
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự truyện
Chủ đề:
thao trường đổ mồ hôi
Tác giả: Giang văn Nhân

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)

Từ quận Ninh Hoà theo
Quốc lộ 21 đi Khánh Dương, sẽ ngang qua Trung Tâm Huấn
Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ. Đây là một yếu khu quân sự, bao
gồm Trường Pháo Binh, Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn, cùng sân
bay dã chiến. Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ngoài việc
đào tạo tân binh còn đảm nhận huấn luyện về Rừng Núi Sình
Lầy và Viễn Thám. Khoá sinh thụ huấn được tuyển chọn từ các
đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Riêng Khoá RNSL trao
đổi kinh nghiệm chiến trường theo từng địa thế. Các phái
đoàn quân sự ngoại quốc viếng thăm trung tâm, nhìn thao
trường và kỷ luật, đều công nhận đây là lò luyện thép bậc
nhất của vùng Đông Nam Á.
Kể từ Khoá 16 tất cả những
sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam trước khi
ra trường phải thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động
Quân Dục Mỹ. Khởi đầu chỉ có hai tuần, nhưng những khoá kế
tiếp theo chương trình huấn luyện lần lượt thay đổi đến sáu
tuần lễ. Ngoài những hiểu biết về Văn Hóa và căn bản Quân Sự
cấp Đại Đội, Bộ Chỉ Huy nhà trường muốn người sĩ quan tốt
nghiệp có đầy đủ kinh nghiệm chiến đấu thực tế trên 4 vùng
chiến thuật làm hành trang xông vào lửa đạn.
Thu thập
kết quả của từng khoá, Bộ Chỉ Huy nhà trường đã có một kế
hoạch thật chu đáo cho Khoá 22 theo chương trình thụ huấn 2
năm, những buổi thuyết trình, những kinh nghiệm từ Niên
Trưởng Phạm xuân Thất sĩ quan cán bộ, đã hoàn tất khoá học
này. Được sự chấp thuận vào tháng 8, các SVSQ sắp thụ huấn
Dục Mỹ, tập họp tại sân cờ và bắt đầu chạy bộ lúc 6 giờ sáng
theo lộ trình qua miếu Tiên Sư, Chi Lăng, ra Hồ Than Thở rồi
vòng ngược trở về trường. Mươi phút sắp xếp phòng ngủ, tập
họp dùng điểm tâm, chúng tôi đến phòng học hoặc ra bãi chiến
thuật. Ngày trôi qua, bước chân thêm vững chắc, chúng tôi
chạy xa đến trường Yersin bên hồ Xuân Hương, hít thở không
khí mù sương của thị xã Đà Lạt, vừa chạy vừa đếm số, âm
thanh vang vọng phá tan cảnh tĩnh mịch trên núi đồi, kèm
theo những nụ cười rạng rỡ.
Sự hy sinh của SVSQ Huỳnh
văn Thảo trong ngày bầu cử tổng thống cũng là tuần cuối cùng
phải rời trường Mẹ. Nỗi buồn mất bạn, nhưng nhiệm vụ còn
nhiều thử thách, chúng tôi chuẩn bị hành trang gồm ba–lô,
súng đạn, bi–đông, gamen, ca inox, túi quân trang vỏn vẹn bộ
quân phục tác chiến, một bộ ka–ki vàng, poncho, võng nylon,
mùng, mền, cùng vài vật dụng lỉnh kỉnh cá nhân. Đặc biệt
võng nylon và dây chúng tôi đặt mua ở gian hàng chị Chúc
trong khuôn viên chợ Đà Lạt. Châm ngôn “Chúng tôi không màng
an lạc dễ dàng, mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm” làm
háo hức lòng người trai trẻ cố tìm giấc ngủ trong màn đêm,
nhưng vẫn nghe những bước đi chậm rãi của toán tuần tiễu.
Phi cơ C–123 đưa chúng tôi từ Cam Ly đáp xuống sân bay
dã chiến Lam Sơn. Không khí nóng ập vào bụng phi cơ vừa hé
mở, trước mắt là bãi cát trắng cùng những bụi chồi nhỏ bên
ngoài hàng rào kẽm gai, xe GMC chờ sẵn và chở chúng tôi đến
doanh trại trong Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ
với toàn thân ướt đẫm mồ hôi. Đó là dãy nhà có vách và mái
lợp, tất cả đều bằng tole, chung quanh toàn cát trắng. Khí
hậu thay đổi đột ngột từ sự mát mẻ của Đà Lạt qua cái nóng
của Dục Mỹ, lại thêm doanh trại toả nhiệt nên mồ hôi toát ra
làm cơ thể bải hoải. Được sự hướng dẫn bỏ viên thuốc muối
vào bi–đông nước và lắc đều trước khi uống, muối khoáng được
bồi đắp, nên cảm thấy dễ chịu hơn.
Ngày hôm sau chúng
tôi bị chia ra làm hai toán, màu vàng và màu đỏ. Theo danh
sách, số thứ tự thay thế tên của khoá sinh. Thảo ở toán màu
vàng, và là Biệt Động Quân 71. Cả ngày chúng tôi sắp xếp chỗ
ngủ, tháo bảng tên cũ thay bảng khác bằng số, và may màu của
toán nơi cổ áo. Đây là thời gian để cơ thể thích hợp dần với
không khí mới. Hai sĩ quan Biệt Động Quân là Trung uý Triêm,
sĩ quan kỷ luật và Thiếu uý Cho, sĩ quan phụ tá, ra lệnh tập
họp theo thời gian, chấn chỉnh dằn mặt, và đếm số trước khi
dẫn chúng tôi đến nhà ăn của trung tâm.
Ngày kế tiếp,
chúng tôi phải trải qua cuộc khảo sát về thể lực như leo
giây, hít đất, hít trên xà ngang, chạy tốc độ 100 thước, đặc
biệt chạy vòng quanh 3 cây số. Sau bữa cơm chiều, chúng tôi
được thoải mái đi Câu lạc bộ, cũng như nhìn cảnh sinh hoạt
của các khoá sinh Biệt Động Quân.
Còi tu huýt vang
lên, chúng tôi túa ra sân tập họp một cách nhanh chóng,
Trung uý sĩ quan kỷ luật cho biết hôm nay là ngày khai
giảng, chúng tôi chạy sáng, rồi trở về dùng điểm tâm, sau đó
đến phòng hướng dẫn về chương trình thụ huấn. Đã được tập
luyện sẵn, buổi chạy sáng đầu tiên theo Quốc lộ 21 đến chợ
Dục Mỹ rồi trở về làm hai vị sĩ quan cán bộ và các hạ sĩ
quan phụ tá phải cố gắng mới bám sát theo chúng tôi.
Rời khỏi doanh trại là chúng tôi chạy đều bước, súng cầm
tay, đếm số, và lặp lại theo lời hướng dẫn của Thiếu uý
Cho:
Ta là... ta là
Biệt Động... Biệt Động
không thích... không thích
đi xe... đi xe
chỉ thích...
chỉ thích
chạy bộ... chạy bộ
một hai ba bốn... một hai
ba bốn...
Tuần lễ đầu được huấn luyện trong lóp
học, chúng tôi phải xưng hô theo cấp bậc của sĩ quan phụ tá
kỷ luật, và các hạ sĩ quan Huấn luyện viên. Chẳng hạn như:
– Chào Trung sĩ Huấn luyện viên, Biệt Động Quân 71...
Đối với chúng tôi, chạy sáng, hoặc chạy bộ đến lớp học,
giống như giai đoạn tân khoá sinh, thời gian đó chúng tôi là
những bạch diện thư sinh, bước vào ngưỡng cửa nhà binh với
bầu nhiệt huyết, giờ đây đã trải qua 22 tháng quân trường,
có một sức lực dồi dào với tâm niệm bảo vệ tổ quốc, phục vụ
quân đội, sẵn sàng vượt qua những thử thách đang chờ đón tại
lò luyện thép.
Vào tuần thứ hai sau khi chạy sáng,
trở về xếp giường ngủ, chúng tôi tập họp, giá súng trước nhà
ăn, dùng điểm tâm, rồi súng cầm tay chạy đều bước, vừa đếm
số, vừa hô to:
Ta là Biệt Động, không thích đi
xe, chỉ thích chạy bộ...
Những chiếc xe đò trên
Quốc lộ 21 đôi lúc phải nối đuôi sau đoàn quân và khi
đường trống, vượt qua với những bàn tay vẫy chào. Kể từ lúc
này cơm trưa được xe chở ra bãi học cho chúng tôi, vùng này
cát trắng, những bụi rậm thấp, thỉnh thoảng có vài cây cao
không quá 4 thước tây, bóng mát không đủ che vào lúc trưa,
do đó ngoài bãi học cũng là cách luyện tập cơ thể thích ứng
với mọi hoàn cảnh. Súng theo thế tác chiến, đội hình chiến
thuật, lúc chuyển quân sang bãi học khác, bước chân trên cát
trắng như trì kéo mạnh, thêm cái nắng mặc tình đùa nhảy trên
phần da thịt bên ngoài bộ quân phục tác chiến. Kỹ thuật uống
nước có pha viên thuốc muối trong bi–đông được chúng tôi áp
dụng, giữ nước trong miệng, rồi từ từ cho từng ngụm nhỏ vào
thực quản, mồ hôi thoát ra chúng tôi không lau khô, một vài
cơn gió nhè nhẹ làm cơ thể cảm thấy mát mát dễ chịu. Gian
nan nhất là vượt đoạn đường chiến binh trong thời gian ấn
định. Số lượng chướng ngại vật nhiều hơn, leo thang cao hơn,
bò dưới hàng rào kẽm gai thấp hơn, vượt tường nhà, cửa sổ...
tuy nhiên chúng tôi có điều kiện tốt là sinh viên sĩ quan,
cuộc sống ở quân trường điều độ, thể chất được tập luyện,
nên chúng tôi đều vượt qua.
Tất cả các bãi học đều
trên cát trắng, không một bóng cây, chỉ riêng về lớp học mìn
bẫy, có vài cây nhỏ và những đám chồi lấp thấp tạo ra bóng
mát. Buổi sáng sau phần trình bày sơ lược về tác dụng của
mìn bẫy trong chiến tranh du kích, chúng tôi được Huấn luyện
viên cho nghỉ giải lao. Chương trình thụ huấn liên tục,
không ngày nghỉ, cho nên khi được lệnh chúng tôi tìm bóng
mát và ngã người trên cát, mươi phút thoải mái. Khi được
lệnh Huấn luyện viên trở về lớp học, người thì chân đá vào
dây nhỏ, người thì vừa ngồi xuống trên băng gỗ, những tiếng
nổ vang lên mọi nơi, chúng tôi bị vướng mìn bẫy. Sau khi
được Huấn luyện viên cho đứng lên, ngồi xuống vài lần, rồi
tan hàng ra ngoài nghỉ thêm mươi phút để các phụ tá tháo gỡ
dây bẫy. Vào bóng mát, chúng tôi lại nghe tiếng nổ trong đám
chồi. Bài học về mìn bẫy một cách thực tế và thật bất ngờ,
luôn xảy ra nhất là những vùng xôi đậu.
Chúng tôi
được bò dưới hỏa lực với tiếng đạn xé gió rợn người, tạo cái
cảm giác đang hiện diện trên chiến trường. Chúng tôi được
thực tập làm “đề lô” điều chỉnh hỏa lực yểm trợ trên sân
giảm xạ tại trường Pháo Binh. Hai khẩu đại bác nhỏ, bắn bằng
hơi, và rất chính xác. Tại căn cứ núi Đeo, có nhiều bãi tập,
như bãi tuột núi, bãi thoát hiểm mưu sinh, bãi đi dây kinh
dị, và đi dây tử thần, đặc biệt có làng việt cộng, những vị
trí căn bản mà địch quân có thể ẩn núp như trên mái nhà,
trong vách, chỗ trú tạm trú ngầm dưới bếp, dưới bụi tre mà
những ống tre già là lỗ thông hơi và lắng nghe động tĩnh....
Đối với chúng tôi đó là những bài học mới lạ nên gây
nhiều cảm hứng thích thú. Sau gần mười lăm phút chạy đều
bước, chúng tôi đến căn cứ núi Đeo. Trong lúc dừng nghỉ,
chúng tôi đi vòng quanh đài tuột núi. Một tháp xây bằng
xi–măng cao khoảng 20 thước, mặt quay về lớp học thì thẳng
tắp, mặt bên sau chia ra nhiều tầng và có cầu thang đi lên,
tầng cuối cùng có một khoảng bằng phẳng và có những ô cửa
lớn như trên các cổng thành cổ. Bài học được Huấn luyện viên
hướng dẫn rành mạch, với những kinh nghiệm của bao nhiêu
khoá đã thụ huấn, Huấn luyện viên trình bày vắn tắt, dễ hiểu
cũng như giới thiệu vài phương pháp dùng để di chuyển xuống
những vách núi, như thế choàng vai dùng cho vách núi thoai
thoải, đặc biệt vách núi đứng phải dùng cái móc khoá còn gọi
là tuột dây Thụy Sĩ.

Sau
phần trình bày, chúng tôi quan sát Huấn luyện viên Biệt Động
Quân biểu diễn các tư thế tuột núi khác nhau, cũng như cấp
cứu trong trường hợp khoá sinh bị trở ngại, treo lơ lửng
trên dây. Chúng tôi thực tập cột dây đai choàng qua hai bên
đùi rồi cột lại quanh bụng. Tuần tự từng người theo lệnh của
Huấn luyện viên leo lên đài. Càng lên cao cảm thấy sức nặng
bị giảm đi, trên tầng cuối cùng, mỗi cửa sổ có một Huấn
luyện viên hướng dẫn, kiểm soát kỹ càng lại dây đai có chắc
chắn không, cách móc khoá Thụy Sĩ vào dây đai, và quấn một
vòng vào dây tuột núi. Tùy theo bạn thuận tay trái hoặc
phải, tay thuận nắm vào phần dây phía trên cao, tay còn lại
nắm vào dây bên dưới làm nhiệm vụ một cái thắng. Đứng tư thế
nghiêng người nơi cửa sổ, Thảo hô to:
– Biệt Động
Quân 71 xuống núi.
Rồi nhún chân búng người rời khỏi
đài.
Khi đứng nghiêng người nơi cửa sổ, Thảo thấy sợ
sợ, nhưng lúc tuột xuống và thắng lại nửa chừng, rồi lại
nhún chân búng người lần nữa lúc thắng lại thì chân đã chấm
đất nhẹ nhàng. Lúc đó mới thấy sảng khoái.
Thảo mở
dây đai cùng khoá Thụy Sĩ, găng tay, trao lại cho Huấn luyện
viên rồi trở vào hàng ngồi nhìn bạn mình. Trong bài học này,
bạn Lê văn Khen vì nâng phần phía sau để thắng quá cao, nên
dây cọ sát mạnh vào mông làm phần da vùng này bị phỏng. Một
số yêu cầu được tuột dây lần nữa, nhưng không được chấp
thuận. Bên cạnh có bãi học đi dây tử thần sát bờ sông Cay.
Một điểm đặc biệt là có mấy cây cổ thụ cao và to mọc hai bên
bờ. Sau khi được hướng dẫn thật kỹ càng, chúng tôi tuần tự
theo thang dây leo lên cao, rồi đi Dây Heo lần ra ngã tẻ của
dây, hai tay nắm chắc và đeo tòn ten. Thảo nhìn thẳng về
phía trước và hô to:
– Biệt Động Quân 71 xuống suối.
Rồi buông tay rơi xuống. Huấn luyện viên hướng dẫn cho
biết đừng có nhìn xuống suối thấy cao quá, hoảng sợ không
dám buông tay.
Quả thật vậy, sau khi hô to 3 lần:
– Biệt Động Quân số 2 xuống suối, Sát! Sát! Sát!
Nhưng anh vẫn nắm chặt sợi dây. Anh định co người lên để móc
chân vào dây bò ngược trở lại, nhưng không thể co cao hai
chân được, đeo mãi đến lúc sức không kham, đành nhắm mắt
xuôi tay rơi xuống.
Trường hợp không biết bơi, phải
hô to:
– Biệt Động Quân... không biết bơi xuống suối.
Khi bạn rơi xuống sẽ có chiếc xuồng cao su vớt bạn lên,
hy vọng không ai bị uống nước.

Xong
dây kinh dị, chúng tôi theo thang dây lên khá cao của một
cây cổ thụ khác, lần theo cầu với ba sợi dây cáp bắc qua
sông. Nhiều người cùng bước trên cầu dây nên nó nhún nhảy,
đong đưa, nếu không cẩn thận sẽ bị hất văng xuống nước.
Qua hết cầu dây, chúng tôi tiếp tục leo lên cao, lần này
là thanh gỗ đóng dính vào thân cây. Cứ ngước mặt nhìn lên và
vững tay nắm. Cuối cùng tới sàn gỗ. Giống như các bạn, sau
khi nhận những lời dặn của Huấn luyện viên, hai bàn tay Thảo
nắm vào cái móc của ròng rọc nằm trên dây cáp. Như mọi lần,
Thảo hô to và lặp lại:
– Biệt Động Quân 71 xuống
suối.
Thảo đu nhẹ để hai chân hổng trên sàn gỗ và
ròng rọc bắt đầu lăn xuống dốc càng lúc càng nhanh.
Âm thanh cọ sát của ròng rọc và dây cáp bọc kín đôi tai,
nhưng cặp mắt dán chặt vào người Huấn luyện viên đứng bên bờ
sông gần cuối phần dây. Khi người này phất cờ màu đỏ, Thảo
co cao hai chân thẳng góc với thân mình rồi buông ròng rọc.
Người Thảo chạm ngay mặt nước, chìm xuống, Thảo ngoi đầu lên
và bơi vào bờ.
Tại bãi thoát hiểm mưu sinh, chúng tôi
làm bẫy cò ke căn bản, chặt dây leo để lấy nước uống, Trong
trường hợp không có địa bàn, tìm cách định hướng vào ban
ngày có mặt trời, và ban đêm xem sao Bắc Đẩu và Thập Tự...
tất cả những kinh nghiệm thực tế giúp chúng tôi vững tin
hơn.
Căn Cứ Núi
Ba tuần lễ
tại Trung Tâm Huấn Luyện trôi qua, chúng tôi được chở vào
Căn Cứ Núi nằm trong dãy Chu Giung, từ xa chúng tôi thấy
thác nước cao đổ xuống thật đẹp. Vùng này có những vách núi
thoai thoải, chúng tôi thực tập dùng thế choàng vai để vượt
qua và tiếp tục cuộc di hành.
Vào đến căn cứ Núi, chúng tôi được rải đều
thành tuyến, cột dây võng, mắc poncho làm mái che mưa vì
vùng này cây rừng rợp mát, có những hố cá nhân đào sẵn để
sẵn sàng chiến đấu. Buổi sáng được đánh thức và tập hợp ngay
trung tâm căn cứ. Nơi đây có một khoảng trống, rải rác vài
căn lều vải như ban cứu thương, Bộ Chỉ Huy căn cứ, và bãi
học. Hình như các Huấn luyện viên cùng phụ tá, ban đêm phải
đi kích để giữ an toàn cho khoá sinh vì vùng này nguy hiểm.
Buổi sáng là phần giảng dạy về lý thuyết cùng kinh nghiệm
thực tế, sau đó Huấn luyện viên chia chúng tôi thành các
Tiểu Đội rồi chỉ định từng Tiểu đội trưởng cùng một sĩ quan
Biệt Động Quân đi theo giám sát. Cơm trưa và nước trà nóng
được chở vào căn cứ, tùy theo khả năng tài chánh, có thể mua
thêm thức ăn như hộp thịt heo ba lát, hay trái cây. Mọi
người cố gắng dùng bữa thật nhanh để có chút thì giờ nghỉ
thoải mái. Sau đó chúng tôi đi thám sát mục tiêu, kỹ thuật
ngụy trang và di chuyển được áp dụng triệt để, những người
lính Biệt Động Quân giả địch quân hiện diện sinh hoạt tại
mục tiêu. Trở về căn cứ lập sa bàn, thảo kế hoạch, ban lệnh
hành quân, dùng xong cơm chiều tất cả chuẩn bị ngụy trang,
cột chặt quân phục, dùng lá cây mục (có chất lân tinh) gắn
trên lưng để người đi sau nhìn thấy, giữ đội hình di chuyển,
dấu hiệu nhận dạng cho cuộc đột kích vào ban đêm và rút lui
nhanh. Người sĩ quan giám sát có quyền khai tử khoá sinh nào
không theo đúng những kỹ thuật tác chiến, người khoá sinh bị
chết sẽ bị trừ vào điểm tổng kết tốt nghiệp.
Đây là
vùng núi, có những thông thủy thượng nguồn của dòng suối,
lúc chúng tôi đi qua nước chỉ lấp xấp tới đầu gối, nhưng sau
đó cơn mưa trút xuống tầm tã, khi đột kích xong, chúng tôi
rút lui nhanh về thì con suối trở thành rộng lớn, nước chảy
cuồn cuộn. Một sợi dây cáp to bắt ngang qua, nhưng vẫn còn
bên dưới mực nước, kỹ thuật là người phải đứng trước dây
cáp, đưa lưng về phía thượng lưu, khi phăng theo dây mặt
nhìn về hạ lưu xuôi dòng chảy của nước. Toán chúng tôi có
người bị bung khoá dây súng, khẩu Garant trôi theo dòng lũ.
Về đến căn cứ cũng 3 giờ sáng. Cố gắng cởi đôi giày trận,
thoa thuốc chống muỗi rồi ngã người lên võng.
Ba ngày
sau, chúng tôi tấn công, đột kích cấp Trung Đội và cuối cùng
là hành quân cấp Đại Đội. Trước tiên là Đại Đội di chuyển
lập căn cứ bí mật, từ đây tung ra các toán thám sát, phối
hợp tin tức, lập sa bàn, ban lệnh hành quân, và xuất phát
tấn công hoặc đột kích ban đêm.
Trong lúc mở đường,
khinh binh tiền sát Hoàng Ngọc Can ra hiệu lệnh báo cáo có
nhiều dấu chân Cọp, tuy nhiên ban ngày và cả đoàn quân trang
bị Carbin M2, Garand M1, mà đạn đã lên nòng thì có sợ chi.
Trong đêm tối đóng quân tại căn cứ bí mật, anh Can có cái
võng Mỹ với mùng và poncho dính chung vào nhau. Khổ võng
dài, nên anh cột dây vào hai thân cây hơi nhô ra ngoài vòng
phòng thủ và sát cận đường mòn xuống suối.
Bỗng nhiên
có loạt tiếng súng nổ lúc nửa đêm, phản ứng cấp thời là lăn
ra khỏi võng, chụp khẩu Garand, nhảy xuống hố, tiếng người
sĩ quan Biệt Động Quân giám sát:
– Chắc bị rồi
Thảo phân vân cố mở mắt thật lớn quan sát phía trước,
chợt có tiếng la trong đêm vắng càng làm tăng thêm sự kỳ bí.
Nhưng vài phút sau được biết bạn Hoàng Ngọc Can bị Cọp chụp
vào võng, may anh này ôm súng Carbin ngủ nên bóp cò, súng nổ
làm chúa sơn lâm phóng đi mất. Anh Trương văn Tang nghe súng
nổ giật mình tỉnh giấc, tay vội chụp khẩu Garand, té ra là
con rắn nên hoảng hốt la lên. Anh Can được tản thương về
bệnh viện Nguyễn Huệ ở Nha Trang và cũng từ đó anh có một
tên ngộ nghĩnh: “Can Cọp vồ”.
Đại Đội tấn công mục
tiêu vào lúc rạng đông, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đơn vị
di chuyển nhanh đến điểm tập trung và có xe chở về Trung Tâm
Huấn Luyện. Đây là lúc để chúng tôi tẩy sạch bụi hành quân
và chuẩn bị đến Căn Cứ Rừng vào sáng sớm hôm sau.
Căn Cứ Rừng
Buổi chiều đầu tiên tại
căn cứ rừng, Thảo và các bạn được tự do ra suối nước nóng,
nhìn nước phun ra từ những tảng đá, khói tỏa mù mịt, đi lần
theo dòng chảy thật xa, nước nguội dần, nơi đây cuối tuần
người dân đến vui chơi, họp mặt cũng như cắm trại.
Chúng tôi bố trí
thành tuyến đóng quân, đào hố chiến đấu. Cũng những bài học
tuần thám, đột kích, tấn công... nhưng ở địa thế rừng, đặc
biệt vùng này tránh đừng bước vào dòng nước đục như sữa, da
chân sẽ bị lột, tróc ra. Trong rừng có nho dại và nhiều dây
leo để lấy nước uống.
Cả yếu khu Dục Mỹ và các căn cứ
thao dượt thường hay có mầm bệnh ngã nước nên thỉnh thoảng
trên bầu trời, lời nói được lặp đi lặp lại phát ra từ một
chiếc phi cơ quan sát:
– Để bảo vệ sức khỏe cho đồng
bào, chúng tôi sẽ phun thuốc diệt trừ muỗi gây sốt rét.
Thuốc chỉ tác dụng giết muỗi mà thôi, không có hại gì đến
đồng bào.
Mươi phút sau, một chiếc máy bay phun thuốc
như những hạt sương nhỏ. Mặc dù chúng tôi đã bắt đầu uống
thuốc ngừa sốt rét chloroquine một tuần trước khi lên đường
đi Dục Mỹ, một vài người lên cơn sốt và được chở về bệnh xá.
Sau phần lý thuyết và kinh nghiệm chiến trường vào buổi
sáng, buổi chiều từng toán tổ chức thám sát, các sĩ quan
giám định đi theo và đóng góp ý kiến lúc bàn thảo kế hoạch
trên sa bàn. Đây là địa thế rừng, không có những thông thủy
làm điểm chuẩn, lá cây che kín bầu trời, sau khi đột kích
lúc nửa đêm, phân tán về điểm tập trung rồi rút quân, trời
tối khó xác định toạ độ, định hướng bằng địa bàn nên có toán
về đến căn cứ lúc bình minh. Những ngày ở căn cứ, nếu mọi
việc tốt đẹp, về sớm nhất cũng phải hai, ba giờ sáng, chợp
mắt bốn, năm tiếng đồng hồ cũng tạm đủ, còn về quá trễ coi
như phải chống mí mắt lên để học bài chiến thuật kế tiếp.
Hai ngày thực tập cấp Tiểu Đội, ba ngày cấp Trung Đội,
và cuối cùng cấp Đại Đội. Chúng tôi xếp poncho, cuộn tròn
võng nylon, lấp hố, di chuyển lập căn cứ bí mật, và tấn công
mục tiêu địch vào lúc rạng đông. Điểm tập trung ngoài Quốc
lộ 21, nơi đây có đoàn xe đưa chúng tôi về Trung Tâm Huấn
Luyện để chuẩn bị ngày mai đến Căn Cứ Sình Lầy.
Căn
Cứ Sình Lầy
Buổi sáng tập họp lên xe, Thảo mới biết
hơn hai mươi bạn đã nằm bệnh xá vì sốt rét, anh em trong
hàng quân nhìn nhau ái ngại, nhưng chỉ còn một tuần cuối
cùng là chấm dứt khoá học, phải ghi nhớ uống thuốc
chloroquine đúng định kỳ, thoa thuốc chống muỗi, và ngủ
trong mùng, dù rằng kim chích của muỗi vẫn xuyên qua võng và
mùng, tuy nhiên cẩn thận đề phòng vẫn tốt hơn.
Xe chở
ra ngã ba Ninh Hòa rồi xuôi về hướng Nha Trang. Đây là quê
nội của Thảo. Căn nhà của Bác Hai nơi bến xe đò đi Vạn Giả,
nhớ con sông chảy qua nhà ga xe lửa vào mùa nắng lộ ra những
đụn cát, nơi Thảo cùng anh Lai con bác Hai đùa giỡn với bạn
lối xóm rồi nhảy xuống sông. Mười hai năm không có dịp trở
lại.
Đoàn xe qua khỏi đèo Rọ Tượng một quãng rồi rẽ
về hướng biển, đó là căn cứ Sình Lầy.

Vùng
này chỉ có bầu trời và nước mặn, chúng tôi phải kết hợp hai
poncho để làm lều, dùng võng che hai đầu. Khác biệt với căn
cứ núi và rừng, ban ngày chúng tôi bị mặt trời giận dữ quan
sát, ban đên được các vì sao soi sáng vỗ về, bước chân khuấy
động mặt nước vẽ thành những đường sáng. Làn da chúng tôi
bắt đầu sạm nắng, những vết xước do cây rừng gây cảm giác
khi chạm vào nước mặn, nhưng sau đó được chữa lành nhanh
chóng. Thêm một số bạn được chở về bệnh xá. Ban ngày học lý
thuyết, ban đêm thực hành, người đẫm ướt, bì bõm giữa vùng
đất sình. Về tới lều, cởi đôi giày, thay vội cái áo khô rồi
trùm mền. Buổi tối cuối cùng, chúng tôi thu gọn hành trang
trong yên lặng. Những chiếc xuồng bằng cao su dàn hàng ngang
và đúng 9 giờ tối bắt đầu khởi hành. Tiếng mái chèo khuấy
nước và tạo ra ánh sánh lấp lánh thật kỳ ảo. Ba giờ sáng
chúng tôi đến Hòn Khói, gần bờ sóng vỗ mạnh, thật khó khăn
chiếc trước, chiếc sau, chúng tôi cặp vào đảo, vội vàng
khiêng xuồng cao su vào trong và ngụy trang che kín.
Thảo được tháp tùng anh bạn Đại đội trưởng thám sát mục
tiêu. Trên nguyên tắc, phải cải dạng làm người dân, lúc một
giờ trưa hai người dùng thuyền cao su nhỏ, định hướng chèo
nhàn nhã. Ròng rã hai giờ sau chúng tôi tới Hòn Thị. Ngụy
trang che giấu bè xong, chúng tôi từng bước tiến sâu vào
đảo, rồi bò gần mục tiêu, quan sát bằng ống dòm, vẽ sơ đồ và
những hoạt động của các anh lính Biệt Động Quân giả địch.
Sau khi lập sa bàn, anh bạn Đại đội trưởng ban lệnh hành
quân, phân định trách nhiệm cho từng Trung Đội. Giờ tấn công
vào lúc 5 giờ sáng với hoả hiệu đỏ.

Dưới
ánh sáng các vì sao, chúng tôi cặp vào Hòn Thị, che giấu
xuồng cẩn thận rồi tiến sát gần mục tiêu. Hỏa hiệu đỏ vụt
lên bầu trời đêm, chúng tôi tấn công theo đúng kế hoạch đã
ấn định trách nhiệm của từng toán. Sau khi chiếm xong mục
tiêu, chúng tôi chèo xuồng về hướng Tây. Từ trong bờ, những
trái khói màu vàng nổi bật trong hàng dừa xanh ven biển.
Chúng tôi vừa đếm số vừa đẩy tay chèo, nước biển hắt
mạnh vào mặt, cay cay khoé mắt. Mọi người vẫn tiếp tục cố
gắng chèo thật nhanh như cuộc đua thuyền trong ngày hội lớn.
Sóng biển dồn dập đẩy xuồng lướt thẳng trên bãi cát trắng
của làng Ngọc Diêm. Anh em chúng tôi kéo xuồng vào sâu trong
bờ rồi cùng giơ mạnh hai tay làm thành hình chữ V, tay nắm
tay nhau san sẻ nỗi mừng vui đã vượt qua 6 tuần ròng rã của
khoá học đầy cam go, vất vả. Trở về Trung Tâm Huấn Luyện,
anh em có được một buổi chiều thật thoải mái, vào Câu lạc bộ
tẩm bổ để ngày mai vượt qua chặng đường cuối cùng của khoá
học.
Chúng tôi được chở đến Ninh Hòa lúc tờ mờ sáng,
gọn gàng với áo thun, quần trận, súng Garand, và bắt đầu
khởi hành chạy bộ về Trung Tâm Huấn Luyện vào lúc 8 giờ
sáng. Một chiếc xe cứu thương mang dấu hồng thập tự chạy
theo trên suốt lộ trình. Đoạn đường dài gần mười lăm cây số,
âm thanh quen thuộc của giày trận đập mạnh xuống mặt đường
nhựa. Súng Garand được thay đổi từng đoạn, lúc vác vai, lúc
đeo bên vai phải, khi đeo bên vai trái, hoặc choàng qua cổ.
Trong giai đoạn này, súng trở thành một trở ngại, nhưng với
người lính tác chiến, đó là vật bất ly thân. Mỗi một trụ cây
số vượt qua là cần phải cố gắng thêm. Đường còn dài, vững
bước tiến lên. Qua khúc quanh làng Việt cộng, tới núi Đeo,
qua đài tuột núi, qua đường vào căn cứ Cọp Đen, cuối cùng
chạy thẳng vào trung tâm và dừng lại trước doanh trại. Làm
sao diễn tả hết niềm vui của những người đã hoàn tất khoá
học.
Chiều hôm đó, Trung tá Trần công Liễu, Chỉ huy
trưởng Trung Tâm Huấn Luyện, trao bằng tốt nghiệp trong lễ
mãn Khoá 32 Hành Quân Biệt Động Rừng Núi Sình lầy cho thủ
khoa Châu văn Hiền. Đây là lần đầu tiên khoá sinh bị sốt rét
quá nhiều. Trường đã cứu xét và sẽ cấp bằng cho những anh em
bị bệnh vào giai đoạn cuối, riêng anh Can sẽ được cấp Chứng
Chỉ.
Chuyến bay cuối cùng bắt buộc phải đáp xuống phi
trường Phan Rang vì sương mù dầy đặc che phủ cao nguyên
Langbian. Những người kém may mắn được phép dạo thăm thành
phố về đêm. Có người em gái hậu phương hướng dẫn và giải
thích về Phan Rang, nơi có những địa danh, thắng cảnh như
Tháp Chàm, nhiều thật nhiều, đặc biệt vào mùa gió cát gây
nên loét mắt người dân sống gần biển.
Khoá 22 theo
chương trình thụ huấn 2 năm trở về trường Mẹ, gây nên cơn
sốt cho Liên Đoàn Sinh viên Sĩ Quan, Khoá 22 học 4 năm, Khoá
23 bắt buộc phải uống thuốc Chloroquine và ngủ trong mùng.
Một tuần lễ sau, bạn Lâm quang Tâm từ trần vì vi trùng sốt
rét bạo phát. Thêm một số bạn qua trạm xá của Bác sĩ Giá,
một vài anh em phải về Tổng Y Viện Cộng Hòa cho đến ngày mãn
khoá.
Thời gian còn lại, chúng tôi được bổ dưỡng,
khảo sát trắc nghiệm, dự các buổi thuyết trình về chiến
trường và tập dượt nghi thức của lễ mãn khoá. Danh sách tốt
nghiệp đã phổ biến, đặc biệt có thêm một số anh em đang theo
chương trình thụ huấn 4 năm chuyển sang cùng tốt nghiệp
chung.
Chiều Chúa Nhật, phái đoàn Nhảy Dù đến thuyết
trình và chọn 25 người. Đầu tiên, vị sĩ quan trưởng phái
đoàn hỏi:
– Ai là người thủ khoa Khoá 22?
Anh
Nguyễn văn An Đại Đội F đứng dậy:
– Tôi.
– Anh
có muốn đi Nhảy Dù không?
Sau một chút phân vân, anh
An trả lời đồng ý.
Sau đó phái đoàn đọc tên một số
anh em được chọn vì có liên hệ mật thiết với gia đình Mũ Đỏ.
Số còn lại được vị trưởng toán chỉ thẳng vào người.
Hai ngày sau, phái đoàn Thủy Quân Lục Chiến lên thuyết trình
và chọn 15 người. Số ghi tên trên 30 người, một xe GMC chở
ngay qua trạm xá cho Bác sĩ TQLC khám sức khỏe. Kết quả sẽ
thông báo hai ngày sau.
Lần lượt Biệt Động Quân, Lưc
Lượng Đặc Biệt, anh em chen nhau ghi danh. Một số binh chủng
chọn người theo tiêu chuẩn như Pháo Binh, Quân Báo, Thiết
giáp...
Cuối cùng là những anh em phải chọn các đơn
vị Quân Cảnh và Bộ Binh. Số còn lại do sự cắt ra thành từng
toán không theo hạng thứ từ trên xuống dưới. Nếu mỗi toán
mười lăm người, thì hạng thứ 15 sẽ là người đứng cuối nơi
toán đầu, và hạng thứ mười sáu sẽ là người đứng đầu của toán
sau, mỗi toán sẽ có một số đơn vị. Hầu hết người đầu toán
chọn Quân Cảnh. Nhiều người ở trong toán không có Sư Đoàn Bộ
Binh mà mình thích, nên đành phải chọn một đơn vị và chờ đến
phút chót có sự ưng thuận hoán đổi với nhau.
Mười lăm
người chúng tôi hẹn nhau tại quán Mai Hương rồi cùng đến bộ
tư lệnh trình diện vào tháng cuối của năm 1967. Kiến thức và
kinh nghiệm từ lò luyện thép, một tuần ở Trung Tâm Huấn
Luyện TQLC học leo lưới và tác xạ các loại vũ khí mới vừa
được trang bị cho binh chủng Tổng Trừ Bị. Tác chiến trong
thành phố Tết Mậu Thân năm 1968, làm một số bạn Nhảy Dù chưa
thi thố tài năng đã anh dũng hy sinh. Thảo cùng các bạn chọn
TQLC nhanh chóng học hỏi kinh nghiệm tác chiến từ những hạ
sĩ quan và anh em binh sĩ, sự điều động phối hợp của các vị
chỉ huy. Theo đơn vị từ đồi Dương Liễu, Bồng Sơn về Bà Quẹo,
Gia Định, giải toả Sài Gòn, đến Cần Thơ mở rộng vòng đai bảo
vệ, tiêu diệt địch. Những bài học tác chiến trong Rừng, Núi,
và Sình Lầy giờ đây thích hợp với cuộc sống của binh chủng
Thủy Quân Lục Chiến, đơn vị Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa luôn luôn có mặt và chiến đấu khắp mọi địa thế
của đất nước.
Trích hồi ký “Người lính Tổng trừ bị”
Giang văn Nhân



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by psxh chuyển
Đăng ngày thứ Bảy, June 1, 2019
Cập nhật ngày thứ Tư, November 19/2025 – đổi sang hệ thống bootstrap framework 5.x
tkd . Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH