

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Giới thiệu
sách
Chủ đề:
về tt ngô đình diệm
Tác giả: Song Thao

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)

Hồi ký viết về cố Tổng thống Ngô Đình Diệm có khá nhiều. Hầu hết đều viết về thời kỳ ông Ngô Đình Diệm chấp chánh. Cuốn Hồi Ký của ông Bùi Công Văn khác. Ông viết về thời gian ông Ngô Đình Diệm còn “in gót nơi quê người”. Chúng ta vẫn nghe loáng thoáng thời kỳ ờ New York, ông Diệm ở trong một tu viện. Điều này đúng nhưng không đúng hẳn. Ông Diệm có phòng ở tại Chủng Viện Maryknoll tại Ossining, phía Bắc thành phố New York, và Lakewood ở New Jersey, nhưng sống một thời gian dài nơi nhà ông Bùi Công Văn.

Ông Bùi Công Văn, người Cần Thơ, sanh năm 1919, là người có khiếu sinh ngữ. Ông biết tiếng Anh, Pháp, Nhật, và Quảng Đông. Sau một thời gian làm tiếp viên hàng không cho hãng Air France và làm việc tại British Council ở Sài Gòn, ông được tuyển vào làm biên tập viên cho đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA khi đó có trụ sở tại thành phố New York. Ông và gia đình đặt chân tới New York vào tháng 4 năm 1951.

Cơ duyên khiến ông biết
và quen với ông Diệm là một bức thư do ông Dư Phước Long, thông
dịch viên tại Cơ Quan Thông Tin Hoa Kỳ USIS tại Sài Gòn, nhờ ông
trao tận tay cho ông Diệm khi đó đang ở khách sạn Whitehall. Ông
Diệm rời Việt Nam qua La Mã trong đoàn người đi hành hương Năm
Thánh 1950 rồi bay qua Mỹ. Mọi thư từ Việt Nam gửi cho ông Diệm
đều bị nhà cầm quyền Pháp kiểm duyệt hoặc tịch thu nên ông Dư
Phước Long mới phải nhờ ông Văn mang tay qua cho ông Diệm. Một
tháng sau khi đặt chân tới New York, ông Văn tới gặp ông Diệm.
“Cái tên Ngô Đình Diệm, chúng tôi đã nghe nhắc đến rất nhiều
lần, nhưng đây là lần đầu tiên được gặp ông. Trước mắt chúng tôi
là một người đàn ông trạc ngoài năm mươi, vóc dáng thấp, tóc đen
nhánh, làn da sạm nắng, và khuôn mặt sáng rỡ. Ông mặc một bộ
vest nâu sẫm với chiếc cà vạt giản dị – phong thái khiêm tốn, ăn
mặc xuề xòa. Dù không đứng dậy đón tiếp, nhưng ông giơ nhẹ hai
tay, nở nụ cười hiền hậu và thân tình – một cử chỉ giống như từ
một người cha – khiến chúng tôi lập tức có cảm giác gần gũi. Ông
ra hiệu mời chúng tôi ngồi xuống đối diện. Tôi mở đầu câu chuyện
bằng cách giải thích cho ông Diệm hoàn cảnh gia đình tôi và ông
Dư Phước Long đã gửi gắm một bức thư nhờ tôi chuyển tận tay như
thế nào. Ông không hỏi nhiều về lá thư hay người gửi, mà chỉ chú
tâm hỏi về tình hình quê nhà vào thời điểm chúng tôi rời đi. Ông
lắng nghe chăm chú, châm một điếu thuốc rồi gạt tàn ngay sau một
hơi rít ngắn – bằng cách vê đầu điếu thuốc vào gạt tàn. Đó là
một thói quen rất đặc trưng của ông. Suốt nhiều năm sau, chúng
tôi vẫn thường quan sát ông làm động tác ấy – châm thuốc, rít
một hơi, nhẹ nhàng cọ điếu thuốc vào mép ly hay gạt tàn – lặp đi
lặp lại như một phản xạ, trong khi ông độc thoại hàng giờ liền.
Cách ấy khiến ông bận rộn với đôi tay, mắt thì dán vào điếu
thuốc, thay vì nhìn thẳng vào người đối diện. Khi ông nhìn ai,
ánh mắt ông dường như xuyên qua họ, như thể đang chăm chú vào
một điểm vô hình phía sau”.
Ông Diệm cho biết ông không
có tham vọng hoạt động chính trị mà chỉ muốn kết nối những đồng
hương và sinh viên Việt Nam sống tại Mỹ. Ông cũng không làm chi
ra tiền, chỉ sống nhờ tiền giúp đỡ của ông anh là Giám Mục Ngô
Đình Thục. Ngày 1/7/1952, ông Văn mở tiệc ăn đầy tháng đứa con
được sanh ra tại Mỹ, mời tất cả bạn bè và người quen trong đó có
ông Diệm.
“Ông Diệm đến sớm nhất. Khi mở cửa, chúng tôi
suýt không nhận ra ông – khác hẳn người đàn ông mà chúng tôi gặp
đêm đầu tiên ở Khách sạn Tudor cách đó 14 tháng. Có lẽ ông vẫn
mặc bộ vest nâu sẫm và cà vạt xanh như trước, nhưng hôm nay ông
trẻ trung và tươi tỉnh hơn, tay phải cầm một chiếc cặp đen to
tướng. Lúc đi theo ông vào dãy hành lang dài dẫn vào phòng
khách, lần đầu tiên chúng tôi chú ý đến dáng đi kỳ lạ của ông:
là người có vóc dáng thấp, bước chân ông nhẹ và nhanh nhưng mũi
bàn chân không hướng thẳng mà xòe ra ngoài. Trông như một con
vịt đang tiến bước. Ở Việt Nam, chúng tôi gọi dáng đi ấy là chân
đi ‘chữ bát’ – giống như nét chữ Hán của số 8. Ông ngồi vào
chiếc ghế danh dự, chiếc ghế bành duy nhất trong nhà, đặt chiếc
cặp xuống và lấy ra bao thuốc Phillip Morris. Mới hút được nửa
điếu, ông dập tắt bằng cách cọ nhẹ đầu thuốc vào gạt tàn, rồi
lại châm điếu khác. Vợ tôi đem vào một khay với hai ly whisky
pha soda, nhưng ông từ chối rượu và chỉ xin một tách trà đậm”.
Quà ông Diệm mang tới bữa đó là một tràng hạt làm bằng hạt
sen mà ông bảo là rất thơm, có thể pha trà hoặc cho lũ trẻ chơi.
Nửa giờ sau, khách mời mới lục tục kéo tới.

Vài
ngày sau, khi ông Văn đang làm việc tại Đài, ông Diệm điện thoại
tới:
– “Anh Văn, tôi cần anh giúp. Tôi đang ở ga tàu. Anh
có thể đến đây ngay được không?”
Ông Văn trả lời cho biết
ông sắp phải lên sóng nên không bỏ đi được. Ông Diệm vội nói:
– “Không quan trọng lắm. Nhưng lưng tôi đau kinh khủng. Tôi
không nghĩ mình có thể trở lại Lakewood được”.
Ông Văn
nói ông Diệm cứ tới nhà, vợ ông đang ở nhà có thể giúp ông được.
Tối hôm đó, tôi về đến nhà thì thấy ông Diệm đang nằm nghỉ
trên chiếc ghế dài phủ tấm vải đỏ do vợ tôi mua. Ông cố ngồi dậy
nhưng nhăn mặt vì đau, rồi lại nằm xuống. Tôi giúp ông nằm cho
thoải mái và ông kể rằng cơn đau lưng phát tác dữ dội trên đường
về. Tôi nhờ bác sĩ hàng xóm – ông Meltzer – đến khám, dù đã khá
muộn. Sau khi được tiêm thuốc và chườm nóng phần lưng dưới, ông
Diệm đã đỡ hơn và có thể tự đi về lại căn hộ của chúng tôi. Vợ
tôi chườm nóng cho ông suốt đêm. Hôm sau, ông đã khỏe hơn nhiều.
Sau vài ngày nghỉ ngơi và điều trị tiếp, ông hoàn toàn bình
phục, đi lại nhẹ nhàng và có vẻ vui vẻ hơn trước. Trước khi rời
đi, ông bảo:
– “Anh biết không, hình như số phận đã đưa
tôi đến với anh, mà tôi không hề có ý làm phiền đâu. Tôi hiểu
cuộc sống của anh – với gia đình, con cái, đồng lương hạn hẹp.
Tôi chỉ có thể nói lời cảm ơn anh từ tận đáy lòng.”
Vợ
chồng tôi xúc động. Chúng tôi trấn an ông rằng ông không phải là
gánh nặng gì cả, mời ông cứ trở lại bất cứ lúc nào ông muốn –
chỉ mong ông không chê những bữa ăn đạm bạc và cuộc sống đơn sơ
của chúng tôi. Ông nói lời tạm biệt và rời đi.

Trong 9 tháng, từ năm 1952 qua năm 1953, ông Diệm đã tới ở với
gia đình ông Văn. Lương của đài VOA chỉ đủ tiêu dùng, gia đình
ông Văn không dư giả chi, nợ nần chồng chất, nhưng, với ông Văn,
“hạnh phúc không nhất thiết phải cần nhiều tiền. Ở bên ông Diệm,
chúng tôi đã tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và biết rằng mình
đang làm những điều tốt đẹp cho ông ấy”. Căn nhà thuê không rộng
rãi chi, ông đã phải biến căn phòng khách thành phòng cho ông
Diệm. Chiếc ghế dài được dùng làm giường ngủ. Ông Diệm hầu như
đóng đô trong căn phòng này trừ vài dịp hiếm hoi ông phải ghé về
chủng viện Maryknoll, mỗi lần chỉ vài ngày. Tình cảnh giật gấu
vá vai này ông Diệm biết. Ông nói với bà Văn:
– “Tôi biết
mình có thể là gánh nặng cho anh chị, nhưng tôi quá cô độc ở
chủng viện. Nơi ấy biệt lập đến mức tôi không thể theo dõi được
những gì đang diễn ra ngoài kia. Tôi chỉ mong anh chị rộng lòng
và thông cảm cho phép tôi được tá túc nhiều ngày mỗi lần tôi
đến. Với lại... dường như ở quê nhà đang có những diễn biến lớn
lao.”

Từ đó ông Diệm như là một thành viên
trong nhà. Những ngày ông Văn phải đi làm ca ngày, ông Diệm dẫn
đám con ông Văn ra công viên Riverside gần nhà chơi và chụp ảnh.
Ông Diệm có cái thú chụp hình với chiếc máy Leica cũ kỹ.
“Với gia đình tôi, việc có ông ở cùng là một niềm vui lớn. Giữa
đất khách quê người, chúng tôi coi ông như người thân ruột thịt,
như một người cha nuôi. Thực tế là con cái chúng tôi tự nhiên
gọi ông là ‘Ông nội Maryknoll’ mà chẳng có ai bảo chúng thế, hay
vì có ý đồ riêng nào, đủ cho thấy sự gắn bó thật lòng của chúng
tôi với ông... Tình cảm của chúng tôi dành cho ông cũng tự nhiên
như tình cảm của con cái dành cho cha mẹ. Và ông Ngô Đình Diệm
cũng rất trân trọng chúng tôi. Tôi dành cho ông Diệm sự kính
trọng và tình cảm gần như một người con dành cho cha. Thật vậy,
các con của chúng tôi bắt đầu gọi ông là ‘Ông nội’. Vì Dominic,
Marie, và có lẽ cả Mỹ Châu nữa vẫn còn nhớ ông nội của chúng ở
Việt Nam nên để phân biệt, chúng tôi gọi ông là ‘Ông nội
Maryknoll’. Cách gọi đó, mà cả tôi và vợ tôi cũng dùng khi nói
với các con, cho thấy rõ tình cảm mà chúng tôi đã dành cho ông
và tiếp tục giữ gìn qua nhiều năm sau. Cho đến tận bây giờ, dù
bọn trẻ đã trưởng thành và phần lớn ký ức về ông nội Maryknoll
đã mờ nhạt, thì đối với tôi và vợ, chúng tôi vẫn gọi ông như
thế”.
Ông Ngô Đình Diệm như không còn cô đơn nữa. Ông đã
thực sự có một gia đình nơi đất khách. Mỗi lần đi đâu về, ông
thường mua cho lũ trẻ khi thì trái cây, khi thì gói bánh quy mà
ông gọi là “rackets” với cách phát âm tiếng Anh pha giọng Pháp
không mấy rõ ràng. Cũng có khi ông mua đồ chơi cho đám trẻ. Như
một chiếc điện thoại đồ chơi con nít cho Dominic hay chiếc túi
xách nhựa màu xanh lá cây cho Mỹ Châu. Ông chơi với đám trẻ như
ông nội chơi với cháu.
“Những lúc khác, ông chỉ đơn giản
chơi đùa cùng lũ trẻ, và dường như trở nên thân thiết nhất với
Dominic. Ông thường nhấc bổng cậu bé lên, đung đưa qua lại, hoặc
giả vờ vật lộn rồi dạy Dominic một hai thế judo, vừa cười vừa
thích thú không kém gì thằng bé. ‘Này con trai,’ ông hỏi, ‘nếu
có một tên trộm lẻn vào nhà và định tấn công con, con sẽ làm
gì?’ Dominic siết chặt hai nắm tay bé xíu như một võ sĩ, rồi
tung ra những cú đấm và những cú đá. Ông nội Maryknoll sẽ lao
vào vật lộn với Dominic, cả hai cùng lăn ra sàn, cười nghiêng
ngả”.
Nếu không có cuốn hồi ký của ông Bùi Công Văn,
không bao giờ chúng ta có thể biết có một ông Diệm đời thường
như thế. Chúng ta đã quen với ông “Tổng thống Diệm” hơn là “ông
Diệm rất người” trong cuộc sống thường nhật. Một chuyện ông Văn
kể về khiếu khôi hài của ông Diệm. Khi nói về ông Lý Chánh Đức,
một người quen sống tại New York, ông nhái điệu bộ của ông này.
“Ông đứng chắp tay, miệng méo xệch, rồi tiếp tục uốn lưng,
vừa làm vừa bình luận: ‘Đức giống như một diễn viên trên sân
khấu, múa theo tiếng castanets. Thân mình ông ta co giật, còn
tay giật lên giật xuống như bị dây rối giật vậy.’ Với ông Ngô,
chế giễu không phải là chuyện cấm kỵ. ‘Ông nội Maryknoll’ ấy khi
gặp Dominic thì hiền lành dạy võ, chơi đùa với lũ trẻ, nhưng khi
nghe tôi kể lại cảnh Hòa khóc trong buổi họp ở nhà Đức Thanh,
ông liền cảnh giác: ‘Coi chừng! Hòa là diễn viên. Hắn diễn đấy.
Một giọt chân tình cũng không có đâu.’ Rồi ông Ngô liền bắt
chước Hoà: dùng mu bàn tay quệt lên đôi mắt ráo hoảnh của mình,
rồi đấm vào ngực như thể đang ăn năn hối lỗi – một màn tự thú
giả tạo đến mức lố bịch”.
Ông Diệm mê chụp hình. Có lần
khi vợ ông Văn và cô Yến, một sinh viên học nhạc tại Minnesota
về New York chơi trong dịp hè, đang dắt tay nhau đi dạo trên bãi
cỏ ở Chủng viện Maryknoll, ông Diệm đã chụp một tấm hình màu.
Ông Huỳnh Sanh Thông khi coi bức hình đã bị coup de foudre. Ông
lên tận Minnesota thăm người đẹp, theo đuổi trong một thời gian
dài trước khi hai người nên duyên chồng vợ. Ông Diệm khi ngắm
tấm hình đã đùa:
– “Nhìn cô Yến kìa! Cổ có đeo cái gì
quanh eo phải không? Dưới tà áo dài đó có phải là lựu đạn không
ta?”.
Chung quanh ông Diệm có nhiều huyền thoại. Cuốn hồi
ký của ông Văn giải mã được một vài huyền thoại này. Như chuyện
“thày tu Diệm” tránh nói tới chuyện không thanh nhã liên quan
đến phụ nữ. Ông Văn tiết lộ:
“Có lần tôi kể cho ông nghe
về bà Hoàng Xuân Hãn, người mà tôi đã nhìn thấy ngày hôm đó đang
đi bộ, tay trong tay với Đức Thanh gần ngân hàng của tôi, Ngân
hàng Tiết kiệm Excelsior, tại đường 57 gần văn phòng VOA. Tôi
cho rằng bà Hãn không phải là một người phụ nữ xấu xí vì bà ta
thật sự trẻ trung và xinh đẹp. Có phải bà ấy đang cố dụ Đức
Thanh rút tiền để bà ấy đi mua sắm không? Ông Diệm cười lớn rồi
giải thích với tôi rằng bà Hãn là người ‘song tính’ và mặc dù bà
ấy có vẻ thân mật với Đức Thanh ngay cả ở nơi công cộng nhưng
Đức Thanh không thể sơ múi gì được đâu. Theo ý ông Diệm, đối với
người phụ nữ đó thì tất cả chỉ là một màn ‘đấm bốc trong bóng
tối’, hoàn toàn không phải như mọi người nhìn thấy. Có rất ít
thông tin chi tiết được biết về bà Hãn, vợ của một học giả nổi
tiếng từ Hà Nội, nhưng ông Diệm thì biết và đã kể lại cho chúng
tôi nghe. Tôi thấy mừng khi nhận ra ông ấy là một con người hoàn
toàn bình thường, bất chấp những lời đồn đại về việc ông ‘ghét
phụ nữ’ hay là một ‘trinh nam suốt đời’ và những điều tương tự”.
Huyền thoại ông Diệm là một “thày tu” hoặc “tu xuất” cũng
được ông Văn bật mí. Đó là điều người ta tưởng tượng và tiết lộ
một cách ý thức như vô ý thức về sự đạo hạnh của ông tổng thống
của một gia đình công giáo có ông anh là Giám mục. Ngày đó khi
nghe những lời đồn đoán này tôi cũng nghĩ là thật. Trong đầu óc
tôi, ông Tổng thống Diệm chắc luôn nói chuyện với Chúa, đọc kinh
cầu nguyện mỗi ngày. Những ngày sống trong gia đình ông Văn, ông
Diệm không mang hình ảnh đó.
“Trong suốt thời gian sống
với chúng tôi ở căn hộ đường 111, ông Diệm gần như suốt ngày
ngồi trên chiếc ghế bành quen thuộc, trừ những lần đi dạo công
viên hoặc đi lễ ngày Chủ Nhật. Nhiều lần, chúng tôi cùng ông đi
lễ tại Nhà thờ Ascension trên đường 108. Ông quỳ bên cạnh tôi,
thường ở hàng ghế đầu hoặc thứ hai, bên kia là Marie, Dominic,
và đôi khi là Mỹ Châu. Vợ tôi không đi nhà thờ vào thời điểm ấy
vì phải chăm sóc bé Mỹ Nga. Trái với lời đồn rằng ông Diệm là
‘linh mục mặc thường phục’ hay cực kỳ sùng đạo như một nhà tu,
tôi chưa bao giờ thấy ông rước lễ hay cư xử khác gì so với chúng
tôi – những tín hữu Công giáo bình thường và cũng không quá sùng
đạo. Thực ra, ông Diệm không mang theo sách lễ hay tràng hạt, và
ông cũng không ở lại nhà thờ lâu hơn gia đình tôi. Chúng tôi
cũng chưa bao giờ thấy ông cầu nguyện hay thực hiện nghi lễ tôn
giáo nào ở nhà. Nếu ông thực sự là một tín hữu Công giáo đặc
biệt mộ đạo thì ông đã phải kín đáo đến mức không ai nhận ra, và
tôi không hiểu những lời gán cho ông biệt danh ‘thầy tu’ bắt
nguồn từ đâu. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu phát hiện ra đó chỉ là
những lời lăng mạ từ các đối thủ chính trị muốn biến ông thành
một nhà tu xuất để hạ thấp uy tín chính trị của ông”.
Năm
1953, một biến cố lớn xảy ra: ông Diệm được mời qua Pháp. Đây là
một lời mời quan trọng khiến ông phải suy nghĩ lung. Ông rời nhà
ông Văn, về lại chủng viện Maryknoll để tĩnh tâm suy nghĩ. Khi
đó tình hình tại Đông Dương ngày càng tồi tệ sau những thất bại
liên tiếp của quân đội Pháp trên chiến trường. Có lẽ ông Diệm
thấy tình thế đã chín mùi nên quyết định đi.
Đầu tháng 5
năm 1953, ông Diệm rời New York qua Paris. Hành lý chỉ có một
chiếc va–ly và một chiếc cặp. Toàn thể đồ đạc còn lại, ông đã
gửi nơi nhà ông Văn gồm sách vở, giấy tờ, quần áo, và vật dụng
cá nhân. Ông dặn ông Văn sau này gửi qua Paris cho ông Tôn Thất
Cẩn nhận và giữ cho ông. Chiếc cà vạt cũ của ông bữa ra phi
trường không thắt được nên ông Văn tặng ông một chiếc cà vạt
mới.

Ông Diệm ra đi, nhà ông Văn bỗng vắng vẻ
hẳn. Không còn ông trong căn phòng ngủ, không còn khách lai
vãng, không có những cuộc trò chuyện xuyên đêm. Chiếc ghế dài
ông nằm suốt nhiều tháng chừ vẫn còn in dấu người, chỗ giữa lún
xuống, cong hẳn đi. Đám con ông Văn ngày nào cũng hỏi ông nội
Maryknoll đâu rồi.
“Muriel còn quá nhỏ để nhớ hay trò
chuyện về ông, nhưng với Dominic và Mỹ Châu, chúng tôi đành phải
nói rằng: ‘Ông nội Maryknoll sẽ quay lại sau vài tuần nữa’. Than
ôi, câu nói ấy khiến hai đứa bắt đầu mong ngóng ông, chờ ông trở
về với tay cầm trái cây hay một món đồ chơi nào đó, giống như
những lần ông quay lại sau vài ngày ở các chủng viện Maryknoll
tại Lakewood hay Ossining. Chỉ có Marie là biết rõ rằng ông nội
đã sang Pháp – đi mãi mãi. Rằng có thể ông sẽ trở lại, nhưng
điều đó, thực tế, là không thể”.
Giáng Sinh năm 1953, ông
Văn viết cho ông Diệm một tấm thiệp với hàng chữ:
“Tôi
biết rằng quyền lực tự thân chưa bao giờ là điều mà ông quan
tâm, nhưng đất nước cần ông, cần sự lãnh đạo của ông. Xin hãy
tha thứ cho sự tự phụ của tôi. Tôi bây giờ còn nôn nóng hơn cả
lúc ông còn ở đây với chúng tôi, vì giờ ông không còn ở đây để
chúng tôi có cảm giác đang có một mục tiêu rõ ràng. Tôi biết ông
sẽ gặp vô vàn trở ngại ở Paris, nhưng xin cho phép tôi mượn một
câu nói cũ: ‘Anh hùng tạo thời thế thì thời thế cũng tạo anh
hùng.’ Thưa ông, tôi nói điều này hoàn toàn xuất phát từ đáy
lòng, không hề mang theo bất kỳ động cơ thầm kín nào.”
Với thất bại của quân đội viễn chinh Pháp tại Điện Biên Phủ vào
tháng 5 năm 1953, hội nghị Genève thành hình. Sau đó Quốc Trưởng
Bảo Đại chỉ định ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Những gian
truân tân Thủ tướng gặp trong những ngày đầu chấp chánh như thế
nào, lịch sử đã ghi lại và chúng ta cũng đã rõ. Không những các
giáo phái và các kẻ nội thù muốn bứng ông ra khỏi nước, ngay cả
Ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles cũng muốn loại bỏ ông. Ông trụ lại
được là nhờ công lao của Lansdale nhất định ủng hộ ông, trái với
những người Mỹ tại Sài Gòn khi đó. Lansdale có một biệt danh
chua cay nhưng chính xác mà những người phản đối ông đặt cho:
“người giật dây quyền lực”.
Sau Tết, vào tháng 2 năm
1956, ông Văn được Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Trần văn Chương,
cha của bà Ngô Đình Nhu, mời tới theo yêu cầu của ông Diệm.
“Dưới chân dung bà Trần Văn Chương, ngài Đại sứ hỏi tôi có
bằng đại học không. Khi tôi trả lời là không, ông nói: ‘Không
phải vì tôi coi trọng mấy thứ bằng cấp đó đâu. Chính Tổng thống
Diệm cũng chẳng có bằng đại học!’ Một lời hạ thấp gián tiếp dành
cho chính tổng thống của ông. Tôi không biết rằng ông Diệm đã
yêu cầu Đại sứ liên lạc với tôi để đề nghị một vị trí tại Đại sứ
quán! Sau vài câu vòng vo, Đại sứ Chương hỏi tôi muốn giữ chức
vụ gì. Tôi đáp ngay, không do dự: ‘Xin lỗi nếu câu trả lời của
tôi quá thẳng. Tôi không quan tâm đến một chức vụ nào trong Đại
sứ quán của ông. Nhưng nếu đó là chỉ thị của Tổng thống Ngô Đình
Diệm, thì tôi chỉ mong một vai trò cố vấn–conseiller’. ‘Xin anh
giải thích thêm’. ‘Cũng chẳng có gì cần giải thích nhiều. Ông
hiểu ý tôi mà’. Tôi không muốn nhấn mạnh lối chơi chữ ấy. Thay
vào đó, tôi tiếp: ‘Chức năng của một conseiller là để cố vấn. Về
nhiều vấn đề – chẳng hạn như cách thoát khỏi những kẻ tay sai
của chủ nghĩa thực dân.’”
Ông Chương gửi điện tín về Sài
Gòn, câu trả lời của Dinh Độc Lập là một câu hỏi khác:
–
“Ông Bùi Công Văn có muốn nhận chức Trưởng Phái Bộ tại Hồng Kông
không?”
Ông Văn đã trăn trở suy tính trước khi quyết
định. Ông rất muốn về Việt Nam nhưng chỉ muốn để góp ý với ông
Diệm những khi ông cần tới ông. Ông thực sự không muốn sa chân
vào vòng cương tỏa của chính trị. Nhưng rồi ông nhận lời vì một
lý do hết sức thực tế.
“Trên hết, yếu tố quyết định là sự
túng thiếu nghiêm trọng và cấp bách. Chúng tôi lúc nào cũng nợ
nần. Điều đáng xấu hổ nhất là tôi vẫn còn nợ Đỗ Vạn Lý số tiền
mà anh đã cho tôi vay không chút do dự khi chúng tôi còn thân
thiết – số tiền ấy dùng để chuyển hành lý của ông Diệm sang
Pháp. Và vào tháng Chín năm ngoái, khi tôi đưa Marie đi ghi danh
vào Trường Trung học Holy Name ở Takoma Park, ở khu uptown
Washington, D.C., tôi nhận ra tôi sẽ cần nhiều tiền hơn nữa cho
con cái mình. Hôm ấy, trời đã tối, tôi giới thiệu con bé với Mẹ
Bề trên trong ánh đèn vàng nhạt. Cả hai cha con đều mệt mỏi sau
một ngày dài. Tôi phải nài nỉ bà nữ tu tốt bụng ấy cho Marie
được nhận vào trường theo chế độ giảm học phí đặc biệt, trả
thành nhiều đợt. Bà đồng ý, và điều đó khiến chúng tôi nhẹ nhõm
đi phần nào, nhưng trải nghiệm đó đã in hằn trong tâm trí tôi.
Đến nỗi, khi chú Gil ở VOA nói, ‘Hãy nghĩ đến các con của anh,’
thì câu nói ấy dội lại như tiếng chuông trong đầu tôi – vọng từ
khoảnh khắc chiều hôm đó tại Holy Name”.
Gia đình ông Văn
về tới Sài Gòn và được ông Diệm mời vào dinh Độc Lập.
“Chúng tôi ngồi yên, trong im lặng và háo hức, thì như từ trong
không khí, một cánh cửa bên mở ra và ông bạn thân thiết – cũng
là ‘ông nội Maryknoll’ của bọn trẻ – Tổng thống Ngô Đình Diệm,
bước vào. Tất cả chúng tôi đều đứng dậy. Marie phải giúp các em
đứng lên vì với chúng, ông chỉ là ông nội quen thuộc, người từng
chơi đùa với chúng vài năm trước. Ông Diệm mỉm cười thân mật, ra
hiệu cho chúng tôi ngồi xuống, không bắt tay, rồi ngồi xuống
chiếc ghế dài đối diện và mở lời: ‘À, vậy là các bạn mới về à?’.
Người đàn ông từng sống gần gũi với chúng tôi suốt nhiều tháng ở
New York, giờ đây đã là Tổng thống Việt Nam. Ông không thay đổi
gì nhiều, ngoại trừ một vẻ trang trọng nhẹ nhàng. Nhưng điều đó
cũng bình thường, vì là một nguyên thủ quốc gia và một người
theo đạo Khổng, ông buộc phải tuân thủ một số nghi thức nhất
định, kể cả với ‘con cái’ mình.
Chúng tôi trò chuyện dài,
thỉnh thoảng thân mật. Ông vẫn kể lại vài câu chuyện hài hước
quen thuộc. Còn chúng tôi thì vui vẻ mỉm cười, nhưng vẫn giữ
đúng mực, không dám đùa lại hay tỏ vẻ thân tình quá mức. Lúc
này, những đứa nhỏ đã bắt đầu thiếp đi. Chúng tôi lần lượt đặt
các cháu nằm xuống ghế sofa trong phòng tiếp khách, trong khi
cuộc trò chuyện vẫn tiếp tục. Cho đến giờ, Marie vẫn chưa nói gì
với Tổng thống – nhưng cũng chỉ có con bé là còn thức để theo
dõi toàn bộ cuộc đối thoại dài dằng dặc của ông Ngô với chúng
tôi. Sự hiện diện của gia đình tôi đêm ấy rõ ràng là một sự kiện
hiếm thấy ở Dinh Độc Lập. Cuộc gặp đầu tiên với Tổng thống cũng
là cuộc gặp cuối cùng mà ông vẫn giữ lại phần nào sự thân mật
của những năm tháng cũ, khi còn chưa là tổng thống. Đó cũng là
lần cuối cùng Marie và các con tôi – những đứa trẻ từng chơi đùa
với ‘ông nội Maryknoll’ trong công viên Riverside – gặp lại ông.
Từ đó cho đến lúc qua đời, ông Diệm không bao giờ gặp lại lũ trẻ
nữa”.
Vợ chồng ông Văn còn gặp Tổng thống vài lần nữa
trước khi lên đường đi Hồng Kông. Họ được ông Diệm tiếp trong
phòng riêng một cách thân mật và không cần nghi thức. Một đêm
nọ, khi đang nói chuyện với ông Văn, ông Diệm điện thoại cho ông
Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ nói đợi ông Văn qua nói chuyện.
“Nhưng đúng theo thói quen, ông Diệm nói miên man rồi quên
khuấy đi cuộc gọi đó. Khi tôi rời Dinh Độc Lập và được đưa đến
tư dinh của ông Thơ thì đã ba giờ sáng! Người đàn ông tội nghiệp
ấy không dám gọi lại phản đối lệnh của Tổng thống, cũng không
dám để lại lời nhắn cho người gác cổng để hẹn tôi vào hôm sau.
Thay vào đó, ông mặc nguyên bộ đồ ngủ nhăn nheo, mắt ngái ngủ và
ngáp dài khi tôi được đưa vào gặp”.
Ngày 20/3/1956 gia
đình ông Văn đi Hồng Kông. Tòa lãnh sự tại Hồng Kông gồm có 4
nhân viên, toàn người địa phương. Họ đều là người bản xứ hoặc đã
sống lưu vong tại Hồng Kông từ lâu. Ngoài ra có hai nhân viên
phụ lo tóm tắt tin tức báo chí địa phương gửi về Sài Gòn và biên
tập bản tin tiếng Việt cho kiều bào. Một trong hai nhân viên phụ
này là bà Võ Thị Diệu Viên. Chúng ta biết bà hơn dưới cái tên
Linh Bảo, tác giả cuốn “Gió Bấc”. Bà kết hôn với một người Hoa.

Nạn tham nhũng và hối lộ của chính trường Hồng
Kông là điều ai cũng biết, kể cả ông Thống Đốc người Anh cũng
không ngoại lệ. Lãnh sự cũ là ông Francois Lê Quang Nhã, một
người có quốc tịch Pháp, không dại chi mà không tham gia vào
hàng ngũ tham ô này. Một trong những lợi nhuận là ký xác nhận
hóa đơn do các nhà buôn xin thị thực thương mại để nhập hàng vào
Việt Nam. Một phần lợi nhuận này được xung vào quỹ “đảng” của
ông Nhu. Nhưng tới ông Văn, ông luôn giữ liêm chính, không còn
lợi nhuận để tài trợ cho quỹ đảng. Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu lập
tức cử sứ giả qua thuyết phục ông Văn hợp tác với kế hoạch gây
quỹ.
“Sự xác nhận ấy về ‘quyền lực phía sau ngai vàng’
của phe ông Nhu khiến tôi vừa chán nản, vừa vỡ mộng. Tôi từ chối
‘chơi bóng’, và các sứ giả trở về nước, không bao giờ quay lại
nữa. Tôi tiếp tục kiểm tra hóa đơn thương mại như thường lệ,
nhưng dần nhận thấy số lượng giảm hẳn. Trong khi đó, các bản kê
vận chuyển vẫn ghi nhận khối lượng giao thương không thay đổi,
thậm chí tăng đều. Rõ ràng họ đã né Lãnh sự quán, và các thương
nhân Hồng Kông đã được ‘nhắc nhở’ rằng không cần thị thực nữa.
Mọi phản đối chính thức từ phía tôi đều bị phớt lờ”.
Văn
phòng của Cố Vấn Ngô Đình Nhu do Trần Kim Tuyến điều hành đã dần
dần lấn hết quyền của bộ Ngoại Giao do Vũ Văn Mẫu điều khiển.
Khi một báo cáo “mật và bảo mật” về việc Trung cộng phá giá hàng
tiêu dùng ở Hồng Kông đã bị rò rỉ và đăng nguyên văn lên một tờ
báo ở Sài Gòn, ông Văn hốt hoảng hỏi ông Mẫu. Ông này cười:
– “Đừng hỏi tôi, hãy hỏi văn phòng Cố Vấn Chính Trị”
Rồi chỉ tay về phía dinh Độc Lập. Ngay Phó tổng thống kiêm Bộ
trưởng Kinh Tế Nguyễn Ngọc Thơ cũng bị khống chế. Hải quan trực
thuộc bộ này. Khi ông Văn hỏi tại sao các lô hàng nhập khẩu
không có xác nhận của tòa Lãnh Sự Hồng Kông vẫn được cho nhập,
ông Thơ chỉ tay về phía Dinh Độc Lập:
– “Tất cả từ ‘ông
già’ cả”.
“Ông già” không phải là ông Diệm mà là ông Nhu
hay các ông Cẩn, ông Luyện.
Chuyện xảy ra sau đó chứng tỏ
sự chuyên quyền của ông Nhu. Vợ ông Văn bị một người đàn ông do
ông Nhu gửi sang Hồng Kông làm nhiệm vụ chính trị bí mật tới nhà
yêu cầu bà góp tiền. Ông Văn nổi sùng, tức tốc về Sài Gòn xin
gặp Tổng thống. Lúc đó là tháng 3 năm 1960. Ông không được Tổng
thống quan tâm như những lần trước.
“Ban đầu, ông lắng
nghe câu chuyện tôi kể với thái độ không biểu lộ gì. Rồi ông
chậm rãi nhận xét:
– ‘Nhưng Đỗ Sỹ Kiệm–điệp viên chỉ huy
Chiến dịch Celestine ở Hồng Kông – chỉ gặp vợ anh trong tư gia.
Không có ai chứng kiến cả. Chỉ có lời của bà Văn.’
Tôi
giận run người. Tôi đứng dậy, nghẹn lời vì phẫn uất:
–
‘Thưa Tổng thống, ngài cho rằng tôi nói dối sao?’ Nước mắt trào
ra, tôi nói tiếp:
– ‘Nếu ngài không tin tôi, thì sao còn
giữ tôi ở vị trí hiện nay?’
Tôi đã dâng đơn từ chức trong
cơn phẫn uất – thẳng thắn và dõng dạc. Nhưng ông Diệm không chấp
nhận. Khi ông tiếp lời, tôi hiểu rõ điều ông đang nghĩ:
–
‘Họ nói với tôi,’ ông lại viện dẫn cái ‘Họ’ quen thuộc, ‘rằng bà
Văn đã nhận hối lộ từ người Trung Quốc.’
Tôi đáp:
– ‘Cứ cho là như thế đi. Nhưng đó có phải là lý do để người của
em trai ngài đến moi tiền vợ tôi? Việc đó có đúng không?’
Mặt Tổng thống tái đi. Ông có vẻ bị xúc phạm, nghiêm giọng:
– ‘Ông Văn, hãy nhớ rằng tôi là Tổng thống. Hãy tôn trọng uy
tín của tôi’.
Chính vì ông là Tổng thống nên tôi mới luôn
dè dặt mỗi khi muốn báo cáo điều gì liên quan đến... gia đình
ông. Lúc nào tôi cũng lo giữ gìn uy tín cho ông, và điều đó
khiến tôi im lặng. Một khoảng lặng khó chịu bao trùm. Nhưng rồi
Tổng thống nhượng bộ. Nét mặt ông dịu đi. Sau một hồi im lặng,
ông bảo tôi đi gặp ‘Cố vấn Chính trị’. Phản ứng của tôi lập tức:
– ‘Tôi không cần gặp ai khác ngoài ngài. Ngài là Tổng
thống!’
Diệm bật cười. Rõ ràng, ông chưa từng nghe ai trả
lời như vậy. Không ai dám từ chối gặp Ngô Đình Nhu cả. Ngược
lại, được gặp Nhu là một ân huệ lớn. Giọng ông trở nên dịu dàng,
gần như chiều chuộng:
– ‘Tôi chưa bao giờ gặp ai lạ lùng
như anh. Trong cả chính phủ này, chỉ có anh là không muốn gặp Cố
vấn Chính trị’.
Rồi ông nhẹ nhàng:
– ‘Cứ đi gặp
Nhu đi. Chỉ có ông ấy mới biết chuyện này. Tôi thì không’.
Chúng tôi chia tay trong tư cách bạn bè. Dẫu vậy, tôi có cảm
giác đây là lần cuối cùng tôi được gặp người bạn và cũng là Tổng
thống của tôi. Khi nhìn ông lần cuối, tôi thầm nghĩ: Đây vẫn là
Ngô Đình Diệm mà tôi từng biết. Dù ông có thay đổi, sâu bên
trong, ông vẫn là bạn tôi. Vì ông, tôi sẽ ở lại vị trí này. Khi
tôi mở cửa tiễn Tổng thống ra ngoài, ông đi sát đến mức quần áo
ông khẽ chạm vào người tôi. Tôi đâu ngờ rằng đó là lần cuối cùng
ông ở gần tôi đến vậy”.
Cuộc gặp gỡ với ông Nhu được văn
phòng Tổng thống sắp xếp.
“Tôi bước qua cánh cửa đệm cách
âm, bước vào một căn phòng hình chữ nhật, lớn hơn một chút so
với phòng Tổng thống, với tường được bọc đệm từ sàn đến trần.
Phòng có máy lạnh (phòng Tổng thống thì không), tủ hồ sơ kê sát
tường, và một chiếc bàn dài với vài vật dụng rải rác. Ngô Đình
Nhu đang ngồi đó. Nhu không đứng dậy, cũng không bắt tay. Ông
chỉ nói:
– ‘Mời ngồi.’
Tôi có cảm giác như mình
đang bước vào phòng khám của một bác sĩ phân tích tâm lý. Cố phá
tan không khí căng thẳng, tôi mở lời trước (gần như đùa khi gọi
ông là ‘Bác sĩ’) và trình bày ngắn gọn những gì Đỗ Sỹ Kiệm đã
làm ở Hồng Kông, đỉnh điểm là việc đe dọa vợ tôi. Tôi không nhắc
đến Bác sĩ Tuyến hay bất kỳ ai khác. Toàn bộ phần trình bày mất
khoảng năm phút. Trong suốt thời gian đó, Nhu không ngắt lời,
không đặt câu hỏi. Có lẽ ông đã quá hiểu người của mình. Cuối
cùng, ông nói – giọng ông ấm hơn tôi nghĩ:
– ‘Xin ông viết
lại những gì ông vừa kể... (một thoáng ngập ngừng)... để tôi có
thể ‘giải quyết’ việc này.’
Tôi gật đầu đồng ý và đứng
dậy. Không chuyện trò xã giao, không lời khách sáo. Một cuộc gặp
gọn gàng, lạnh lùng, hiệu quả. Giống như gặp một bác sĩ phẫu
thuật. Mọi chuyện chỉ kéo dài chưa đến mười lăm phút”.
Chuyện được ông Nhu giải quyết khi ông lệnh cho Đỗ Sỹ Kiệm về
lại Sài Gòn.

Ngày 27/2/1962,
hai phi công Nguyễn văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom dinh Độc
Lập. Hai trái bom rơi xuống cánh phải của dinh, nơi ở của gia
đình ông Nhu. Bà Nhu bị thương. Một thời gian ngắn sau, bà Nhu
tới Hồng Kông.
“Một buổi chiều, bà đáp xuống sân bay Kai
Tak, hoàn toàn khác xưa. Không còn là Đệ nhất Phu nhân kiêu ngạo
mà tôi từng ghét cay ghét đắng, giờ đây bà là một ‘nạn nhân đáng
thương’ của vụ ám sát, được Chúa ban cho một lần sống sót.
– ‘Họ nhắm vào chúng tôi,’ bà kêu lên,
– ‘Họ muốn giết
tôi và chồng tôi!’
Bà ngừng lại để lấy hơi rồi vội vã nói
tiếp:
– ‘Họ biết rõ chúng tôi sống ở cánh phải của Dinh.
Họ cố tình ném bom để chúng tôi bị tiêu diệt!’”.
Người ta
kể rằng, may mắn thay, bà Nhu chỉ bị bầm nhẹ do ngã xuống một
cái hố bom phá sập sàn trệt. Chồng bà thoát chết không hề hấn
gì. Nhưng người thực sự thiệt mạng là bà bảo mẫu chăm sóc con
của ông bà. Khi chúng tôi hỏi thăm tình trạng của Tổng thống
Diệm, giọng bà trở nên cay đắng:
– ‘Ồ, ông ấy! Không, ông
ấy vẫn ổn, thậm chí không bị trầy xước! Chỉ có chúng tôi – rốt
cuộc, chúng tôi mới là những người họ đang truy sát, không phải
ông ấy’”.
Chúng tôi đưa bà Nhu đến khách sạn Repulse Bay.
Tại đó, sau khi cánh cửa phòng khép lại, vợ của Cố vấn Chính trị
kéo ống quần lên cho chúng tôi xem những vết bầm tím. Trông cũng
khá nặng. Bà đến Hồng Kông để sắm lại tủ quần áo mới, vì toàn bộ
quần áo của bà đã cháy rụi. Cả quần áo của chồng bà cũng vậy, bà
nói thêm. Tuy nhiên, bà từ chối mua đồ cho Tổng thống, vì “quần
áo ông ấy không hề hấn gì trong vụ nổ.” Chi tiết tưởng chừng nhỏ
nhặt, nhưng nói lên rất nhiều về mức độ bà cân nhắc – cao hay
thấp – đối với Ngô Đình Diệm.
Vụ Phật giáo nổ ra
ở Huế là dấu chấm hết cho vai trò tổng thống của ông Diệm.
Giờ là thời của ông Nhu và của anh em ông. Cùng với việc không
có chỉ đạo nào từ phía tổng thống mà chỉ có từ văn phòng của ông
Nhu chẳng khác gì một cuộc đảo chính cung đình. Đại sứ Mỹ Henry
Cabot Lodge nhậm chức, tức tốc bay qua Sài Gòn. Mỹ đổi chính
sách với Việt Nam. Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ phát sóng những chương
trình lên án chế độ của ông Ngô Đình Diệm. Tháng 9/1963, ông Võ
Văn Lang, anh ruột ông Võ văn Hải, Chánh Văn Phòng Phủ Tổng
Thống, qua Hồng Kông và cho ông Văn biết “ông lo sợ Tổng thống
sẽ không thoát khỏi những sự kiện gần đây mà không tổn hại”. Ông
Văn suy nghĩ:
“Chúng tôi không thể tiếp cận ông nữa, và
về sau, cũng không còn muốn gặp ông – không phải vì chúng tôi
ghét ông, dù đã nếm trải đủ sự phiền hà mỗi lần cố liên lạc. Mà
là vì mọi chuyện – và việc gặp ông cũng là một phần trong đó –
đã trở nên vô nghĩa, vô vọng, và mất hết tinh thần ngay từ khi
mới bắt đầu. Nếu như các em của Diệm là Cẩn và Nhu, và nhất là
đám tay chân của họ, đã để lại trong chúng tôi một ấn tượng sâu
sắc rằng chính quyền của ông cần phải chấm dứt – chỉ để xóa sổ
cái bộ sậu vây quanh ông – thì bản thân ông vẫn là người không
thể thay thế. Chúng tôi dần nhận ra rằng không thực tế khi hy
vọng có thể tách riêng ông ra khỏi các em mình. Thay vì mong
muốn, chẳng hạn, thấy Nhu được bổ nhiệm làm đại sứ tại
Washington, D.C. thay cha vợ, chúng tôi lại hy vọng vào một cuộc
ra đi trong danh dự, để rồi Tổng thống sẽ sống lưu vong cùng
chúng tôi ở Mỹ một lần nữa. Thật vậy, đó là điều mà vợ tôi và
tôi đã thầm mong suốt nhiều tháng, thậm chí trước cả khi các sự
cố Phật giáo bùng nổ. Khi khủng hoảng phát triển, chúng tôi vẫn
ngây thơ giữ niềm tin rằng giấc mơ ấy có thể trở thành hiện
thực. Bản thân chúng tôi cũng cần một cuộc sống mới, và điều đó
có thể tiếp tục từ nơi chúng tôi dừng lại năm 1953, nhưng với
một Ngô Đình Diệm hiền hòa hơn, đã được trui rèn, và mãi mãi là
ông nội Maryknoll của con gái chúng tôi. Mười năm sống trong
chính trị hỗn loạn và đau đớn (khi tận mắt chứng kiến chính em
trai mình phản bội) sẽ khiến ông trở lại là con người trước kia,
và chúng tôi có thể báo đáp ân tình bằng cách giữ ông ở lại với
chúng tôi đến cuối đời. Một lần nữa, đó là giấc mơ ngây thơ của
chúng tôi”.
Giấc mơ của ông Văn tan vỡ khi cuộc đảo chánh
ngày 1/11/1963 đã dẫn tới cái chết của ông Diệm và Nhu. Tin
chính thức từ Hội Đồng Quân Nhân loan báo hai ông đã tự tử. Ông
Văn không tin. Họ không bao giờ tự tử.
Một điều bất ngờ
đã xảy ra. Giáo sư Augustin Choy, người Hàn quốc, trên đường từ
Sài Gòn về Nhật đã ghé Hồng Kông chỉ để gặp ông Văn, một người
hoàn toàn xa lạ với ông. Ông Choy cho biết:
“Tôi tận
mắt nhìn thấy thi thể của Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Nhu,
đẫm máu và bị biến dạng – ở phía sau xe tăng đậu tại Bộ Tổng
Tham Mưu. Thật kinh tởm! Và lời khuyên của tôi dành cho ông, ông
Lãnh sự, là:
– Đừng quay lại. Tôi biết họ đang
gọi tất cả các đại sứ về nước. Đừng về nhà! Vì tôi là bạn thân
của Đại sứ Hàn Quốc, tôi được phép tận mắt nhìn thấy thi thể.
Rất ít người được thấy chúng. Và tin tôi đi, chính quyền quân sự
đang làm đúng những gì mà chính quyền quân sự ở đất nước nghèo
khổ của tôi đã làm cách đây không lâu: họ đang xé nát đất nước.
Đừng tin tưởng họ với mạng sống của ông. Tôi nhắc lại: Đừng về
nhà!”
Ông Văn đã không về Sài Gòn theo lời triệu tập các
Đại sứ và Lãnh Sự của chính phủ mới. Ông trở về New York, “thành
phố vẫn đầy ắp hình ảnh Ngô Đình Diệm, dáng đi lạch bạch như
vịt, chiếc cặp phồng chứa đầy đồ chơi mang đến cho lũ nhỏ. Dù
ông đã khuất, với tôi, ông chưa bao giờ biến mất”.
Ông Văn mất vào năm 1999 tại Dallas, tiểu bang Texas.
Song Thao


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: luỹ tre làng. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày
thứ Tư, November 19, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH