|
|


Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Trang Quân
sử SĐND/VNCH
Chủ đề:
tiểu sử tđ1ndvn/qlvnch
Tác giả:
nhiều tác giả

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)

Mục
lục
1. Tiểu sử
TĐ1NDVN
2. Các Tiểu đoàn trưởng TĐ1NDVN
3.
Các Tiểu đoàn trưởng TĐ1NDVN
còn tại thế
4.
Các Cố vấn Quân sự người Mỹ
tại TĐ1NDVN
5. Các Quân Y sĩ TĐ1NDVN
6.
Chiến tích TĐ1NDVN
7.
Huy hiệu TĐ1NDVN
Các
thế hệ TĐ1NDVN từ ngày thành lập [1/8/1951] đến [30/4/1975]
8.
TĐ1NDVN
giai đoạn I
9. TĐ1NDVN giai đoạn II
10.
TĐ1NDVN giai
đoạn III
11. TĐ1NDVN giai đoạn IV
12. Danh sách sĩ
quan các cấp từ 1973–30/4/1975
13.
Phụ lục


Tiểu
sử TĐ1NDVN
Ngày
1/8/1951,
Bởi quyết định số 1547/EMIFT/1 (Etat Major
Interarmees et des Forces Terrestres).
Đại Đội 1 Nhảy
Dù Đông Dương và Đại Đội 1 Phòng Vệ Bắc Việt được kết hợp để
thành lập Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù Việt Nam (1er Bataillon de
Parachutistes Vietnamiens) đầu tiên tại Chí Hoà Sài Gòn (Nha
Hỏa Xa tại cổng Bà Xếp–Hòa Hưng),
phần lớn các cán bộ chỉ
huy đều do người Pháp nắm giữ. TĐT (Tiểu đoàn trưởng) đầu
tiên là Đại uý Ticheri kế đó là các Đại uý Gérauld, Đại uý
Vervelle, Đại uý Chapuis, và sau đó (tháng 2/1952) mới
chuyển qua SQVN là Đại uý Nguyễn Khánh (tham dự trận Hòa
Bình) rồi sau đó tới Thiếu tá Albert Lê Quang Triệu (khoảng
3 tháng). Việc huấn luyện nhảy dù và đơn vị được thực hiện
tại Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù trong Căn cứ Tân Sơn Nhất,
và một Trung tâm khác tại phi trường Bạch Mai–Hà Nội. Sau
khi thành lập, một thành phần của Tiểu Đoàn được gởi đến
Kontum vào ngày 9/8/1951 để tăng viện cho Tiểu Đoàn 2 Nhảy
Dù Foreign Legion của Pháp.
Từ ngày 30/8/1951 đến
9/9/1951
TĐ1NDVN được thả xuống Cù lao Ré tỉnh Quảng Nam
trong cuộc hành quân “Pirate” của Liên Đoàn Nhảy Dù Pháp để
tấn công một lực lượng CS Việt minh vừa xâm nhập vào đảo
này. Đây là trận thử lửa đầu tiên của TĐ1NDVN.
Ngày
1/11/1951, TĐ1ND di chuyển ra Hà Nội để làm thành phần trừ
bị cho cuộc hành quân “Bretagne”. Từ ngày 15 đến ngày
19/12/1951 TĐ1ND được thả vào vùng hành quân để tiếp viện
cho quân Pháp. TĐ1ND đã chạm mạnh với Cộng sản VM tại khu
vực Nam Định và sau đó tại Thái Bình.
Ngày 22/1/1952
trong những ngày giáp Tết, TĐ1NDVN nhảy “saut” đầu tiên chỉ
có 3 ĐĐ đánh trận Hòa Bình do Đại uý Nguyễn Khánh chỉ huy và
Tướng De Lattre De Tassigny làm Tư lệnh chiến trường. Đơn vị
Nhảy Dù VN này là đơn vị triệt thoái sau cùng ngày
21/2/1952. Tới cuối năm 1952 Tiểu Đoàn mới thành lập thêm ĐĐ
thứ tư để đáp ứng đúng nhu cầu cấp số. Lần lượt sự huấn
luyện & chỉ huy đơn vị được chuyển giao cho phía Việt Nam.
Đến tháng 4/1952 TĐ1ND trở về Sài Gòn và tham gia ngay
trận đánh tại Tây Ninh vào ngày 25/4/1952 trong cuộc hành
quân “Chaumiereut” và đến ngày 15/5/1952 TĐ1ND nhảy xuống
Xuyên Mộc, tấn công vào mật khu Lê Hồng Phong căn cứ địa của
Việt minh cộng sản. Vị sĩ quan VN đầu tiên của Tiểu Đoàn bị
hy sinh trong cuộc chiến là Trung uý Nguyễn Trung Hiếu. Từ
đó căn cứ
[hậu cứ]
của TĐ1ND được gọi tên là Trại Nguyễn
Trung Hiếu.
Sau đó TĐ1ND tham gia các trận đánh với
Việt minh cộng sản tại miền cao nguyên Trung Việt như một
đơn vị bộ chiến với Liên Đoàn 1 Nhảy Dù thuộc địa GAP–1 như
cuộc hành quân Atlas từ ngày 9 đến 29/4/1952 tại Quảng Ngãi.
Ngày 27/12/1952 TĐ1ND đã nhảy xuống Bắc Thái–Hà Nội để
tảo thanh lực lượng Việt minh cộng sản mưu toan lập căn cứ
địa dựa vào địa thế hiểm trở của vùng này.
Khoảng
Tháng 7/1953 đến đầu năm 1954, TĐ1ND được đưa về hoạt động
trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong các chiến dịch
hành quân của Liên Đoàn 1 Nhảy Dù GAP–1 (1er Groupement
Aeroportees Parachutiste).
Ngày 25/3/1955
được điều
động về Sài Gòn cùng với Liên Đoàn 1 Nhảy Dù để tảo thanh
lực lượng Bình Xuyên ra khỏi Sài Gòn–Chợ Lớn. Sau khi Pháp
rút khỏi Việt Nam, TĐ1ND vẫn tiếp tục hiện hữu như là nhân
tố thành lập Lực Lượng Nhảy Dù–Việt Nam và gia nhập vào Liên
Đoàn 3 Nhảy Dù (3e Groupement Aeroportees Parachutiste).


Các Tiểu đoàn trưởng
Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù
1. Đại uý Nguyễn Khánh (22/1/1952–22/2/1952): chỉ huy TĐ1ND tham gia nhảy trận Hòa
Bình. Trong khoảng thời gian 1949–1952 Trung uý Nguyễn Khánh
là Đại đội trưởng Đại Đội 1 Nhảy Dù Việt Nam đầu tiên. Ngày
22 tháng 1 năm 1952 ông được thăng cấp đặc cách đại uý và
được chỉ định chỉ huy Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù Việt Nam gồm có 3
Đại Đội tham gia cuộc hành quân Hòa Bình tại miền Bắc–Việt
Nam dưới quyền của Tư lệnh chiến trường là Tướng De Latre De
Tassigny.
2. Thiếu tá Albert Lê Quang Triệu: 1952 sau
trận Hòa Bình, Đại uý Nguyễn Khánh được chỉ định chỉ huy
Chiến Đoàn V100 tại Quân Khu II, Thiếu tá Albert Triệu thay
thế chỉ huy Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù trong một thời gian ngắn
khoảng 3 tháng.
3. Ðại uý Vũ Quang Tài (1952–1955):
là vị Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của TĐ1ND Việt Nam kể từ khi
Liên Đoàn Nhảy Dù được chuyển giao lại cho Quân Đội Quốc Gia
Việt Nam vào tháng 9 năm 1954.
4. Ðại uý Trần Văn Ðô
(1955–1959): sau Chiến dịch Hoàng Diệu tiểu trừ lực lượng
Bình Xuyên tại Đặc khu rừng Sác, Thiếu tá Vũ Quang Tài bàn
giao quyền chỉ huy TĐ1ND lại cho Đại uý Trần Văn Đô.
5. Ðại uý Dư Quốc Ðống (1959–1962): năm 1959, Đại uý Dư Quốc
Đống là quyền Tiểu đoàn trưởng TĐ6ND được thuyên chuyển về
làm Tiểu đoàn trưởng TĐ1ND cho đến khi lên làm chiến Đoàn
Trưởng CĐ1ND năm 1962. Sau này là Trung tướng tư lệnh SĐND
và Tư lệnh Quân Đoàn III VNCH.
6. Thiếu tá Bùi Kim
Kha (1962–1964): thay thế Thiếu tá Dư Quốc Đống nắm quyền
chỉ huy TĐ1ND cho đến lúc lên làm Chiến Đoàn Trưởng Chiến
Đoàn 1 ND vào năm 1964.
7. Ðại uý Ðoàn Văn Nu
(1964–1967): đang là Trưởng phòng 2 Liên Đoàn Nhảy Dù thay
thế Thiếu tá Bùi Kim Kha chỉ huy TĐ1ND cho đến năm 1967 đi
làm Tùy viên quân sự cho Sứ quán VN tại Ba Lan và bàn giao
lại cho Thiếu tá Lê Văn Đặng.
8. Thiếu tá Lê Văn Đặng
(1967–1968): chỉ huy TĐ1ND đến năm 1968 về làm Chỉ huy
trưởng Tổng hành dinh SĐND và bàn giao nhiệm vụ lại cho
Thiếu tá Nguyễn Thu Lương.
9. Thiếu tá Nguyễn Phẩm
Bường: (1968 khi Trung tá Ðặng Tiểu đoàn trưởng và Thiếu tá
Lương Tiểu đoàn phó cùng đi du khảo ở ngoại quốc, Okinawa và
Australia, Thiếu tá Bường thay thế chức vụ XLTV/TÐT
[xử lý
thường vụ/Tiểu đoàn trưởng] trong 6 tuần lễ trước khi Thiếu
tá Nguyễn Thu Lương đáo nhậm thực thụ).
10. Thiếu tá
Nguyễn Thu Lương (1968–1968): sau trận chiến Tết Mậu Thân
bàn giao lại cho Thiếu tá Phạm Hy Mai về làm Trưởng phòng
3/SÐND.

11. Thiếu tá Phạm Hy Mai (1968–1970): đặc
cách tại mặt trận 1969, được thăng cấp trung tá. Tháng
3/1971 là Lữ đoàn phó LÐIIIND đến tháng 3/1972 đi học khoá
chỉ huy tham mưu bàn giao lại cho Thiếu tá Nguyễn Xuân Phan
tại mặt trận Bình Tây, Kampuchea, 1970.
12. Thiếu tá
Nguyễn Xuân Phan (1970–3/1971): đang là Tiểu đoàn
phó TĐ6ND
được Trung tướng Dư Quốc Đống điều về thay thế Trung tá Phạm
Hy Mai tại mặt trận Kampuchea và cho đến khi bị tử trận tại
Hạ Lào trong những ngày cuối cùng của cuộc Hành quân Lam Sơn
719.
13. Thiếu tá La Trịnh Tường (3/1971–7/1972): sau
khi Thiếu tá Nguyễn Xuân Phan tử trận, Thiếu tá La Trịnh
Tường về thay thế chức vụ Tiểu đoàn trưởng cho đến những
ngày đầu Chiến dịch Lôi Phong tái chiếm tỉnh Quảng Trị tháng
7 năm 1972.

14. Trung tá Lê Hồng (7/1972–1973): Thiếu tá Lê Hồng Tiểu đoàn phó/TĐ5ND về đảm nhiệm vai trò chỉ huy TĐ1ND để khởi đầu Chiến dịch Lôi Phong vượt sông Mỹ Chánh tấn công về phía Bắc tái chiếm tỉnh Quảng Trị. Sau Chiến dịch Lôi Phong Thiếu tá Lê Hồng được thăng cấp trung tá. Tháng 8 năm 1974 được Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng chỉ định làm Lữ đoàn phó Lữ Đoàn I Nhảy Dù khi TĐ1ND tiến vào mặt trận Thường Đức. Thiếu tá Ngô Tùng Châu đang làm Tiểu đoàn phó lên thay thế. Tham dự các trận đánh cuối cùng tại Thường Đức và Xuân Lộc cho đến ngày 30/4/1975. Đã không đầu hàng VC, một mình chỉ huy LĐIND triệt thoái khỏi mặt trận Xuân Lộc, và sau cùng chỉ huy đại bộ phận LĐIND vượt đại dương tỵ nạn CS tại Hoa Kỳ sau khi Dương Văn Minh đầu hàng địch quân CSBV. Đầu thập niên 1980 theo Đoàn Đông Tiến trở về Cam–bốt lập chiến khu và mất tích tại đây.

15. Thiếu tá Ngô
Tùng Châu: từ Ban 4/LĐIND về làm Tiểu đoàn phó TĐ1ND. Sau
khi Trung tá Lê Hồng lên làm Lữ đoàn phó LĐIND, Thiếu tá Ngô
Tùng Châu lên thay chức vụ Tiểu đoàn trưởng TĐ1ND tham dự
các trận đánh cuối cùng tại Thường Đức và Xuân Lộc cho đến
ngày 30/4/1975.


CÁC TIỂU ĐOÀN TRƯỞNG TĐ1ND CÒN TẠI THẾ

Đại tá Nguyễn Thu Lương
Khoá 4–53/SQTB/TĐ
Tiểu đoàn trưởng thứ 10 TĐ1ND (1968–1968)
Lữ đoàn trưởng cuối cùng của LĐIIND
(Mặt trận Phan Rang/Ninh Thuận)

Trung tá La Trịnh Tường
Khoá 9/SQTB/TĐ
Nguyên Đại đội trưởng ĐĐ15/TĐ1ND
Nguyên
Tiểu đoàn trưởng thứ 13 TĐ1ND (3/1971–7/1972)
Nguyên
Trưởng Khối Bổ Sung Sư Đoàn Nhảy Dù QLVNCH

Thiếu tá Ngô Tùng Châu
[tạ thế tại Mỹ]
Khoá 18VBĐL
Tiểu đoàn phó TĐ1ND 1973
Tiểu đoàn trưởng cuối cùng của TĐ1ND
1974–1975


CÁC CỐ VẤN TRƯỞNG QUÂN ĐỘI HOA KỲ ĐÃ PHỤC VỤ Ở
TIỂU ĐOÀN 1 NHẢY DÙ
(Từ năm 1963 đến năm 1973)
1. Đại uý YUMKER
2. Thiếu tá RICHMON
3. Đại uý J.F.C. KENNY, Jr
4. Đại uý T.W. MAC CATHY
(tử
trận ở Tân Châu, Hồng Ngự tháng 3 năm 1964)
5. Thiếu tá J. J. LINDSAY
6. Đại uý J. F. CORBY
7. Đại uý W. L. GOLDEN
8. Đại uý R. H. WEBB, Jr
9. Đại uý P. M. DAWKINS
10. Đại uý G. L. RHOADES
11. Đại uý J. C. McNERVY
12. Đại uý B. L. CORLEY
13. Đại uý J. C. ELLISON
14. Đại uý E. H. KLINK
15. Thiếu tá C. H. DUCKWORTH
16. Đại uý R. W. WINN
17. Đại uý E. J. HAYDASH
18. Thiếu tá E. R. GREEN
19. Thiếu tá L. J. DACUNTO
20. Thiếu tá J. SKLAR
21. Thiếu tá R. BAILEY


CÁC QUÂN Y–SĨ TĐ1ND CÒN TẠI THẾ

[qua đời tại California]

(*) BS PGC là người VN, BK–54 chính hiệu, có biệt danh là "BS Đại hàn" vì
bác ấy giống người ĐH lắm.




Những
trận đánh đáng ghi nhớ của TĐ1ND
Ngày
21/9/1955
tham gia chiến dịch Hoàng Diệu tảo thanh lực lượng
Bình Xuyên ở khu rừng Sác đến 24/10/1955 do Đại uý Trần Văn
Đô làm Tiểu đoàn trưởng.
Ngày 1/1/1956 đến ngày
17/2/1956
tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ hành quân bình định
miền Tây (vùng Sa Đéc) để giải giới các lực lượng giáo phái
quá khích không chịu hợp tác với Chính Phủ Đệ I Cộng Hòa.
Tháng 5/1960, TĐ1ND nhảy dù xuống Mộc Hóa để tảo thanh
VC nằm vùng, do Đại uý Dư Quốc Đống làm Tiểu đoàn trưởng.
Ngày 11/11/1960 tham gia cuộc đảo chính do Đại tá Nguyễn
Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông chủ xướng bị thất bại.
Ngày 15/6/1961 Hành quân Sa Đéc, Cao Lãnh. Chiến thắng
lớn tại Ấp Mỹ Quý, kinh Thước Thợ. Tất cả quân nhân thuộc
TĐ1ND đều được thăng một cấp, Đại uý Dư Quốc Đống Tiểu đoàn
trưởng được thăng cấp thiếu tá.
Ngày 18/9/1961, TĐ1ND
nhảy dù tiếp cứu và giải vây tỉnh Phước Thành đã bị địch
tràn ngập.
Tháng 1/1962, TĐ1ND nhảy dù xuống Vị
Thanh–Chương Thiện yểm trợ khai triển Khu Trù Mật.
Tháng 5/1962, TĐ1ND nhảy dù giải cứu đồn Phước Tân, vùng
biên giới Việt–Miên và một Trung Đoàn Bộ Binh VNCH bị địch
bao vây theo chiến thuật “công đồn đả viện”.
Tháng
2/1963, Ngày mùng 3 và mùng 7 Tết, TĐ1ND nhảy 2 sauts liên
tiếp, theo tin tức tình báo, để chận bắt Văn Tiến Dũng vào
họp với cục “R” tại chiến khu C.
Từ ngày 2 đến 4
Tháng 3 năm 1964, TĐ1ND cùng TĐ8ND tham dự hành quân Quyết
Thắng đánh thẳng vào hậu cần của VC trong vùng biên giới
Việt–Miên tại Tân Châu–Hồng Ngự. (Cố vấn Mỹ Thiếu tá McCathy
tử trận), Đại tá Cao Văn Viên được thăng cấp thiếu tướng tại
mặt trận.
Ngày 03/1/1965, TĐ1ND hành quân trực thăng
vận tiếp viện trận Bình Giã giải vây cho TĐ4 TQLC.
Ngày 16/2/1967, TĐ1ND cùng TĐ7ND tham gia hành quân Liên Kết
81 dưới sự điều động của Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù ở Sơn
Tịnh–Quảng Ngãi. TĐ1ND do Thiếu tá Lê Văn Đặng làm Tiểu đoàn
trưởng, Thiếu tá Nguyễn Thu Lương làm Tiểu đoàn phó.
Từ những ngày cuối tháng 1/1968, TĐ1ND tham gia hành quân
giải tỏa áp lực VC và bảo vệ đài phát thanh trong Khu Vực
Đài Sài Gòn và khắp các mặt trận trong năm Mậu Thân.
Năm 1969, TĐ1ND hành quân Tây Ninh giải tỏa áp lực Cộng quân
quanh Sài Gòn, trận Cầu Khởi tháng 2/1969, trận Gò Nổi tháng
7/1969, Thiếu tá Phạm Hy Mai làm Tiểu đoàn trưởng.
Đầu tháng 5/1970, TĐ1ND tham gia chiến dịch Bình Tây, hành
quân vùng Mỏ Vẹt–Campuchia trong cuộc Hành Quân Toàn Thắng
43 do BTL/QĐIII tổ chức. Trung tá Phạm Hy Mai làm Tiểu đoàn
trưởng, về sau Thiếu tá Nguyễn Xuân Phan thay thế.
Từ
ngày 29/1/1971, TĐ1ND tham gia Hành quân Lam Sơn 719 tại
chiến trường Hạ Lào cho đến 6/4/1971. Thiếu tá Ngyễn Xuân
Phan tử trận, Thiếu tá La Trịnh Tường thay thế chức vụ Tiểu
đoàn trưởng.
Trong “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972”, trên chiến
trường Tây Nguyên, ngày 15/3/1972, TĐ1ND được không vận đến
Võ Định–Kontum để giải tỏa áp lực địch quân quanh Căn cứ 6
và thiết lập Căn cứ Delta.
Sau đó TĐ1ND được rút về
Chơn Thành để hành quân giải tỏa An Lộc trên QL13. Trực
thăng vận vào suối Tào Ô, tiến chiếm Ấp Tân Khai.
Ngày 28/5/1972, TĐ1ND cùng với LĐIIIND, TĐ1 được không vận
ra Huế tham dự hành quân tái chiếm Quảng Trị. Đầu tháng
7/1972, Thiếu tá Lê Hồng thay thế Trung tá La Trịnh Tường
trong chức vụ Tiểu đoàn trưởng.
Ngày 8/8/1974, TĐ1ND
di chuyển đến Đà Nẵng tham dự mặt trận Thường Đức do Thiếu
tá Ngô Tùng Châu làm Tiểu đoàn trưởng, cho đến cuối tháng
3/1975, toàn bộ SĐND được rút khỏi Quân Khu I kéo theo sự
sụp đổ của VNCH ngày 30/4/1975.
Ngày 12/4/1975, TĐ1ND
cùng với các Tiểu Đoàn 8 và 9 Nhảy Dù thuộc LĐIND tham gia
trận chiến thắng cuối cùng tại mặt trận Long Khánh gây kinh
hoàng cho Quân đoàn 4 CSBV.
Trải dài cuộc chiến TĐ1ND đã lập
nhiều chiến công hiển hách với thành quả 14 lần tuyên dương
trước Quân Đội. Đã mang giây biểu chương:
– 1 Anh
dũng bội tinh (3 lần tuyên dương trước Quân Đội với nhành
dương liễu)
– 1 Quân công bội tinh (6 lần tuyên dương
trước Quân Đội với nhành dương liễu)
– 3 Bảo quốc
huân chương (10 lần tuyên dương trước Quân Đội với nhành
dương liễu)
– 4 Giây Tam hợp ba màu vàng xanh đỏ bện
lại với nhau. Giây biểu chương cao nhất trong Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa và là đơn vị Nhảy Dù đầu tiên được danh dự và
xứng đáng mang giây biểu chương này.
Tài liệu
tham khảo:
– Các Trận đánh của Tiểu Đoàn 1
Nhảy Dù của Mũ Đỏ La Trịnh Tường trên trang nhà
http://nhaydu.com
– General Nguyễn Khánh from
Wikipedia the free encyclopedia
– Insignia of The
Republic Of VietNam Airborne Division copyright @ 2002 by
Harry F. Pugh
– Phỏng vấn trực tiếp một số chiến hữu
và Niên Trưởng trong SĐND: Đại tướng Nguyễn Khánh, Hàng Công
Thành, Nguyễn Tự Bảo, Hồ Chi Hoa, Nguyễn Phẩm Bường, Thái
Văn Minh...
Đại uý Võ Trung Tín,
– Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND – (714)856–9202; Email:
pvotin@gmail.com.
Đại uý Nguyễn Hữu Viên,
– Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù – (714)897–1435.
MĐ Nguyễn Bá Toản, ĐĐ11ND sưu tầm & trình bày.
Chúng tôi rất mong được đón nhận những
ý kiến bổ chính của các chiến hữu cho những sai sót vì vấn
đề thời gian đã trên 30 năm và tài liệu tham khảo hạn hẹp.
Sơ lược: Binh chủng Nhảy Dù
QLVNCH là Lực Lượng Tổng Trừ Bị trực tiếp dưới quyền chỉ huy
của Bộ Tổng Tham Mưu/BQP QLVNCH. Có 4 Lữ Đoàn
[~ Trung Đoàn
Bộ Binh]
gồm LĐIND, II, III, & IV. Lữ Đoàn IV Nhảy Dù là đơn
vị tân lập vào năm 1975.
Mỗi Lữ Đoàn Nhảy Dù có 3
Tiểu Đoàn Tác Chiến cơ hữu, ngoài ra còn được biệt phái
những đơn vị sau đây:
– 1 TĐ Pháo Binh,
– 1 Đại
Đội Trinh Sát,
– 1 Đại Đội Quân Y,
– 1 Đại Đội Truyền
Tin,
– 1 Đại Đội Công Binh Chiến Đấu, &
– 1 Đại Đội
Yểm trợ...
SĐND có cả thảy 12 Tiểu Đoàn Tác chiến:
TĐ1ND, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, & 11 là những đơn vị kỳ cựu của
Sư Đoàn. Năm 1975, SĐND thành lập thêm Lữ Đoàn IV Nhảy Dù
gồm các Tiểu Đoàn tân lập 12, 14, và 15.
Tổ chức binh
bị căn bản của các Tiểu Đoàn thuộc Binh Chủng Nhảy Dù gồm 5
Đại Đội từ 0–4. Trước mỗi ĐĐ là con số của Tiểu Đoàn gồm
TĐ1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9 & 11 là những đơn vị kỳ cựu.
SĐND
không có Tiểu Đoàn 4 & 10.
Các Tiểu Đoàn tân lập năm 1975
gồm: TĐ12ND, 14, và 15.
Cách nhận diện Huy hiệu của
các Tiểu Đoàn Nhảy Dù: mỗi chiến binh nhảy dù thuộc quân số
Tiểu Đoàn tác chiến đều đeo trên cầu vai chiến y của họ huy
hiệu Tiểu Đoàn với màu sắc khác nhau như sau: Đại Đội mang
số Zero (0) có màu xanh lá cây hay xanh lục; ĐĐ mang số 1 có
màu xanh da trời hay xanh nước biển; ĐĐ mang số 2 có màu đỏ
tươi; ĐĐ mang số 3 có màu vàng tươi; và ĐĐ mang số 4 có màu
tím hoa sim.
HUY HIỆU MAY TRÊN CẦU VAI CHIẾN Y CỦA
CÁC QUÂN NHÂN TĐ1ND

Về phương diện chiến lược, TĐ1ND
trực thuộc LĐIND với 5 Đại Đội như sau:
ĐĐ10:
là ĐĐ chỉ huy, màu xanh lục/lá cây. Còn gọi là Đại Đội chỉ
huy, là đơn vị bảo vệ Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn. ĐĐ10 được trang
bị 1 Súng cối 81ly để yểm trợ cận phòng cho các ĐĐ tác
chiến; một khẩu đại bác không giật 90ly; một khẩu đại bác
không giật 57ly; và một khẩu Đại liên M50ly bảo vệ vòng đai
TĐ.
ĐĐ11:
màu xanh da trời/nước biển, là đơn vị tác chiến cấp Đại Đội.
Được trang bị với một Súng cối 60ly, 4 khẩu Đại liên M60mm,
và 4 khẩu phóng lựu M79 cho 4 Trung Đội. ĐĐ11ND gồm 4 Trung
Đội: 1, 2, 5, & 4.
Số 5 thay cho số 3 vì đơn vị này lúc bấy
giờ "kỵ" con số 3 vì tin dị đoan số "3" xui xẻo (bad
luck).... Trung Đội 4 là Trung Đội súng nặng, nhiệm vụ chính
là yểm trợ hỏa lực súng cối 60ly tầm gần cho các Trung Đội
tác chiến 1,2, & 5.
ĐĐ12:
màu đỏ tươi, là đơn vị tác chiến cấp Đại Đội. Trang bị hệt
như ĐĐ11 ở trên.
ĐĐ15:
màu vàng tươi, là đơn vị tác chiến cấp Đại Đội.
[TĐ1ND không dùng số 3 & 13, nên
chỉ có Trung Đội 5 & ĐĐ15 thôi. Lý do: dị đoan].
Trang bị hệt như ĐĐ11 ở trên.
ĐĐ14:
màu tím hoa sim, là đơn vị tác chiến cấp Đại Đội. Trang bị
hệt như ĐĐ11 ở trên.


Các thế hệ TĐ1NDVN từ ngày thành lập
[1/8/1951] đến [30/4/1975]
Lời mở đầu:
phần này liệt kê danh sách các cựu quân nhân (CQN) hay cựu chiến
binh (CCB) Tiểu Đoàn 1 Nhảy dù (TĐ1ND), Sư Đoàn Nhảy Dù (SĐND),
QLVNCH còn sống trên khắp thế giới, kể cả Việt Nam – Không phân
biệt cấp bậc, ngành nghề. Nếu các bạn đã từng là quân nhân phục
vụ tại TĐ1ND, kể cả các đấng Thiên Thần Hỏa Đầu Quân... xin vui
lòng ghi danh vào Trang Tiểu Sử TĐ1ND này ASÁP. Bắt
đầu từ các CCB TĐ1ND của thế hệ đầu tiên
khi QLVNCH chưa được thành lập cho đến ngày 30/4/1975.
Ngày nay các CCB TĐ1ND nói riêng và CCB SĐND nói chung được gọi
là Mũ Đỏ (MĐ). Chú ý: Hình ảnh của các CCB TĐ1ND và bài
viết của họ là do sự tình nguyện và là ý kiến riêng của từng cá nhân
một khi họ nói về giai đoạn lịch sử mà họ phục vụ ở TĐ1ND.
Nhắn tin cho các CCB TĐ1ND khắp thế giới: quí ACE CCB TĐ1ND xin gửi hình ảnh và bài viết của mình về cho
BKT
để cập nhật hóa cho trang điện tử TS/TĐ1ND này. Tiêu chuẩn của bài viết:
quý ACE chỉ thuật lại những gì mắt thấy tai nghe ở thời điểm mà quý ACE phục vụ tại TĐ1ND.
Như lịch sử và những trận đánh lớn nhỏ của TĐ1ND trên khắp các chiến trường VN. Xin ACE cho biết cấp bậc &
chức vụ cuối cùng khi rời TĐ1ND.–bkt


GIAI
ĐOẠN I – THẾ HỆ ĐẦU TIÊN KHI TĐ1ND MỚI ĐƯỢC HÌNH THÀNH
Mũ đỏ (MĐ) Nguyễn Văn Mùi ghi: nguyên Chi hội trưởng
chi hội Gia Đình Mũ Đỏ VN vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn & Phụ cận.
Có thể nói, hiện nay anh Mùi là CCB TĐ1ND kỳ cựu và lâu đời nhất
của TĐ1ND còn sống sót sau cuộc chiến. Sau đây là bài viết của MĐ NVM về thời gian anh
phục vụ tại ĐĐ3/TĐ1ND/SĐND/QLVNCH:
Ngày 1 tháng 8/1951 thành lập Đệ Nhất
Tiểu Đoàn Nhảy Dù Việt Nam (Premier Bataillon de Parachutistes
Vietnamienes) sau này gọi là TĐ1ND. Tiểu đoàn trưởng đầu tiên:
Đại uý LÊ QUANG TRIỆU. Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù đầu tiên của Quân Lực
Việt Nam gồm có các Đại Đội như sau:
Đại Đội 1: Đại uý NGUYỄN KHÁNH làm Đại
đội trưởng (ĐĐT) và Trung uý ĐỖ CAO TRÍ làm Đại đội phó (ĐĐP).
Là ĐĐ Nhảy Dù thuộc Garde VIETNAM du Sud. ĐĐ1 đồn trú tại Thủ
Đức gia nhập TĐ1ND).
Đại Đội 2: Trung uý người PHÁP ĐĐT
(MÙI không nhớ tên) lấy từ Tiểu Đoàn Việt Nam (có Trung sĩ I NGÔ
XUÂN SOẠN).
Đại Đội 3: Trung uý BATAILLE ĐĐT(Anh
MÙI thuộc ĐĐ này). ĐĐ3 nguyên là 1ere Compagnie Indochinoise
Parachutiste trực thuộc 1er.Bataillon de Parachutistes Colonial
(1er.BPC). Đóng tại Dĩ–An.
Đại Đội Chỉ Huy: Trung uý OLIVIER ĐĐT,
đa số người VIỆT lấy từ 1er.BPC (có Trung sĩ SƠN THƯƠNG, THẠCH
AO).
TĐ1ND HÀNH QUÂN TRÊN
KHẮP VIỆT NAM

Tiểu Đoàn ra
Bắc đóng quân tại làng GIÁP BÁT gần phi trường BẠCH MAI. Tại đây
Đại uý NGUYỄN KHÁNH gây gổ lớn tiếng và vô lễ với Đại uý LÊ QUANG
TRIỆU là Tiểu đoàn trưởng và bị điều ra khỏi TĐ1ND.
– ĐĐ3 hành quân vùng Rocher Notre Dame, Ba Vì.
– ĐĐ3 được rút về cùng Tiểu Đoàn và Hành quân Vùng Sept Pagodes/Đông Triều.
– TĐ1ND di chuyển về vùng Hải Dương, giữa đường ĐĐ3 và ĐĐ1 được
lệnh tiếp viện Poste ĐỒNG DU đang bị VC bao vây, tại đây chạm
địch rất nặng, một số sĩ quan và binh sĩ ĐĐ1và ĐĐ3 tử thương, trong số các quân nhân tử trận của ĐĐ1 và ĐĐ3
có Lieutenant (Trung uý) DE LARNAGE ĐĐP/ĐĐ3), sau trận này Đại uý DE FOSSARIEU
[làm]
ĐĐT/ĐĐ3.
– TĐ1ND hành quân vùng Nam Định
– TĐ1ND hành quân vùng Thái Bình
– Ngày 9/2/1952 ĐĐ1 và ĐĐ3 chạm địch rất nặng tại Làng Long
Thôn, Thái Bình gây tử thương cho một số binh sĩ của hai ĐĐ1và ĐĐ3.
– TĐ1ND hành quân Vùng Hòa Bình với nhiệm vụ giữ đường rút lui
của Quân đội Pháp từ Hòa Bình về Hà Nội.
– TĐ1ND trở về Sài Gòn.
– TĐ1ND hành quân nhảy dù vùng Xuyên Mộc.
– Quân đội Pháp chuyển giao TĐ1ND cho sĩ quan Việt Nam chỉ huy.
– TĐ1ND có thêm ĐĐ4 do Trung uý DƯ QUỐC ĐỐNG làm ĐĐT.
– TĐ1ND hành quân Đô Thành Sài Gòn diệt trừ
[quân]
phiến loạn Bình Xuyên.
– TĐ1ND hoàn toàn do các sĩ quan Việt Nam chỉ huy.
– Đại uý VŨ QUANG TÀI sau lên cấp thiếu tá.
– Đại uý TRẦN VĂN ĐÔ.
– Đại uý DƯ QUỐC ĐỐNG.
– Riêng tên các sĩ quan PHÁP TĐT: VERVELLE, PICHERIE, Đại uý MARCHEAU, Đại uý GERAUD sau cùng.
– Đào tạo Nhảy Dù: tại miền Nam Việt Nam có Base Aeroporter du
Sud và Trường Huấn Luyện Nhảy Dù là STUP, Tân Định, và bãi nhảy
là Phú Thọ (sau Khám Chí Hòa). Tại miền Bắc Việt Nam có Base
Aeroporter du Nord ở Chợ Hôm, Hà Nội. Sau này GAP3 (Groupe
Aeroporter Parachutistes số 3) do người Pháp chuyển giao cho
người Việt thành Liên Đoàn Nhảy Dù do Thiếu tá ĐỖ CAO TRÍ chỉ
Huy Trưởng. Gồm có TĐ1ND, TĐ3ND, TĐ5ND, và TĐ6ND.
Hình ảnh
ngày xưa, anh Mùi có rất nhiều, vì thời đó anh có máy ảnh,
thường hay mang theo chụp các cuộc hành quân và dạo phố, vì là
nhảy dù mà anh tình nguyện. Anh lấy bằng dù 19/12/1950 tại
TTHL Nhảy Dù S.T.U.P. Tân Định, Sài Gòn.
Tháng 5/1975, anh MÙI trình diện và bị đi tù ra Bắc đến 1983
được tha về. Chị MÙI và 2 cháu cùng vượt biên 12/1978 và mất
tích. Nhà anh mặt tiền đường, đất do Trung tướng ĐỐNG cấp và anh
tự xây cất (ngang với nhà Tướng LƯỠNG), vì chị MÙI vượt biên nên
Chủ tịch Phường 13/Quận Tân Bình tịch thu và lấy ở. Do đó tất cả
hình ảnh của anh MÙI và Gia đình bị mất mát là đương nhiên.
– Ngày anh MÙI gia nhập Nhảy Dù, Anh MÙI là người trẻ nhất, người hơn anh
MÙI một tuổi với cấp bậc sau cùng là Trung uý PHÙNG VĂN THẠNH.
– Đến 1953 có thêm ĐĐ4.
– Sau này Liên Đoàn Nhảy Dù được nâng lên cấp Lữ Đoàn Nhảy Dù do
Đại tá NGUYỄN CHÁNH THI làm Lữ đoàn trưởng và các ĐĐ 1, 2, 3, 4,
& ĐĐCH trở thành ĐĐ10, 11, 12, 13, 14. Về sau này ĐĐ13
chạm địch và gây tổn thất nặng, sau trận Thủ Thừa, Long An, Đại
Đội 13 đổi thành Đại Đội 15 (có thể vì 13 là con số xấu).

Bức ảnh Kỷ niệm buổi tiệc Sĩ quan, Hạ sĩ quan thuộc
Ban hành chánh Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù tại Nhà hàng Tài Nam 1954
Mũ Đỏ Nguyễn Văn Mùi


G
IAI ĐOẠN
2 – SAU THẬP NIÊN 60
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
|
1. Đại uý Đỗ Tiếp K8–68/SQTB SQB3 LĐIND |
2. Trung uý Nhân ĐĐT ĐĐ10 |
3. Đại uý Trần Văn Thể K24VB–ĐL ĐĐT ĐĐ11 |
4. Trung uý Thọ K25–VBĐL ĐĐT ĐĐ12 |
5. Trung uý Về ĐĐT ĐĐ14 |
6. Đại uý Lộc K23–VBĐL ĐĐT ĐĐ15 |
1. Đại
uý Đỗ Tiếp:
tốt nghiệp Khoá 8/68 SQTB/TĐ. Về TĐ1ND Tết Mậu Thân, bị thương 6
lần trên nhiều mặt trận. SQ Hành quân (B3) TĐ1ND, sau này là
SQB3 LĐIND đến ngày 30/4/1975. Không đầu hàng VC. Đã cùng với
đại bộ phận LĐIND vượt tuyến tỵ nạn CS tại HK 1975.
2. Trung uý Nhân: SQTB/TĐ. Đại
đội trưởng ĐĐ10, Đại đội chỉ huy, TĐ1ND.
3. Đại uý Trần Văn Thể: tốt nghiệp Khoá 24VB–ĐL. Đại đội trưởng ĐĐ11/TĐ1ND.
Sau là SQB3 TĐ1ND cho đến ngày 30/4/1975. Không đầu hàng VC. Đã cùng với đại bộ phận LĐIND vượt tuyến tỵ nạn CS tại HK 1975.
4. Trung uý Thọ: tốt nghiệp Khoá 25VB–ĐL. Đại đội trưởng ĐĐ12/TĐ1ND.
Bị thương nhẹ tại mặt trận Thường Đức 1974. Tiếp tục chiến đấu tại TĐ1ND đến ngày 30/4/1975.
5. Trung uý Về: SQTB/TĐ. Đại đội trưởng ĐĐ14/TĐ1ND. Bị thương tại mặt trận Thường Đức 1974. Giải ngũ.
6. Đại uý Lộc: tốt nghiệp Khoá 23VB–ĐL.
Đại đội trưởng ĐĐ15/TĐ1ND.


GIAI ĐOẠN 3 – MÙA HÈ ĐỎ LỬA 1972
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
|
|
1. Thiếu
uý Huỳnh Lương Thọ K4–71/SQTB/TĐ |
2. Thiếu
uý Lý Ngọc Nghĩa K4–71/SQTB/TĐ |
3. Thiếu
uý Nguyễn Văn Nở K4–71/SQTB/TĐ |
4. Thiếu uý Huỳnh Huê | |
1. Thiếu
uý Huỳnh Lương Thọ:
tốt nghiệp
Khoá 4–71/SQTB/TĐ. Trung đội trưởng Trung đội 1/ĐĐ11/TĐ1ND. Tham dự Chiến dịch Lôi Phong với TĐ1ND đẩy lui địch quân CSBV về bên kia cầu Bến Hải. Rời TĐ1ND sau 1973 và phục vụ tại Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử (BĐTCĐT)/SĐND cho đến ngày 30/4/1975.
2. Thiếu
uý Lý Ngọc Nghĩa:
tốt nghiệp
Khoá 4–71/SQTB/TĐ. Trung đội trưởng. Tham dự Chiến dịch Lôi Phong với TĐ1ND đẩy lui
địch quân CSBV về bên kia cầu Bến Hải. Rời TĐ1ND với
Đại Đội Đa Năng thành lập LĐ4ND. Chiến đấu tại
TĐ12ND cho đến ngày 30/4/1975.
3. Thiếu uý Nguyễn Văn Nở:
tốt nghiệp
Khoá 4–71/SQTB/TĐ. Trung đội trưởng. Tham dự Chiến dịch Lôi Phong với TĐ1ND đẩy lui địch quân CSBV về bên kia cầu Bến Hải. Chiến đấu tại
TĐ1ND cho đến ngày 30/4/1975.
4. Thiếu
uý Huỳnh Huê:
tốt nghiệp
Khoá? SQTB/TĐ. Trung đội trưởng Trung đội 5/ĐĐ11. Tham dự mặt trận Thường Đức, bị thương nặng phải giải ngũ năm 1974.


GIAI ĐOẠN 4 – HÒA ĐÀM BA–LÊ,
CHIẾN TRƯỜNG THƯỜNG ĐỨC & XUÂN LỘC

1. Thiếu uý Nguyễn Bá Toản:
nhập ngũ tháng 10 năm 1972 tại Trung Tâm 2 Tuyển mộ nhập ngũ Nha
Trang, tốt nghiệp Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ.
Danh
Số 242, Trung đội 3/ĐĐ749/TĐ7–SVSQ/Đồng Đế. Sĩ quan Tâm Lý
Chiến, Trung đội trưởng Trung đội 5/ĐĐ11, Đại đội trưởng cuối
cùng của ĐĐ11/TĐ1ND/QLVNCH mặt trận Phước Tuy, Vũng Tàu.
Tham dự các
mặt trận Thường Đức, Xuân Lộc cho đến ngày
30/4/1975. Không đầu hàng VC. Đã cùng với đại bộ phận LĐIND vượt
tuyến tỵ nạn CS tại HK 1975.
Khoảng gần cuối mùa hè 1973,
Tiểu Đoàn (TĐ) 7 Sinh Viên Sĩ Quan 10A–72/SQTB/Đồng Đế
mãn
khoá. Có năm (5) Tân Sĩ Quan của TĐ được Binh Chủng Nhảy Dù/QLVNCH tuyển chọn gồm:
Bùi Định (ĐĐ748),
Nguyễn Bá Toản (ĐĐ749), Vương Văn Kỳ (ĐĐ750),
Phan Tuấn Phi (ĐĐ752), và một người nữa tôi quên tên (ĐĐ752).
Trung tuần tháng 11 năm 1973 chúng tôi
tốt nghiệp
Khoá 321 Nhảy Dù
tại Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù thuộc Căn cứ Hoàng Hoa Thám,
Sài Gòn, nơi đặt Đại bản doanh Bộ Tư Lệnh SĐND/QLVNCH.
Sau đó chúng tôi được bay ra phi trường Phú Bài, Huế thuộc Quân
Khu I để trình diện Bộ Tư Lệnh Tiền Phương SĐND, lúc bấy giờ
đang đồn trú tại căn cứ Hiệp Khánh thuộc địa phận Huế.
Năm 1973 là năm đình chiến vì cả hai miền Nam–Bắc VN vừa mới ký
kết Hiệp ước Hòa Bình tại Ba–lê, Pháp, nên tình hình chiến
trường bấy giờ tạm lắng dịu một thời gian ngắn, và vì thế chúng
tôi được lưu lại tại BTL SĐND hơn một tháng để học
Khoá căn bản
Pháo Binh diện địa trước khi được phân phối về các TĐND tác
chiến. Về TĐ1ND gồm có 3 anh em Định, Kỳ, &
Toản. Còn Phi
về TĐ7ND. Tôi mừng lắm vì 3 AE gốc bắc về cùng một TĐ sẽ
không bị bắt nạt hay bị lẻ loi (tâm lý tân binh ý mà).
Trước khi lên đường rời BTL SĐND, chúng tôi được P1 SĐ (Phòng quản trị
nhân viên) thuyết trình về TĐ1ND. Nghe nói đến tên Trung tá "LÊ
HỒNG" tôi đoán sếp này chắc là "ngầu" lắm đây!
Ít nhất cũng là người miền trung cỡ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, hay gần nhất cũng là Quảng Trị, vì đa số dân miền
trung tên của họ chỉ có hai chữ, ít người có chữ lót...
Sự suy đoán của tôi chỉ trúng có một phần đó là Trung tá
Lê Hồng người quê Quảng Bình/Hà Tĩnh. Chúng tôi đứng
xếp hàng ngang, anh chào chúng tôi bằng câu: "Đại diện
TĐ1ND, tôi, Trung tá Lê Hồng hân hoan chào mừng các Tân Sĩ
Quan TĐ1ND!" và sau đó anh lần lượt bắt tay từng người
sau khi chúng tôi trình diện anh đúng theo phép tắc nhà
binh. Lúc bấy giờ tôi sửng sốt và không thể tưởng tượng được
vị Trung tá TĐT của TĐ đầu tiên của SĐND lại thấp hơn tôi
một nửa cái đầu, chẳng "ngầu/(tough)" tí nào... theo trí
tưởng tượng của tôi khi nãy, người anh trắng trẻo, hồng hào,
và nhỏ con lắm... nếu anh không mặc quân phục thì anh giống
hệt như một thư sinh trung học trói gà không chặt. Anh
đi nhanh như thỏ với một giọng nói đanh thép của một "sếp
chỉ huy mặt trận"...
Bản doanh của TĐ1ND lúc bấy giờ đặt tại làng Cổ Bi, huyện Hiền
Sĩ. Trong làng có con sông tên Sông Bồ chảy ngang, xa xa
về hướng tây là dãy núi Trường sơn hùng vĩ. Toàn cảnh thật là thơ mộng tuyệt đỉnh núi
non, không có một tí tẹo hay hơi hướng chiến tranh. Chỉ tiếc là cách đó vài
chục thước, các người anh em bên kia không thơ mộng tí nào, lúc
nào cũng đăm đăm muốn ăn tươi nuốt sống người anh em bên này cho dù
đang thời đình chiến! Đúng là
VC!
Vì là đình chiến nên VC và ta chỉ có cách nhau vài chục thước
cho đến vài trăm thước tùy địa thế.

2.
Thiếu
uý Bùi Định:
tốt nghiệp Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ. Danh Số 028, Trung đội 1/ĐĐ748/TĐ7–SVSQ/Đồng Đế. Sĩ quan
Trung đội trưởng Trung đội
thuộc ĐĐ12/TĐ1ND. Tham dự mặt trận Thường Đức, bị thương nặng phải giải ngũ năm 1974.
bkt ghi chú: anh Bùi Định cùng khoá với
Danh số 242. Danh số trong quân trường của Bùi Định là 028 nên
anh ta còn có biệt danh Z–028 (vâng, Z–028 chứ không phải Z–28).
Khi TĐ1ND đánh nhau với quân CSBV trên đỉnh 1062 năm ấy, anh Bùi
Định đã mất một "chân" trong trận ác chiến này, nhưng AE cùng
khoá vẫn chưa biết là anh mất "chân nào?"
...
vì hiện nay vẫn thấy anh đi đứng bình thường trên xứ cờ Hoa này!

3. Thiếu uý Vương Văn Kỳ:
tốt nghiệp Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ.
ĐĐ751/TĐ7–SVSQ/Đồng Đế. Sĩ quan Trung đội trưởng thuộc
ĐĐ15/TĐ1ND. Tham dự các mặt trận Thường Đức, Xuân Lộc cho
đến ngày 30/4/1975.

4. Thiếu uý Phong:
tốt nghiệp Khoá (?) SQTB. Sĩ quan
Trung đội trưởng thuộc
ĐĐ12/TĐ1ND. Tham dự mặt trận Thường Đức.

5. Thiếu uý Quách An:
tốt nghiệp Khoá
26 Võ Bị Đà Lạt, sĩ quan
Trung đội trưởng thuộc ĐĐ14/TĐ1ND. Tham dự mặt trận Thường Đức và bị thương.

6. Thiếu uý Tuấn: tốt nghiệp Khoá (?) SQTB.
sĩ quan Truyền Tin thuộc
ĐĐ10/TĐ1ND. Tham dự mặt trận Thường Đức, Xuân Lộc cho đến
ngày 30/4/1975.

7. Thiếu uý Hòa: tốt nghiệp Khoá (?) SQTB.
sĩ quan Trung đội trưởng trung đội Súng cối 81ly thuộc
ĐĐ10/TĐ1ND. Tham dự mặt trận Thường Đức, Xuân Lộc cho đến
ngày 30/4/1975. Sau thuyên chuyển về ĐĐ11ND, Trung đội trưởng
trung đội 4, súng cối.


Danh
sách sĩ quan các cấp từ 1973–30/4/1975
Sau đây là danh sách về giàn sĩ quan của TĐ1ND từ
năm 1973 đến Ngày Quốc Hận 30/4/1975 như sau:
(ghi chú: bkt thiếu tài liệu của
các ĐĐ10, 12, 14, & 15.
Tôi chỉ bắt đầu từ năm 1973 vì năm này là năm tôi bắt đầu về
phục vụ tại TĐ1ND/ĐĐ11ND).
SĨ QUAN TĐ1ND – 1973 GIAI ĐOẠN ĐÌNH CHIẾN
(HÒA ĐÀM BA–LÊ)
Đơn vị: TĐ1ND/BCHTĐ
Chức vụ: Tiểu
đoàn trưởng
Cấp bậc: Trung tá
Khoá SQ: SQĐB/ĐĐ
Tên
Họ: Lê Hồng
Ghi chú: Mất tích tại Chiến khu Thái Lan.
Đơn vị: TĐ1ND/BCHTĐ
Chức vụ: Tiểu đoàn phó
Cấp
bậc: Thiếu tá
Khoá SQ: 18VBQG/ĐL
Tên Họ: Ngô Tùng Châu
Ghi chú: Hoa Kỳ (HK, tại thế tại Mỹ).
Đơn vị:
TĐ1ND/BCHTĐ
Chức vụ: Trưởng Ban 3/HQ
Cấp bậc: Đại uý
Khoá SQ: 8–68/TBTĐ
Tên Họ: Đỗ Tiếp
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ10/BCHTĐ
Chức vụ: Đại đội
trưởng
Cấp bậc: Trung uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Nhân
Đơn vị: ĐĐ10/Truyền tin
Chức vụ: Trưởng ban Truyền
Tin
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Tuấn
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ10/Trung đội súng cối 81ly
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ:
TBTĐ
Tên Họ: Hòa
Đơn vị: ĐĐ11
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Trung uý
Khoá SQ:
24VBQG/ĐL
Tên Họ: Trần Văn Thể
Ghi chú: HK
Đơn
vị: ĐĐ11
Chức vụ: Đại đội phó
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Nguyễn Thế Bằng
Ghi chú: thuyên
chuyển từ KQ.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 1
Chức vụ:
Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: 4–71/TĐ
Tên Họ: Huỳng Lương Thọ
Ghi chú: HK, thuyên chuyển qua
Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử/SĐND.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung
Đội 1
Chức vụ: Phụ tá Trung đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn
uý
Khoá SQ: K4/Đồng Đế
Tên Họ: Nguyễn Quang Tuyến
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 2
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: 4–71/TĐ
Tên Họ: Lý Ngọc
Nghĩa
Ghi chú: Đại Đội Đa Năng thuyên chuyển về LĐIVND
tân lập, tạ thế tại VN.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 2
Chức vụ: Phụ tá Trung đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Mẫn
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 4
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ:
4–71/TĐ
Tên Họ: Nguyễn Văn Nở
Đơn vị: ĐĐ11/Trung
Đội 4
Chức vụ: Phụ tá Trung đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn
uý
Khoá SQ: SQTB
Tên Họ: Phạm Thanh Quan
Đơn
vị: ĐĐ11/Trung Đội 5
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp
bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Huỳnh Huê
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 5
Chức vụ: Phụ tá Trung đội
trưởng, kiêm Trưởng B5
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ:
10A–72/ĐĐ
Tên Họ: Nguyễn Bá Toản
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Trung uý
Khoá SQ: K25VBQG/ĐL
Tên Họ: Thọ
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Đại đội phó
Cấp bậc: Trung uý
Khoá SQ: SQĐB/ĐĐ
Tên Họ: Khánh
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc:
Chuẩn uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Phong
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc:
Chuẩn uý
Khoá SQ: 10A–72/ĐĐ
Tên Họ: Bùi Định
Ghi
chú: HK
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Hiếu
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu
uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Đức
Đơn vị:
ĐĐ14
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Trung
uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Về
Đơn vị: ĐĐ14
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ:
TBTĐ
Tên Họ: Lê Văn Bá
Đơn vị: ĐĐ14
Chức vụ:
Trung đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ: 6–72/TĐ
Tên Họ: Nguyễn Tường Loan
Đơn vị: ĐĐ15
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Đại uý
Khoá SQ:
K23VBQG/ĐL
Tên Họ: Lộc
Đơn vị: ĐĐ15
Chức vụ:
Trung đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ: 10A–72/ĐĐ
Tên Họ: Vương Văn Kỳ
Đơn vị: ĐĐ15
Chức vụ: Trung
đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ:
Lịch
SĨ QUAN TĐ1ND – 1974
MẶT TRẬN THƯỜNG ĐỨC, ĐÀ
NẴNG, QĐ–I
Đơn vị: TĐ1ND/BCHTĐ
Chức vụ: Tiểu
đoàn trưởng
Cấp bậc: Thiếu tá
Khoá SQ: 18VBQG/ĐL
Tên Họ: Ngô Tùng Châu
Ghi chú: Hoa Kỳ (HK, tạ thế tại Mỹ)
Đơn vị: TĐ1ND/BCHTĐ
Chức vụ: Tiểu đoàn phó
Cấp
bậc: Thiếu tá
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Quí
Đơn vị:
TĐ1ND/BCHTĐ
Chức vụ: Tiểu đoàn phó
Cấp bậc: Thiếu tá
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Phú
Ghi chú: sau thuyên chuyển
về LĐIVND tân lập.
Đơn vị: ĐĐ10
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Đại uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: tôi quên tên vị ĐĐT này
Ghi chú: thuyên chuyển từ
ĐPQ
Đơn vị: ĐĐ10/Truyền tin
Chức vụ: Trưởng ban
Truyền Tin
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ:
Tuấn
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ10/Trung đội súng cối
81ly
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Hòa
Đơn vị: ĐĐ11
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Đại uý
Khoá SQ:
24VBQG/ĐL
Tên Họ: Trần Văn Thể
Ghi chú: HK
Đơn
vị: ĐĐ11
Chức vụ: Đại đội phó
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Nguyễn Thế Bằng
Ghi chú: tử trận
tại Đồi 1062, chiến trận Thường Đức.
Đơn vị:
ĐĐ11/Trung Đội 1
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc:
Thiếu uý
Khoá SQ: K4–72/ĐĐ
Tên Họ: Nguyễn Quang Tuyến
Ghi chú: tử trận tại Đồi 1062, chiến trận Thường Đức.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 1
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Mẫn
Ghi
chú: thay thế cố Trung uý Tuyến tại chiến trận Thường Đức.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 2
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Phạm Thanh
Quan
Ghi chú: tử trận tại Đồi 1062, chiến trận Thường
Đức.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 2
Chức vụ: Trung đội
trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ:
Nguyễn Văn Ba
Ghi chú: thay thế cố Trung uý Quan.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 4
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp
bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: 4–71/TĐ
Tên Họ: Nguyễn Văn Nở
Ghi chú: Đại Đội Đa Năng, Sau thuyên chuyển về LĐIVND tân
lập.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 5
Chức vụ: Trung đội
trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ:
Huỳnh Huê
Ghi chú: bị thương giải ngũ tại Đồi 1062, chiến
trận Thường Đức.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 5
Chức vụ:
Trung đội trưởng, kiêm Trưởng B5
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: 10A–72/ĐĐ
Tên Họ: Nguyễn Bá Toản
Ghi chú: HK,
thay thế Thiếu uý Huỳnh Huê.
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Trung uý
Khoá SQ:
K25VBQG/ĐL
Tên Họ: Thọ
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Đại đội phó
Cấp bậc: Trung uý
Khoá SQ:
SQĐB/ĐĐ
Tên Họ: Khánh
Ghi chú: Tử trận tại Đồi 1062,
chiến trận Thường Đức.
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Trung
đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ:
Phong
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Trung
đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ: 10A–72/ĐĐ
Tên
Họ: Bùi Định
Ghi chú: bị thương giải ngũ tại Đồi 1062,
chiến trận Thường Đức.
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Trung
đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ:
Hiếu
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp
bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Đức
Đơn vị: ĐĐ14
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Trung uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Về
Ghi chú:
bị thương giải ngũ tại Đồi 1062, chiến trận Thường Đức.
Đơn vị: ĐĐ14
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc:
Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Lê Văn Bá
Ghi chú:
tử trận tại Đồi 1062, chiến trận Thường Đức.
Đơn vị:
ĐĐ14
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: 6–72/TĐ
Tên Họ: Nguyễn Tường Loan
Ghi chú: tử
trận tại chiến trận Thường Đức
Đơn vị: ĐĐ14
Chức
vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ:
K26VBQG/ĐL
Tên Họ: Quách An
Ghi chú: bị thương giải
ngũ tại Đồi 1062, chiến trận Thường Đức.
Đơn
vị: ĐĐ15
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Đại
uý
Khoá SQ: K23VBQG/ĐL
Tên Họ: Lộc
Đơn vị: ĐĐ15
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ:
10A–72/ĐĐ
Tên Họ: Vương Văn Kỳ
Đơn vị: ĐĐ15
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ:
TBTĐ
Tên Họ: Lịch
SĨ QUAN TĐ1ND – 1975
MẶT TRẬN XUÂN LỘC, LONG
KHÁNH, QĐ–III
Đơn vị: TĐ1ND/BCHTĐ
Chức vụ: Tiểu đoàn trưởng
Cấp
bậc: Thiếu tá
Khoá SQ: 18VBQG/ĐL
Tên Họ: Ngô Tùng Châu
Ghi chú: Hoa Kỳ (HK, tạ thế tại Mỹ)
Đơn vị:
TĐ1ND/BCHTĐ
Chức vụ: Tiểu đoàn phó
Cấp bậc: Đại uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Chí(?)
Đơn vị: TĐ1ND/BCHTĐ
Chức vụ: Trưởng Ban 3/HQ
Cấp bậc: Đại uý
Khoá SQ:
24VBQG/ĐL
Tên Họ: Trần Văn Thể
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ10
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Đại uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: tôi quên tên vị
ĐĐT này
Ghi chú: thuyên chuyển từ ĐPQ
Đơn vị:
ĐĐ10/Truyền tin
Chức vụ: Trưởng ban Truyền Tin
Cấp
bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Tuấn
Ghi chú:
HK
Đơn vị: ĐĐ10/Trung đội súng cối 81ly
Chức vụ:
Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Hòa
Ghi chú: sau thuyên chuyển về ĐĐ11 làm Trung
đội trưởng Trung Đội 4 súng nặng.
Đơn vị:
ĐĐ11
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu
uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Vũ Công Khanh
Ghi chú: tử
trận tại chiến trường Xuân Lộc
Đơn vị: ĐĐ11
Chức
vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ:
K10A–72/ĐĐ
Tên Họ: Nguyễn Bá Toản
Ghi chú: thay thế cố
Trung uý Vũ Công Khanh tử trận tại chiến trường Xuân Lộc.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 1
Chức vụ: Xử Lý Thường Vụ
Trung đội trưởng
Cấp bậc: Trung sĩ I
Khoá SQ: Trường
HSQ Đồng Đế
Tên Họ: Nguyễn Văn Đức
Ghi chú: thay thế
cố Trung uý Mẫn tử trận tại chiến trường Xuân Lộc.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 2
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp
bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Nguyễn Văn Ba
Ghi chú: thay thế cố Trung uý Quan tử trận tại chiến trận
Đồi 1062, Thường Đức.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung Đội 4
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ:
TBTĐ
Tên Họ: Hoà
Ghi chú: thuyên chuyển từ
ĐĐ10ND/Trung đội súng cối 81ly.
Đơn vị: ĐĐ11/Trung
Đội 5
Chức vụ: Xử Lý Thường Vụ Trung đội trưởng
Cấp
bậc: Trung sĩ I
Khoá SQ: Trường HSQ Đồng Đế
Tên Họ:
Lê? văn Phúc
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Trung uý
Khoá SQ:
K25VBQG/ĐL
Tên Họ: Thọ
Ghi chú: HK
Đơn vị: ĐĐ12
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ:
TBTĐ
Tên Họ: Phong
Ghi chú: HK
Đơn vị:
ĐĐ14
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Trung
uý
Khoá SQ: TBTĐ
Tên Họ: Hữu
Đơn vị:
ĐĐ15
Chức vụ: Đại đội trưởng
Cấp bậc: Đại uý
Khoá SQ: K23VBQG/ĐL
Tên Họ: Lộc
Đơn vị: ĐĐ15
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Thiếu uý
Khoá SQ:
10A–72/ĐĐ
Tên Họ: Vương Văn Kỳ
Đơn vị: ĐĐ15
Chức vụ: Trung đội trưởng
Cấp bậc: Chuẩn uý
Khoá SQ:
TBTĐ
Tên Họ: Lịch.
Giàn sĩ quan của TĐ1ND vào năm 1973 rất đầy đủ theo lý thuyết,
mỗi trung đội tác chiến của mỗi ĐĐ đều có hai sĩ quan: 1 Trung
đội trưởng và 1 sĩ quan Phụ tá. Chữ "phụ tá" gọi cho oai thôi
chứ thật sự chúng tôi chỉ là những quan sát viên không hơn không
kém. Ngày ấy tôi theo anh Huỳnh Huê, Trung đội trưởng trung
đội 5, để
học đủ mọi thứ mà các khoá đàn anh chúng tôi đã đi qua trên
chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 trước đó. Thời gian đình chiến
1973 là thời kỳ nghỉ ngơi để phe ta và phe địch bổ sung quân số,
v.v. Riêng TĐ1ND thì ngoài việc học tập binh bị, thỉnh thoảng
còn có sinh hoạt Tâm lý chiến ở BCH TĐ do Trung tá Lê Hồng tổ
chức. Đây là thời gian thần tiên nhất trong cuộc đời CBND
[chiến binh nhảy dù] của
tôi. Tôi được gửi đi học một khoá Chiến Tranh Chính Trị
một tháng
tại trường Đại học CTCT/QLVNCH Đà Lạt. Nơi đây tôi được gặp các bậc "sư
tổ" về các môn chính trị, thuật ăn nói, v.v. như Thầy Thích Giác
Đức, Cha Nguyễn Văn Vàng (LM DCCT), và nhiều GS khác nữa tôi
không còn nhớ tên họ được. Đặc biệt trong số các GS chính trị
này tôi còn nhớ có một ông GS người Tây nữa. Không những ông GS
người Tây này giảng đã hay, mà ông Thiếu tá GS VN thông dịch
viên Pháp–Việt còn hay hơn nữa qua cách diễn đạt của ông bằng
tiếng Việt. Lớp của tôi lúc bấy giờ phỏng độ 300–400 khoá sinh
mang cấp bậc từ chuẩn uý đến đại uý được gửi về từ khắp các
chiến trường trên 4 vùng chiến thuật.
Để tôi kể sơ về ngôi trường ĐH–CTCT
danh tiếng của QLVNCH tại Đà Lạt này cho các Quan VNCH nào chưa
từng ghé thăm trường này: số là ngay trước cổng trường ĐH–CTCT
có một trường nữ trung học, tọa lạc ngay trên đồi, và phía trái
cổng chính của trường, tôi nhớ lõm bõm tên trường đó là Bùi Thị
Xuân hay Đoàn Thị Điểm... chi đó? Truyền thuyết kể rằng các vị
nữ sinh học trường này đẹp ra phết, nhất nhì Đông Nam Á Châu chứ
chẳng chơi! Hơn cả Gia Long Sài Gòn và Đồng Khánh của Cố Đô Huế
nữa. Tôi muốn tò mò xem thử họ đẹp ra sao mà mấy bố ca ngợi họ
hết mình như thế. Vào một buổi chiều sau giờ tan học, các nàng
cũng tan học vào đúng giờ chúng tôi được phép xuất trại. Tôi đi
ngay vào trong đám nữ sinh và nhìn tận mặt họ mà chẳng biết xấu
hổ là gì, họ cũng rất lịch sự đã không tỏ vẻ khó chịu hay phản
ứng khi thấy tôi hiên ngang xung phong vào tuyến của họ bất ngờ
và tự nhiên như thế. Dưới cặp mắt tôi, họ đều na ná giống nhau,
chẳng phân biệt được nàng nào hơn nàng nào như truyền thuyết kể.
Có nhẽ vì lúc bấy giờ tôi chưa có khái niệm về cuộc sống tình tự
với một người khác phái như thế nào nên đã không nhận ra vẻ đẹp
tuyệt trần của các cô ấy!
Nói tóm lại, nữ sinh của hầu hết các trường trung học miền nam
ngày trước họ đều mặc áo dài trắng toát, khi tan học họ như một
đàn cò trắng đáp xuống những cánh đồng lúa mạ xanh tươi và mênh
mông của miền nam nước Việt thân yêu ta để tìm mồi trông thật
ngoạn mục và tuyệt đẹp! Cái đẹp này quyện vào với phong cảnh đồi
núi và cây rừng trùng điệp của xứ Đà Lạt Hoa Anh Đào lại càng
thêm sức quyến rũ và huyền diệu.
Ở TĐ1ND tôi đã hân hạnh được hành quân chung với các vị
sĩ quan
đàn anh dày kinh nghiệm chiến trường. Các SQ Huynh trưởng của
tôi lúc bấy giờ thật là tử tế với các đàn em. Từ anh TĐT đến anh
Trung đội trưởng, nhất nhất họ xử sự đúng với tư cách của những
người anh trong một gia đình to đùng như TĐ1ND. Trong họ tôi không
thấy hiện diện thái độ phách lối hay ngạo mạn. Họ làm trước,
chúng tôi quan sát và cứ theo mẫu mà làm. Có lẽ vì đã trải qua
những trận mạc kinh thiên động địa như Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 tại
Mặt trận Quảng Trị, họ đã diện đối diện với sự sống và sự chết
chỉ trong gang tấc trên các mặt trận, và vì vậy mà cách sống và
lối cư xử của họ với người chung quanh có khác với một số
người ở thành thị.
Lại nữa, trong suốt thời gian tôi biết và làm việc với anh Lê
Hồng (cựu TĐT TĐ1ND), chưa bao giờ tôi nghe anh to tiếng với một
binh sĩ hay sĩ quan trong TĐ1ND, hay ở LLQNVNHN ở Mỹ. Tôi cũng
chưa từng nghe anh chửi thề, điều này rất hiếm trong nhà binh,
nhất là ở các đơn vị tác chiến. Nhưng không phải là không có,
tỉ dụ như ở Đại Đội tôi, anh ĐĐT chửi thề luôn miệng. Sáng sớm tinh sương, chưa có một hạt cơm
nào bỏ bụng là đã nghe anh oang oang đỗ mười
ai đó rồi. Trong một đoạn đàm thoại dài độ khoảng một phút với
một AE nào đó trong đơn vị mà không có những chữ đỗ mười
hay chống cộng một cách thoải mái xen
vào thì anh đã nên Thánh hôm đó! Thật vậy,
chửi thề là một thói quen vô hại của những chàng trai thời loạn.
Và tôi cũng đã chửi thề nhưng chỉ chửi VC thôi.
Hồi ở 1062 (Mặt trận Thường Đức), vào một đêm rất khuya và rất
thanh tịnh, không một tiếng súng, anh ĐĐT của tôi quát một anh chàng nào
đó trong Ban Chỉ Huy ĐĐ làm rung rinh cả một quần thể các ngọn
núi, trong đó có đồi 1062, trong rặng Trường Sơn hùng vĩ nơi
chúng tôi đang đóng quân. Tôi chưa được nghe tiếng hú rùng rợn
của Tạ Tốn nhưng với giọng quát của anh ĐĐT của tôi thật lớn và hãi hùng
khuya hôm đó thì cũng đã đủ để tôi tin là Tạ Tốn cũng có khả
năng làm thế như đã tả trong tiểu thuyết Kim Dung. Tôi nghĩ đêm hôm ấy
nếu có một mống VC nào nhỡ bò vào tuyến ĐĐ của chúng tôi chắc cũng đã hồn
phi phách tán mà lặng lẽ rút lui đợi dịp khác thôi! Trung đội 5
của tôi thì thích lắm vì chúng tôi không phải xin Pháo binh bắn
cho ấm cật hằng đêm nếu anh ĐĐT cứ nổi mát như thế mỗi đêm. Và
khi ngày hết thì mọi người trong đơn vị đều là AE cả! NHẢY DÙ CỐ
GẮNG!
Viết xong ngày Thứ Ba, February 28th, 2012
bkt


Phụ
lục

Tiểu đoàn trưởng thứ 14 của
TĐ1ND –
Trung tá Lê Hồng (7/1972–1973)
Vài nét về Cố Trung tá Lê Hồng:
Trung tá Lê Hồng
(*)
là vị Tiểu đoàn trưởng thứ 14 của
TĐ1ND. Sau khi bàn giao TĐ1ND
cho Thiếu tá Ngô Tùng Châu tại quận Điện Bàn tỉnh Quảng Nam
mặt trận Thường Đức vào mùa thu 1974, Trung tá Lê Hồng về Bộ chỉ
huy LĐIND và nhận chức vụ Lữ đoàn phó.
Tham dự chiến trận
Thường Đức gồm có LĐIND với ba Tiểu Đoàn: TĐ1ND, TĐ8ND, và
TĐ9ND. TĐ1ND là TĐ đầu tiên (khinh binh) lên
Đỉnh núi 1062 với
cố Trung uý Phạm Thanh Quang thuộc
ĐĐ11, là SQ Trung đội trưởng đầu tiên mở đường
đem được quân Trung đội 2 của anh lên Đồi 1062, anh đã
tử trận cùng
ngày sau khi tạm thời chiếm được mục tiêu (Đồi 1062). Sau này
Đồi 1062 đã hoàn toàn trong tay quân ta kiểm soát, rồi thì cũng đã có một
ngày TĐ1ND được lệnh hạ san (xuống núi) bỏ mục tiêu chiếm đóng.
[Người viết bài này lúc bấy giờ
đang ở Bộ chỉ huy TĐ1ND, Ban 5 – Ban Tâm lý chiến TĐ, cách
Trung đội 2/ĐĐ11ND đang quần thảo với địch quân trên Đỉnh
1062 khoảng 200–250 mét]. Cũng tại mặt trận này
cố Trung uý Lê Văn Bá Trung đội trưởng thuộc ĐĐ14 tử trận,
đồng đội không lấy được tử thi của anh, nhưng một tháng sau anh
Bá về báo mộng cho Trung tá Lê Hồng
[anh Hồng kể lại]
biết anh đang nằm ở một khe đá(?) trên Đồi 1062, và binh sĩ
TĐ1ND đi lục soát và đã tìm được tử thi của anh Bá đem về cho
gia đình anh ở Quảng Ngãi.
Toàn bộ LĐIND sau đó về Sài Gòn để dưỡng quân và bổ sung quân
số.
Khoảng đầu tháng 4/1975, LĐIND lại được trực thăng vận
xuống mặt trận Xuân Lộc/Long Khánh
cũng với ba Tiểu đoàn 1,
8, và 9. Đoàn quân tiếp tục chiến đấu đến khi được lệnh triệt
thoái khỏi mặt trận Xuân Lộc/Long Khánh. Trong trận lui binh
này,
Trung tá Lê Hồng là người đã điều động toàn bộ
LĐIND bao bọc đoạn chót của đoàn quân (lúc bấy giờ không còn
bóng dáng SĐ18BB) gồm các lực lượng dân quân cán chính của Tiểu
khu Long Khánh và đồng bào nghèo khổ chạy tỵ nạn VC ra khỏi Long
khánh về Phước Tuy. Tại Phước Tuy, ĐĐ11/TĐ1ND đã
được các thuyền chở muối của ngư dân chở về Vũng Tàu. Một ngày
sau thì LĐIND chèo thuyền về bến Vàm Láng, Tiểu khu Gò Công, nói
là để về Quân Khu–IV(?) thiết lập vòng đai phòng thủ mới nhưng
việc đã không thành.
Ngày thứ Tư 30 tháng 4, năm 1975, Tổng thống
cuối cùng của VNCH là Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng VC.
Tại chợ Vàm Láng, một số anh em binh sĩ và sĩ quan đã rời bỏ đơn
vị để về với gia đình của họ.
Trung tá Lê Hồng quyết
định không đầu hàng địch quân CSBV
mặc dù lúc bấy
giờ Vàm Láng, Gò Công không có bóng dáng quân địch cũng như
tiếng súng của hai bên. Trung tá Lê Hồng tiếp tục chỉ huy phần
còn lại của LĐIND xuống tàu và vượt biển ngay trong đêm cùng
ngày.
Đêm định mệnh: 30/4/1975.
Các con tàu vượt biên của LĐIND gồm ba
chiếc tầu lớn: Tàu Bộ chỉ huy LĐIND là một chiếc tàu buôn Sài
Gòn–Hương Cảng bằng gỗ, chở các binh sĩ của BCH LĐIND và TĐ1ND, hai
chiếc tàu sắt lớn (tầu dầu) chở TĐ8ND và TĐ9ND, và một số ghe
nhỏ. Các con tàu 8 & 9ND đã đi trước, riêng tàu BCH/LĐIND vẫn
còn bỏ neo ngoài khơi Vàm Láng để đợi 2 sĩ quan LĐT/LĐIND và
TĐT/TĐ1ND đã rời đơn vị trong ngày để về Sài Gòn rước gia đình họ. Đại Đội 11/TĐ1ND đã
cử Trung đội 1 do Trung sĩ Nguyễn Văn Đức chỉ huy thay cho
Trung đội trưởng, cố Trung uý Mẫn, đã tử trận tại Long Khánh, lưu
lại tại chợ Vàm Láng để rước LĐT & TĐT/TĐ1ND cùng với gia đình
họ lên tàu. Đến khoảng 10:30g đêm 30/4/1975 không thấy 2 sĩ quan
LĐT/LĐIND và TĐT/TĐ1ND và gia đình họ, Trung tá Lê Hồng đã lệnh cho TS N.V.Đức rời
vị trí trở ra tàu Lữ Đoàn, và cho tàu nổ máy ra khơi hướng về Biển Đông.
(Ghi chú: xét về "lý" thì
không ai có thể hay có quyền trách móc những anh em đã rời bỏ
hàng ngũ để về với gia đình của họ vì họ đã chu toàn trách nhiệm
của họ. Khi người lãnh đạo của một chính thể đã tuyên bố đầu
hàng địch quân thì đoàn quân của chính thể đó có quyền ai về nhà
người nấy nếu chưa chính thức lọt vào tay địch. Xét về "tình",
và với tinh thần Nhảy Dù Cố Gắng " thì giã từ đồng đội
ngay trong những giờ phút "cô đơn & và buồn tủi" nhất trong đời
chiến binh... là một điều khó quên suốt đời.)
Mờ sáng Thứ năm 1 tháng 5, năm 1975, đoàn tàu đã đến được
hải phận quốc tế (ngoài bể Thái Bình Dương) và đổ bộ lên xà lan của
Quân Đội Hoa Kỳ cùng ngày bình an.
Con thuyền bằng gỗ chở
BCH LĐIND sau đó đã được ai đó phóng hỏa ngay trên biển TBD.
Khoảng năm ngày sau thì đoàn quân LĐIND đã được tàu Hải quân Hoa
Kỳ chở về vịnh Subic, căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ lớn nhất tại Thái Bình Dương,
Phi Luật Tân.
Mặc dầu không còn nước VNCH nữa nhưng anh
Lê Hồng vẫn tiếp tục lo cho đoàn quân tỵ nạn LĐIND làm giấy tờ
nhập trại tỵ nạn tại đảo Guam, Phi Luật Tân một cách chu đáo. Vả lại anh nói thạo anh văn lắm nên mọi việc anh lo đều thuận
tiện dễ dàng giữa lính VNCH & Ban quản trị trại tỵ nạn người Mỹ.
(Ghi chú: sau khi xuống bến tàu
tại vịnh Subic thì các đơn vị đã tách rời đi riêng chỉ còn một
số khoảng hơn một trăm anh em thuộc BCH LĐIND và các anh em
TĐ1ND là theo Trung tá Lê Hồng đáp chuyến phi cơ C–141 của Không
Lực Hoa Kỳ về trại tỵ nạn ở đảo Guam ngay trong đêm. Sĩ quan
trong toán này có Lê Hồng, Đỗ Tiếp, Trần Văn Thể, & Nguyễn Bá
Toản đều là CCB của TĐ1ND. Sau này các đơn vị lại có cơ hội gặp
nhau tại trại tỵ nạn CS ở đảo Guam, Phi Luật Tân)
Phong cảnh đảo Guam thật đơn giản, toàn đất đá, chung quanh là
biển cả, trên đảo lác đác vài nhóm cây phi lao (dương liễu),
trời nóng bức như ở Việt Nam ta nhưng nhờ ở sát biển thỉnh
thoảng có gió biển thổi vào
cũng thoải mái chút đỉnh. Chúng tôi ở đây khoảng hơn một
tháng, quần áo muốn kiểu nào cũng có, cứ việc ra bãi quần áo
"mới" mà lựa cho hợp với bộ xương cách trí của mình, còn cơm
nước thì hàng ngày có lính Mỹ "đút"
cho ăn (nghĩa là một ngày có 3 bữa cơm đúng theo tiêu chuẩn của
người Mỹ tại lục địa Hoa Kỳ. Chúng tôi chẳng phải làm lụng chi cả,
cứ đến các giờ ăn là thầy trò tự động kéo nhau đi xếp hàng một
vào nhà cơm. Nhà cơm là một cái lều dã chiến của nhà binh
to lắm, rất vệ sinh sạch sẽ, có thể chứa được 1 đến 2 trăm người.)
Nước Mỹ thật vĩ đại (hồi đó cơ!) Đối với lính
trận như tôi thì đời sống ở
Guam thật là thần tiên bù lại những năm tháng trận mạc ăn cơm cá
mối khô muôn đời Lục quân VN! Tôi lợi dụng tối đa thời điểm này chỉ ăn và ngủ cho lại sức!
Cũng nên nhắc lại sự kiện có một số AEND và nhiều người thuộc lãnh
vực dân sự đã xin hồi hương và được chấp thuận. Những người tỵ
nạn hồi hương về VN trên con tầu Việt Nam Thương Tín được QĐHK
tiếp tế nhiên liệu và lương thực trước khi rời Phi Luật Tân.
Vào lục địa Mỹ, anh Lê Hồng và đa số các anh em LĐIND được bay
về một trại tỵ nạn thuộc tiểu bang Pennsylvania. Trại tỵ nạn này
là một đồn lính có tên là "Fort Indiantown Gap"
thuộc địa phận quận Lebanon, là Trung tâm Huấn luyện Vệ Binh
Quốc gia của Hoa Kỳ (National Guard), và cũng là Tổng hành dinh
của các Bộ Quốc phòng, Bộ Cựu Chiến Binh, và Lực lượng Vệ Binh
Quốc gia thuộc tiểu bang Pennsylvania. Đồn
Indiantown Gap
cách thành phố Harrisburg 35 dặm về
hướng Đông–Bắc. Trong suốt thời gian ở trại tỵ nạn CS, anh Hồng
đã dàn xếp để 4 sĩ quan thuộc TĐ1ND khi xưa, cùng ở chung một
doanh trại và cùng một phòng với anh cho vui: đó là các anh Lê Hồng (Trung tá LĐP), anh Đỗ Tiếp (Đại uý B3 LĐIND), anh Trần Văn Thể (Đại
uý B3
TĐ1ND), và Nguyễn Bá Toản (Thiếu uý ĐĐ11/TĐ1ND). Địa chỉ của chúng tôi lúc bấy giờ (June/1975) là Doanh trại số 6–47, Trại tỵ nạn CS Indiantown Gap, Pennsylvania như
sau:
Deptpartment Of the Army
Headquarters Task Force New Arrivals
46th Task Force, Barrack No. 6–47
Fort Indiantown Gap, PA 17003.
Anh Hồng là một cựu quân nhân công giáo rất "ngoan đạo". Khi còn là TĐT TĐ1ND đóng ở Cổ Bi, Huế, thỉnh thoảng anh mời
Cha cố
Trung tá Mathia Vũ Ngọc Đáng, Tuyên uý trưởng SĐND/QLVNCH bay
ra vùng hành quân để giải tội, làm lễ, và ban phúc lành cho các
AE CG TĐ1ND. Vào những dịp này, anh lệnh cho các Đại đội trưởng
tác chiến phải tạo mọi cơ hội thuận tiện cho các AE CG về BCH/TĐ
tham dự thánh lễ. Vào những dịp này tôi thích lắm vì được miễn
công tác, lại vừa đi vừa được ngắm cảnh "đẹp" nữa, rồi lại được BCH/TĐ
đãi một chầu cơm trưa sau thánh lễ. Tại trại tỵ nạn ở Mỹ anh
Hồng cũng không quên đời sống đạo. Vào một ngày nọ
anh nhắc tôi thế này:
"Toản đã đi rửa tội chưa?"; tôi ngạc nhiên hỏi
lại: anh muốn nói "xưng tội?"; anh trả lời: không, anh nói
là "rửa tội cơ." Tôi trả lời: "thưa anh, em đã được rửa tội
ngay khi lọt lòng mẹ được hai tháng". Anh nói: "nhưng chúng
ta đến nơi này không còn giấy tờ gì cả và phòng Tuyên uý
công giáo của trại đang khuyến khích đồng bào tỵ nạn CG nên
ghi danh để thiết lập lại chứng chỉ rửa tội đó!" Thế là tôi lên phòng Tuyên uý
trại gặp cha Tuyên uý Phạm Văn Phương và ngài ký cho ngay
một giấy chứng chỉ rửa tội tại Huê Kỳ ngon lành, không cần
nhân chứng, cũng chẳng có bố mẹ đỡ đầu!
(Chú ý: Trên mảnh giấy này có một
vài chỗ được tẩy xóa vì lý do cá nhân, xin quí vị thông cảm.)
Anh Hồng sau đó được một sĩ quan Mỹ đã về hưu (?), cựu cố vấn
SĐND/VNCH thuộc Sư Đoàn 82 Nhảy Dù bảo trợ ra khỏi trại.
SĐ82ND/HK hiện đang đồn trú tại thành phố Fayetteville tiểu
bang North Carolina, Hoa Kỳ. Cuộc đời anh Hồng, như bao nhiêu
người Việt tỵ nạn CS khác, bắt đầu trở về
con số không từ đây:
người bảo trợ tìm được cho anh
một công việc "vá dù & xếp dù" trong Đại bản doanh của SĐ82ND
(82nd Airborne Division).
Đầu tháng 8 năm 1975 anh Hồng tìm được một gia đình người Mỹ (để
bảo trợ tôi) ở
cách thành phố anh đang định cư khoảng nửa giờ lái xe và dặn tôi
nên nhận lời họ vì anh muốn tôi về vùng gần anh đang ở cho có
AE, tôi đã nhận lời. Khoảng giữa tháng 8 năm 1975 thì Ban quản
trị Trại tỵ nạn báo cho tôi chuẩn bị lên văn phòng làm giấy tờ
để xuất trại. Và vào ngày Chúa Nhật 7 tháng 9, năm 1975,
tôi đáp chuyến bay hãng TWA phi vụ số 881 từ phi trường
Harrisburg, Pensylvannia, máy bay ngừng ở Pittsburgh, PA để đổi
sang phi vụ số 739, và sau đó bay thẳng về Raleigh, thủ phủ của
tiểu bang North Carolina, máy bay đáp xuống đất khoảng 7:00g
chiều cùng ngày. Anh Hồng và người Mỹ bảo trợ đón tôi tại phi
trường Raleigh.
(Ghi chú:
vé máy bay là do cơ quan từ thiện Công Giáo Hoa Kỳ tặng cho
những người tỵ nạn CS có ghi danh nhận sự giúp đỡ của họ bất
luận
tôn giáo, tên tiếng Anh là "
United States Catholic
Conference " viết tắt "USCC" (hiện nay
USCC đã đổi tên thành Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ
– United States Conference of Catholic Bishops).
Khi về nhà người bảo trợ mỗi người tỵ nạn phải có
giấy chứng nhận sức khỏe của Bộ Y Tế HK
và
giấy chứng nhận tài sản khi xuất trại.)
Nhà ông bà bảo trợ của tôi cách bản doanh SĐ82ND/HK
khoảng 30 phút lái xe. Ông là người gốc Ái–Nhĩ–Lan (Ireland)
công giáo, bà là người gốc Đức đẹp lắm, theo đạo Tin lành
(Lutheran), họ hiền và rất tử tế, cả hai đều có con riêng và
các con họ đã trưởng thành. Nhà chỉ
còn hai ông bà, anh con cả bệnh của ông, con chó tên skippy,
và tôi. Ông bà đối xử với tôi không khác chi một người con
trong gia đình. Ông qua đời năm 1991, 93 tuổi, bà mất năm
2009, 87 tuổi. Anh Hồng thường hay đi lễ Chúa Nhật ở nhà thờ
ông bà bảo trợ tôi nên thỉnh thoảng anh đưa tôi về (lúc bấy giờ tôi chưa có
xe hơi) chung cư của anh ở thành phố Fayetteville để AE tâm sự
cuối tuần cho vui, nhưng mục đích chính là để cho tôi khỏi "đào
ngũ" khỏi vùng này để về các đô thị phồn hoa lớn như
California.... Một thời gian sau đó thì anh Đỗ Tiếp (Đại uý
B3–LĐIND) cũng về ở cùng căn chung cư (apartment) với anh. Như
vậy là 3 sĩ quan thuộc TĐ1ND: Hồng, Tiếp, & Toản còn ở gần nhau
trong khoảng cách nửa giờ lái xe trong khoảng hơn một năm. Chỉ
có anh Thể lúc bấy giờ đã đi định cư ở tiểu bang California cho
đến nay.
Năm tháng trôi qua không bao lâu thì anh Hồng rời thành phố
Fayetteville về tiểu bang Virginia sinh sống, tôi vẫn ở với ông
bà bảo trợ, vừa đi làm vừa đi học ngành Điện toán. Ở Virginia
anh Hồng đi làm thợ sơn với cựu Hải quân Đề đốc/VNCH Chuẩn tướng
Hoàng Cơ Minh. Trong thời gian này, thỉnh thoảng anh về North
Carolina để gây xứ bộ ở đây và có ghé thăm ông bà bảo trợ và
tôi. Anh có thuyết trình sơ sơ về Lực Lượng Quân Nhân VNHN cho
tôi nghe.
Tôi đã gia nhập
"LLQNVNHN"
trong lúc còn đang đi học ở đây, và vào một buổi sáng
đẹp trời tôi theo anh về Virginia để làm lễ tuyên thệ "Trung
thành với Tổ Quốc" (thật ra là trung thành với cái LLQNVNHN của
Hoàng Cơ Minh lúc bấy giờ thì đúng hơn).
Đây là tập tục của LLQNVNHN lúc bấy giờ, các Tân đoàn viên
phải làm lễ tuyên thệ trước bàn thờ Tổ quốc sau một thời
gian ngắn hoạt động với lực lượng trước sự chứng kiến của
các bố già... như lão Đại tá Liễu, Minh–râu–cá–chốt (bác
này có bộ râu như râu con cá chốt. Ngày còn bé sau mỗi buổi
chiều tan học, làm bài vở xong là tôi xin phép mẹ đi ra bờ mương
câu cá, mỗi lần câu được con cá chốt là tôi ghét vô song, tôi
vật nó xuống đất cho chết tươi ngay, vì con cá này nhỏ như ngón
tay út nhưng rất gian ngoan, nếu ta không khéo thì hai nghạnh
của nó đâm vào gan ngón tay mình thì đau nhức... đến rơi nước
mắt!), và người giới thiệu đoàn viên như anh
Hồng. Ngày ấy chúng tôi còn trẻ lắm, làm bao nhiêu $ là đem về
đóng "hụi chết" cho cái LLQNVNHN phải gió kia! Phải nói rằng AE chúng tôi
lúc bấy giờ "hiền quá", rất dễ bị lường gạt
bởi những lời đường mật của các cụ cáo già kia...
Sau một thời
gian vừa đi làm vừa đi gây xứ bộ trên khắp nước Mỹ cho Lực Lượng
Quân Nhân VN Hải Ngoại, anh Hồng đã
giã từ Thiên đàng của trần thế tại Hoa Kỳ, theo tiếng gọi non sông
cùng với đoàn "Đông Tiến" về Thái Lan lập chiến khu đối đầu với VC.
Anh Lê Hồng, cố Trung tá Tiểu đoàn trưởng TĐ1ND, Lữ
đoàn phó LĐIND/QLVNCH
đã vĩnh viễn ra đi
để lại một vợ (Chị Nhạn)
(**) và
5 người con tên
Nhân, Nghĩa, Lễ, Tín, và Điệp.
Ngày nay mỗi khi làm việc cực
nhọc quá, tôi lại liên tưởng đến hai địa đàng trần thế của tôi
ngày xưa: trại tỵ nạn ở đảo Guam và trại Indiantown Gap, PA. Vì ở
hai nơi đó tôi chẳng cần mần đếch gì cả mà cũng có ăn, thiên hạ
đưa mâm cơm đến mõm mình 3 lần một ngày! Đời quả là tuyệt! Nhưng
mà hình như những điều tốt lành trong đời người lại qua đi rất
chóng...! Good things don't last long quí vị ạ!

Kết: Trong đoạn kết này, tôi không dám
đại diện cho ai nhưng chỉ bày tỏ cảm tưởng cá nhân của tôi đối
với anh Lê Hồng về những gì anh đã làm ở TĐ1ND, ở LĐIND, ở các
Trại tỵ nạn, ở Mỹ, và những sự việc đã xảy ra trước mắt tôi ba
mươi bảy (37) năm về trước: thật sự tôi được sống vẹn toàn đến
ngày hôm nay tại Hoa Kỳ là nhờ tài chỉ huy của cố Trung tá Lê
Hồng, anh đã sử dụng hết kinh nghiệm bản thân và sự hiểu biết về
cách hành binh trên chiến trường, chấp nhận mọi rủi ro, đã có
những quyết định chính xác và gan dạ,
và đã hướng
dẫn đoàn quân LĐIND đến nơi an toàn, ngoài cánh tay với của quân
thù. Phải công nhận rằng ngoài hai binh chủng Không quân
và Hải quân QLVNCH vì họ có phương tiện cơ hữu, thì không có một
đơn vị bộ binh QLVNCH nào đã vượt biên như Lữ Đoàn
I Nhảy Dù với
3 Tiểu Đoàn tác chiến sau Ngày Quốc Hận 30/4/1975.
Tôi cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho anh em chúng tôi một
sĩ quan
chỉ huy can đảm, bất khuất, và thao lược. Không e ngại hiểm
nguy, quên mình vì đơn vị,
và anh đã sẵn sàng chết cho quê hương và Tổ quốc VN mến
yêu. Tôi lại nhớ ơn chính phủ Việt Nam Cộng Hòa
đã có một chính sách Tự do & Nhân bản, đã huấn luyện anh em
chúng tôi trở thành những chiến binh tốt cho Quân Đội miền nam
Việt Nam. Con cảm ơn Cha Giuse Đinh Tường Huấn đã hướng dẫn đời
sống tinh thần con trong những năm tháng êm đềm bên cạnh gia
đình. Và sau cùng cảm ơn Bố Mẹ tôi đã giáo dục "con nên người,
và đã thuật lại cho con những kinh nghiệm hiểu biết quí báu của
bố mẹ về người cộng sản" để con biết phòng thân.
XIN CÁC ACE CỰU QUÂN NHÂN CÔNG GIÁO TĐ1ND THÊM LỜI CẦU NGUYỆN CHO LINH HỒN GIOAN
BAOTIXITA LÊ HỒNG!
Viết xong ngày Thứ ba, February 21, 2012
Virginia, Hoa Kỳ
bkt

Ghi chú:
(*)
– Trung tá Lê Hồng bắt đầu cuộc đời Binh nghiệp của anh
từ cấp bậc B2 (Binh nhì), ôm máy truyền tin cho các đơn vị Nhảy Dù chiến đấu ngoài mặt trận, rồi được gửi đi học Khoá Hạ Sĩ quan, và sau cùng là
khoá Sĩ quan đặc biệt tại quân trường Đồng Đế, Nha Trang.
(**)
– Mặc dù có đầy đủ phương tiện để đem vợ con xuống bến
Vàm Láng, Trung tá Lê Hồng đã không thực hiện
điều này. Anh quyết tâm cùng đồng cam cộng khổ với toàn thể binh
sĩ LĐIND. Không đầu hàng địch quân CSBV. Quyết ra đi để bảo toàn
tính mạng cho binh sĩ LĐIND, bảo toàn Danh dự cho QĐ–VNCH nói
chung, và cho sĩ quan QĐ–VNCH nói riêng. Anh thật xứng đáng là
đại diện cho ba người chiến binh tiêu biểu của QLVNCH:
Binh sĩ, Hạ Sĩ quan, và Sĩ quan.



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

Hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
Nguồn: internet eMail by tkd sưu tầm, trình bày, & ấn loát
Đăng ngày Thứ Hai, February 6, 2012
Cập nhật ngày Thứ
Năm, October 9/2025 – sửa lỗi chính tả & đổi sang hệ thống bootstrap framework 5.x
Cập nhật ngàt Thứ Bảy, February 27, 2021
– Đổi nền
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH
t