫn được
áp dụng vào thời đó tại Việt Nam là các tử tội bị trói vào
cột và một tiểu đội hành quyết nổ súng. Sau đó, viên tiểu
đội trưởng đến gần bắn một phát súng ân huệ vào đầu tử tội
để chắc chắn y đã chết. Nguyễn Văn Lém đã bị hành quyết đúng
theo thủ tục: Tử tội bị trói đem ra pháp trường và hưởng
phát súng hành quyết cũng chính là phát súng ân huệ của
Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG.
8. Cuộc Đời Tướng Nguyễn Ngọc Loan
Thiếu
tướng Nguyễn Ngọc Loan sinh ngày 11/2/1930 tại Huế, tốt
nghiệp Khoá 1 Trường Võ Khoa Thủ Đức.
Năm 1953, ông
thụ huấn khoá phi công tại Trường Không quân Salon de
Provence tại Pháp và tốt nghiệp với bằng Kỹ Sư Hàng Không.
Ông là một phi công lái khu trục cơ đầu tiên của Không lực
VNCH. Khoảng đầu năm 1960, ông giữ chức Chỉ Huy Trưởng Phi
Đoàn 2 Quân Sát, đóng tại Nha Trang.
Năm 1964, ông
được vinh thăng Đại tá và giữ chức Tư Lệnh Phó Không Quân
Việt Nam Cộng Hòa.
Trong chiến dịch “Mũi Tên Lửa”
(Flamming Dart), ngày 11/2/1965, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan đã
dẫn đầu những phi đoàn Bắc phạt A1 Skyraider vượt qua vĩ
tuyến 17 bắn phá miền Bắc Việt Nam.
Ngay sau chiến
dịch này ông được bổ về làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia
kiêm Giám đốc Nha An Ninh Quân đội, phụ trách Đặc Ủy Trung
Ương Tình Báo.
Kể từ
ngày về chỉ huy ngành CSQG, các báo chí Sài Gòn được gần gũi
với Đại tá Loan hơn và đã đặt cho ông hỗn danh là “Sáu Lèo”.
Tác giả Phan Lạc Phước đã giải thích ý nghĩa hỗn danh “Sáu
Lèo” như sau:
“Sáu ở đây là quan Sáu theo danh xưng
bình dân thời Pháp gọi các quan võ, mỗi một vạch trên vai là
một cấp bậc (thiếu úy vạch một vạch là ông một, trung úy
vạch hai vạch là ông hai...). Nhưng sau chữ Sáu của ông Loan
còn thêm tĩnh từ Lèo. Không biết nó xuất xứ từ đâu, nhưng
khi nó đi vào ngôn ngữ dân gian thì nó mang một ý niệm bỉ
thử, dèm pha, tiêu cực. Tiền lèo là tiền vô giá trị, hay là
tiền chỉ có trong tưởng tượng. Hứa lèo là hứa xuông, hứa
hão, hứa mà không thực hiện bao giờ. Vậy Sáu Lèo có nghĩa là
một ông quan vô giá trị hay là một ông tướng hữu danh vô
thực hay sao? Sở dĩ cái danh xưng này đứng vững, một phần là
vì cái bề ngoài luộm thuộm của ông Loan. Ông rất ít khi mặc
quân phục, mũ mãng cân đai, nghênh ngang giàn giá. Ông
thường mặc quần Trây–di xộc xệch, không đeo lon lá gì, chân
đi dép cao su lẹp xẹp. Ra ngoài thì ông ngồi xe jeep bình
thường, không có mang cờ quạt, mà cũng không có xe mở đường,
mô–tô bảo vệ. Ông nhiều khi còn cỡi xe mobilet lạch xạch đi
làm. Có khi ông còn một tay cầm chai lade, vừa chửi thề loạn
xạ. Bề ngoài của ông Tướng Loan đúng là xập xệ, là lèo,
nhưng việc làm của ông thì lại không lèo một chút nào... Ông
hành động theo những điều mà riêng ông cho là phải. Ông là
người bất quy tắc (non conformist) cho nên ông được gọi là
Sáu Lèo.”
Cách giải thích của tác giả Phan Lạc Phước
khá lý thú. Tuy nhiên, chữ “Lèo” ngoài ý nghĩa khôi hài châm
biếm như trên, còn có thể mang thêm một ý nghĩa khác đứng
đắn và cũng hợp với hoàn cảnh Tướng Loan. “Lèo” thường đi
chung với chữ “Lái”: Lèo Lái. Từ sau cuộc đảo chánh 1963,
các nhân viên ngành CSQG bị gán tiếng là thân cận với chế độ
Ngô Đình Diệm, nên bị bạc đãi và mất tinh thần, nhưng khi
Tướng Loan về lèo lái con thuyền Cảnh Sát thì tất cả đều đổi
mới, bóng tối tự ti mặc cảm biến mất, ánh sáng bình minh ló
dạng và mọi người hăng hái ra khơi. Lúc đó, ngành Cảnh Sát
có 70,000 nhân viên, chỉ chuyên chú về việc bảo vệ luật lệ.
Đại tá Loan đã quân sự hóa ngành Cảnh Sát để trở thành một
lực lượng bán quân sự, vừa bảo vệ trật tự dân chúng vừa hành
quân võ trang chống cộng sản với lực lượng Cảnh Sát Dã
Chiến. Thành quả đáng tuyên dương là chính lực lượng Cảnh
Sát đã chống trả cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân ngay từ
giây phút đầu tiên, để rồi sau đó, các quân binh chủng khác
mới tập trung tiếp sức.
Năm 1966, Đại tá Nguyễn Ngọc
Loan được chính quyền Sài Gòn cử ra miền Trung bình định vụ
biến động Phật Giáo miền Trung. Với thành quả rất mạo hiểm
và xuất sắc này, ông được vinh thăng chuẩn tướng vào tháng
11/1967.
Sau Tết Mậu Thân năm 1968, ông được thăng
cấp thiếu tướng.
Tác giả Phạm Phong Dinh trong cuốn
“CHIẾN SỬ Quân Lực VNCH” đã viết rằng: “Cống hiến lớn nhất
của Thiếu tướng Loan mà cũng là mối oan khiên mà ông phải
gánh chịu nhục nhằn trong vòng mấy chục năm là cuộc chiến
đấu trong những ngày Mậu Thân binh lửa...”
“Thiếu
tướng Nguyễn Ngọc Loan cùng lực lượng CSQG và Cảnh Sát Dã
Chiến chịu trách nhiệm đánh địch tại lãnh thổ các quận 1, 2,
3, 4, 5. Các chiến sĩ Cảnh Sát liên tục mở những cuộc hành
quân loại địch ra khỏi dân chúng. Tuy nhiên, khi mặt trận
Hàng Xanh nổ lớn, Thiếu tướng Loan đã điều động lực lượng
Cảnh Sát Dã Chiến và đích thân ông chiến đấu sát cánh với
các chiến sĩ Mũ Nâu Tiểu Đoàn 30 BĐQ của Liên Đoàn 5 Biệt
Động Quân. Các thám thính xa V–100 của Cảnh Sát cũng được
gửi tới tăng viện mặt trận. Quân ta tiến vất vả và chậm trên
khắp mặt trận, là bởi vì bọn Việt cộng man rợ, chúng lùa
thường dân, đàn bà, người già và trẻ em làm bia đỡ đạn hoặc
dùng súng bắn chặn không cho dân chúng di tản ra khỏi khu
vực giao tranh. Các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia và Cảnh Sát
Dã Chiến được Thiếu tướng Loan điều động đến càn quét khu
vực Thị Nghè. Gia đình của một Đại úy Cảnh Sát trong khu vực
này không chạy kịp đã bị tên Bảy Lốp, Đại úy Đặc Công Việt
cộng tàn sát man rợ.”
Cựu Đại tá Trần Minh Công,
trước khi giữ chức Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia,
đã có thời làm việc sát cánh bên Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Hồi
Tết Mậu Thân, ông giữ chức Trưởng Ty CSQG Quận Nhì Đô Thành
Sài Gòn. Nhờ mặc chiếc áo giáp nên ông đã thoát chết, vì đạn
Việt cộng đã bắn nát áo ông.
Đại tá Công đã khẳng
định rằng: “Tướng Nguyễn Ngọc Loan là một vị tướng trí thức
trong hàng ngũ tướng lãnh VNCH. Tướng Loan là một người rất
can đảm, một cấp chỉ huy tài ba và là một vị anh hùng dân
tộc. Ít có vị tướng nào lại cùng cầm súng chiến đấu ngoài
mặt trận như một người lính thường. Nếu không có Tướng Loan
xông pha bảo vệ Thủ đô Sài Gòn trong dịp Tết Mậu Thân, tôi
nghĩ Sài Gòn sẽ tan hoang không khác gì Huế.”
Chỉ bốn
tháng sau, tức ngày 5/5/1968, Bắc Việt lại mở cuộc tổng công
kích lần thứ hai. Lần này, Tướng Loan cùng với lực lượng
Cảnh Sát can đảm của ông ngày đêm xông xáo chiến đấu ngoài
đường phố Sài Gòn. Ông bị địch quân bắn trọng thương vào cả
hai chân trên cầu Phan Thanh Giản. Một ký giả người Úc nhìn
thấy và đã khẩn cấp dìu ông vào chỗ an toàn. Định mệnh thật
lạ kỳ: Một ký giả Mỹ đã hủy diệt danh tiếng Tướng Loan thì
một ký giả Úc đã cứu sống ông.
Sau đó, Tướng Loan
được chở sang Úc chữa trị, nhưng vì bị công luận Úc phản
đối, nên ông lại được chở sang bệnh viện Walter Reed Army
Medical Center ở Washington, D.C., Hoa Kỳ. Nhưng thật đau
đớn cho Tướng Loan, các dân biểu phản chiến tại Quốc Hội Hoa
Kỳ vào lúc đó cũng phản đối. Trở về Sài Gòn với đôi chân tật
nguyền khập khiễng, Tướng Loan được giải ngũ và dành thì giờ
vào các công tác thiện nguyện giúp trẻ mồ côi.
Ngày
3/6/1968, 6 sĩ quan ưu tú của quân lực VNCH mà phân nửa là
CSQG đã bị trực thăng Mỹ “bắn lầm” (?) tại một cao ốc ở Chợ
Lớn trong cuộc hành quân đánh đuổi cộng sản. Người ta nói
rằng nếu Tướng Loan không bị thương thì có lẽ cũng đã bị
chết với bộ tham mưu hành quân này.
Năm 1975, miền
Nam sụp đổ, máy bay của Hoa Kỳ không đưa Tướng Loan và gia
đình ông di tản, nhưng các chiến hữu không quân của ông đã
cứu ông.
Khi Tướng Loan đến Hoa Kỳ, nữ Dân Biểu Nữu
Ước Elizabeth Holtzman yêu cầu trục xuất ông và cả Sở Di Trú
và Nhập Tịch Hoa Kỳ cũng đồng quan điểm. Nhưng quyết định
trục xuất Tướng Loan về Việt Nam có nghĩa tương đương với
bản án tử hình dành cho ông. Vì thế, chính Tổng Thống Jimmy
Carter đã phải can thiệp và quyết định cho phép ông được
định cư tại Hoa Kỳ.
Tướng Loan và gia đình đến lập
nghiệp ở thành phố Springfield, Tiểu Bang Virginia, Hoa Kỳ.
Ông mở một tiệm bán pizza mang tên Pháp là “Les Trois
Continents” (Ba Đại Lục). Đã có lần, Eddie Adams đến tiệm
pizza này thăm Tướng Loan. Khi nhắc đến tấm hình oan nghiệt
năm xưa, Tướng Loan không hề nói một lời oán trách tác giả
tấm hình. Ông còn yên ủi Adams: “Ông làm nhiệm vụ của ông,
tôi làm nhiệm vụ của tôi. Chỉ có thế thôi!” Chính vì câu nói
này, Adams càng thêm mến phục Tướng Loan và họ đã trở thành
đôi bạn tri kỷ.
Trong một dịp có vài chiến hữu cũ đến
thăm Tướng Loan tại quán ăn, bên những ly rượu hội ngộ,
Thiếu tướng Loan đã rưng rưng nước mắt thổ lộ hoài bão:
“Nếu cơ may một ngày nào đó tụi mình trở về, thì lúc đó
tụi mình đều là nghĩa quân cả. Không Nhảy Dù, Thủy Quân Lục
Chiến, Biệt Động Quân, Bộ Binh, Lực Lượng Đặc Biệt gì cả.
Tụi mình chỉ là nghĩa quân. Nghĩa quân đây là nghĩa quân của
thời Lê Lợi khởi nghĩa, của thời Cần Vương chống giặc ngoại
xâm. Chỉ có đám quân đội của tụi mình mới có thể nói chuyện
‘phải quấy’ với đám quân đội phía bên kia, vì hồi còn đánh
nhau, hai bên đều bị bịt mắt cả”.
Đến năm 1991, Tướng
Loan phải đóng cửa tiệm pizza này, vì dân chúng địa phương
đã nhận diện được ông. Có kẻ đã vào nhà vệ sinh của tiệm và
viết lên tường câu khiếm nhã này bằng Anh ngữ: “Chúng tao đã
biết mày là ai.”
Nhận xét về cá tính của Tướng Loan,
cựu Đại tá Trần Minh Công nhận định như sau: “Nhìn phong
cách và diện mạo của Tướng Loan, nhiều người cứ tưởng lầm
ông là một bạo tướng, nhưng nhiều lần tôi đã từng chứng kiến
ông ngồi khóc một mình. Tìm hiểu ra mới biết ông là người
rất giầu tình cảm. Ông thương yêu thuộc cấp, sống chết với
họ. Kể cả khi ông bắt gặp đàn em làm bậy, ông cũng không nỡ
phạt họ, mà chỉ răn đe để họ cải sửa. Mỗi khi thuộc cấp hy
sinh tử trận, ông khóc thương, nước mắt dầm dề. Có khi
thượng cấp hiểu lầm ông, ông cũng khóc. Ông kể lể: ‘Tao phục
vụ quốc gia, dân tộc, chứ tao đâu có phục cá nhân nào.’”
Ngay khi còn ở Việt Nam vào lúc nắm giữ quyền uy trong
tay, gia đình Tướng Nguyễn Ngọc Loan vẫn sống rất thanh
bạch. Tiền lương đem về hôm trước, hôm sau ông lại lấy đi để
giúp đỡ thuộc cấp. Khi bị thương, phải đi ngoại quốc chữa
trị, ông không đủ tiền. Thuộc cấp xin đóng góp, nhưng ông
không nhận.
Trong cuốn “Bốn Tướng Ðà Lạt” của Lê Tử
Hùng có kể lại vụ Tướng Nguyễn Ngọc Loan trả lại chiếc nhẫn
kim cương cho một Hoa kiều giầu có, tên là Hoa Hồng Hỏa. Ông
này là một trong những thương gia gốc Hoa lương thiện, nhưng
đã trở thành nạn nhân của các tướng lãnh sau cuộc đảo chánh
1963. Ông ta bị vu oan để rồi chiếc biệt thự của ông ở Ðà
Lạt bị một ông tướng chiếm. Tới thời Tướng Loan chỉ huy
ngành CSQG, họ Hoa mới được minh oan và tiếp tục làm ăn. Khi
ông Loan gặp hoạn nạn, phải ra ngoại quốc chữa chân, Hoa
Hồng Hỏa biết ông là người thanh liêm, gia cảnh thanh bạch,
lại không có thân nhân ở ngoại quốc, nên đã trả ơn Tướng
Loan bằng cách tặng ông một cái nhẫn kim cương. Sau này ông
Hỏa kể lại rằng ông không biết Tướng Loan phải chữa trị bao
lâu và cuộc sống ở ngoại quốc khó khăn ra sao, nhưng ngày
trở về Việt Nam, Tướng Loan đã đem trả lại chiếc nhẫn cho
chủ nó. Vợ chồng Hoa Hồng Hỏa đã lạy khóc và ca tụng Tướng
Loan là bậc “Thánh”!...
9. Dòng Lệ Tiếc Thương

Thiếu tướng
Nguyễn Ngọc Loan đã qua đời lúc 20:00g ngày 14/7/1998 vì
bệnh ung thư, thọ 68 tuổi. Ông để lại vợ, bà Mai Chính, 5
người con và 9 cháu nội ngoại.
Ngay sau khi nhận được
tin này, Eddie Addams đã viết ra bản điếu văn bằng nước mắt
ngập tràn và từ con tim vỡ nát vì hối hận. Tuần báo TIME đã
đăng tải bài điếu văn này ngay trong số phát hành ngày
27/7/1998.
“Tôi đoạt giải Pulitzer trong năm 1969
nhờ tấm ảnh chụp một người bắn vào một người khác. Trong tấm
ảnh đó có đến hai người chết: Người nhận lãnh viên đạn và
Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Ông tướng đã giết chết tên Việt
cộng, nhưng tôi giết ông tướng bằng cái máy ảnh của tôi.
Những tấm ảnh vốn vẫn là những thứ vũ khí kinh khủng trên
thế giới. Người ta tin tưởng vào chúng, nhưng những tấm ảnh
đó cũng có thể nói láo, thậm chí không cần phải ngụy tạo.
Chúng chỉ nói lên được có phân nửa của sự thật. Những gì mà
tấm ảnh này chưa nói lên được là: ‘Người ta sẽ hành động ra
sao nếu họ ở vào vị trí của ông tướng, vào cái thời điểm và
nơi chốn của một ngày nóng bức, khi người ta vừa bắt được
một tên gọi là ác ôn mà trước đó hắn đã bắn chết một, hai
hay ba người lính Mỹ?’”
“Tướng Loan là một mẫu người
có thể được gọi là chiến binh đúng nghĩa và được thuộc cấp
kính trọng. Tôi không nói rằng những gì ông tướng đã làm là
đúng, nhưng người ta phải tự đặt mình vào vị trí của ông.
Tấm ảnh không hề diễn tả được rằng ông tướng đã tận tụy dành
nhiều thời gian đến các bệnh viện để thăm hỏi những nạn nhân
chiến cuộc. Tấm ảnh này đã thực sự làm đảo lộn cuộc đời ông.
Ông chẳng hề phiền trách gì tôi. Ông nói với tôi rằng: Nếu
tôi không chụp tấm ảnh, thì sẽ có người khác làm việc đó,
nhưng tôi vẫn cảm thấy bứt rứt xốn xang về ông và gia đình
ông trong một thời gian dài. Tôi vẫn thường liên lạc với
ông, lần cuối cùng mà chúng tôi nói chuyện với nhau đã xảy
ra hồi sáu tháng trước, vào lúc ông đã bị bệnh rất nặng.”
Trong lúc các bạn hữu, các tổ chức người Việt tỵ nạn còn
phải đắn đo, suy nghĩ, họp bàn về việc có nên đăng báo phân
ưu và gửi vòng hoa đến phúng điếu cố Thiếu tướng Nguyễn Ngọc
Loan hay không thì Eddie Adams đã mau mắn gửi một vòng hoa
lớn nhất đến phân ưu Tướng Loan với hàng chữ:
“Kính
thưa ông tướng, Lệ đã tràn đầy trong mắt tôi”.
Dưới
đây là bản dịch nguyên văn những lời nói của chính Eddie
Adams, phát ra từ đáy con tim, với những cảm xúc ân hận vì
đã chụp tấm hình oan nghiệt, làm hại đời của Tướng Loan:
“Trong đời tôi, bức hình này đã gây ra bao nhiêu lời chỉ
trích. Bức hình đã làm tôi đau đớn. Tôi đã bắt đầu nghe được
điều này ngay khi bức hình được tung ra. Như quý vị đã biết:
Nó đã gây nên những cuộc biểu tình vào năm 1968 và đã tạo ra
sự giận dữ và phẫn nộ tại Hoa Kỳ.
Tôi không hiểu được
điều này và cho tới giờ này tôi cũng vẫn không hiểu được, vì
trong thời chiến, con người ta chết vì chiến tranh. Và điều
mà tôi đã hỏi nhiều người rằng nếu quý vị là ông tướng đó và
nếu quý vị bắt được kẻ đã giết hại dân chúng của quý vị thì
quý vị sẽ làm sao? Đây là thời chiến mà!
Làm sao mà
biết được nếu chính quý vị gặp hoàn cảnh này mà lại không
bóp cò súng?
Bởi vậy tấm hình này đã nói dối, đưa đến
việc người ta kết án ông tướng. Ông là một vị tướng, nhưng
thực ra, lúc đó ông là Đại tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát QGVN.
Ông đã tốt nghiệp trường chỉ huy tại Hoa Kỳ. Ông là người
đậu thủ khoa. Tôi hiểu ông và kính phục ông. Tôi nghĩ rằng
đã có hai người chết trong bức hình của tôi: Không phải chỉ
người bị bắn, mà cả chính ông tướng bắn nữa.
Bức hình
đã hủy diệt cuộc đời ông và tôi không hề có ý như vậy. Ý của
tôi là chỉ muốn trình bày việc gì đã xảy ra. Sự thực là tôi
không muốn gánh trách nhiệm là kẻ đã hủy diệt đời sống của
bất cứ ai cả.”
Eddie Adams đã đến tham dự đám tang
của Tướng Loan và nói rằng:
“Tướng Nguyễn Ngọc Loan
là một anh hùng. Cả nước Mỹ nên khóc thương ông. Tôi không
thích ông ra đi lặng lẽ theo cách này, để không ai biết
đến.”
Sáu năm sau đó, vào ngày 12/9/2004, Eddie Adams
cũng qua đời. Hưởng thọ 71 tuổi.
10. KẾT LUẬN
Kẻ chiến thắng, uống mãi ly rượu mừng rồi cũng có ngày say
sưa bất tỉnh.
Người bại trận, nhấp mãi chén đau thương
rồi cũng có ngày tỉnh giấc vùng lên.
Không phải tất cả
những kẻ chiến thắng đều là đúng đắn, giỏi giang hay ái
quốc.
Cũng không phải tất cả những người bại trận đều là
sai lầm, dốt nát hay phản quốc.
Đã trên 30 năm qua, đây
là lúc phải trả lại sự thực cho lịch sử chiến tranh Việt
Nam.
Sự thực của lịch sử là gì?
Sự thực không
thể chối cãi là: Trong cuộc chiến Việt Nam, kẻ chiến thắng
không phải do tài ba của mình, người bại trận không phải do
yếu kém của mình. Kẻ thắng không ngờ mình thắng, người thua
không hiểu tại sao mình thua. Anh giải phóng tôi hay tôi
giải phóng anh? Anh và tôi, tất cả chúng ta chỉ là những con
tốt thí trên bàn cờ quốc tế. Tất cả chiến thắng hay thất bại
trong cuộc chiến Việt Nam đều do bàn tay phù thủy, lông lá
của ngoại bang vẽ ra.
Bởi vậy, đây là lúc phải xét
định công tội cả bên thắng cũng như bên thua bằng tinh thần
ái quốc đối với Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam.
Cuộc
chiến Việt Nam không phải bẩn thỉu như người ta nghĩ đâu, vì
đó là một trận thư hùng giữa Tự Do và Độc Tài, giữa Hữu Thần
và Vô Thần, giữa Quốc Gia và cộng sản.
Phản chiến Hoa
Kỳ lên án Tướng Loan bắn cộng sản là lạc hậu. Thế thì khi
Tướng Loan bị thương, được đem đến nhà thương bên Úc, người
ta từ chối không chịu chữa. Đó là văn minh chăng? Người ta
lén lút vào nhà vệ sinh thuộc cơ sở làm ăn của Tướng Loan
viết những câu hăm dọa, tục tĩu. Đó là văn minh chăng?

Phản chiến Hoa
Kỳ rầm rộ biểu tình chống chiến tranh Việt Nam vì bức hình
Tướng Loan bắn Việt cộng ngay tại chiến trường mà họ gọi là
“tù binh”, trong khi họ lại yên lặng khi các quân nhân Hoa
Kỳ lột trần truồng tù binh Iraq để làm trò giải trí, khi các
tù binh Iraq bị xích như những con chó bò lê lết trên sàn
nhà?
Trong vụ tấn công Tết Mậu Thân, Tòa Đại Sứ Hoa
Kỳ tại Sài Gòn và Tướng Loan đều có cùng một chủ trương là
những kẻ chủ mưu cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân phải trả
giá ngay tức khắc tại phạm trường, không để sống sót bất cứ
một tên nào, nhưng Tướng Loan đã áp dụng theo cách thế “ngạo
nghễ” của riêng ông, hoàn toàn khác với phương pháp âm thầm
kín đáo của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. 19 đặc công đánh vào Tòa Đại
Sứ Mỹ, không ai bị bắt, không ai bị thương, tất cả đều chết.
Tại sao chúng ta lại buồn phiền, xấu hổ, mang tự ti mặc
cảm, khi đám phản chiến Hoa Kỳ gọi Tổng Giám Đốc CSQG/VNCH
là “bạo tướng”, trong khi chính họ gọi Tổng Trưởng Quốc
Phòng Donald Rumsfeld và bà Ngoại Trưởng Condoleezza Rice
ngày 4/5/2006 tại Atlanta là những “tội phạm chiến tranh?”
Nếu đã là “tội phạm chiến tranh” thì phải lãnh hình phạt tử
hình, chứ không thể ngồi điều khiển Ngũ Giác Đài và Bộ Ngoại
Giao của siêu cường quốc Hoa Kỳ được.
Trong suốt cuộc
đời, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đã chịu bao nhiêu oan
khiên, nghiệt ngã: Phật Giáo ghét ông vì vụ Bàn Thờ Phật
xuống đường. Công Giáo ghét ông vì ông bắt tên cán bộ cộng
sản nằm vùng Phạm Ngọc Thảo, tự nhận là “con nuôi ông Diệm”
ẩn núp tại một giáo xứ ở Hố Nai. Sinh viên tranh đấu ghét
ông vì ông dẹp họ biểu tình. Tổ chức phản chiến trên thế
giới ghét ông vì ông bắt kẻ sát nhân phải đền tội ngay tức
khắc tại phạm trường.
Nhưng bây giờ lịch sử đã chứng
minh: Tất cả những kẻ ghét ông đã sai, và ông đã hành xử
đúng.
Tướng Loan đã đem sinh mạng và tất cả danh dự
đời ông để bảo vệ đời sống của dân lành. Ông gieo rắc bình
an cho dân chúng ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang... và tất cả
những nơi ông đặt chân đến.
Cầu mong Thiếu tướng
Nguyễn Ngọc Loan được an nghỉ bình yên trong Ánh Hào Quang
Rạng Ngời, với lòng cảm mến, kính phục và biết ơn của tất cả
những người Việt quốc gia.
Tiến Sĩ Trần An Bài
Nguyên Giảng Sư Học Viện Cảnh Sát
Quốc Gia VNCH



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by ddcb chuyển
Đăng ngày thứ Ba, January 31, 2016
Cập nhật ngày thứ Sáu, March 13/2026 – đổi sang hệ thống bootstrap framework 5.x
tkd, Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH