

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự Truyện
Chủ đề:
lính kể
Tác giả: LH Nguyễn Văn Hải


bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

Tiểu
Đoàn Phi Hổ Nùng, lúc này chỉ còn 1 Đại Đội. Người Mỹ đã sa
thải một số biệt kích quân không đủ khả năng. Riêng tôi sau
chuyến hành quân tập kích vừa qua, được chấp nhận trong cuộc
thi tiếng Anh. Với chức vụ thông ngôn và theo lời tôi yêu
cầu.
Cuối năm 1969, tôi thuyên chuyển sang Đại Đội
Thám sát (Recon Company) và nhận thông ngôn toán Indiana.
Toán này đang chờ bổ sung bởi chuyến xâm nhập vừa qua, toán
chỉ còn trở về người toán phó Mỹ và 2 biệt kích quân.
Thời điểm này, đầu năm 1970, chương trình biệt kích của
Nha Kỹ Thuật không còn ở mức quan sát viên như trước. Chuyển
qua giai đoạn hành động. Những sĩ quan, hạ sĩ quan đến trại
mỗi ngày một đông. 2 toán chờ bổ sung. Indiana và Idaho được
chuyển giao cho Nha Kỹ Thuật với tên mới Thăng Long và Bắc
Bình. Toán chúng tôi, Indiana bổ sung quân số xong, đươc
nhận tên mới Thăng Long. Toán trưởng Thiếu uý Bửu Chính,
toán phó Trung sĩ Lê Nam. Toán được đưa về trung tâm huấn
luyện Long Thành ở thành phố Biên Hòa thụ huấn.
Trở
lại trại CCN Đà Nẵng, cái nắng hầm hập của ngày hè thật khó
chịu. Gió biển không đủ để đẩy lùi cái nắng nóng. Cầm tờ
phép 5 ngày cộng thêm 2 ngàn đồng tạm ứng trên ban lương,
toán tha hồ vung vít ngoài phố. Riêng tôi và Thiếu uý Bửu
Chính có chương trình riêng. Ngày đầu về Phước Tường thăm
nhà tôi, rồi sáng hôm sau trực chỉ Huế. Xe đến Nam Ô, nhìn
ngọn núi cao vợi án ngữ mà khâm phục ông cha ta với công mở
cõi. Xe đợi giờ để lên qua đèo. Gió biển hắt thêm cái nóng
từ cát trắng và những cụm phi lao thấp tè chẳng che được mát
trộn lẫn mùi tanh nồng của biển theo gió hắt lên đi qua cái
làng chài bên tay mặt. Chiếc xe gầm gừ leo dốc chậm chạp,
mặt đường nhỏ hẹp bên vách đá thẳng đứng và vực thẳm bên
này. Dưới chân nước biển xanh ngắt. Ngồi nghỉ trên trạm dừng
chân đỉnh đèo, không khí trong lành, cảnh thiên nhiên hùng
vĩ. Bằng cảm nhận giây phút chợt đến, lòng tôi như thoát tục
lâng lâng bay bổng, nhẹ tênh cùng cảnh vật. Tiếng ơi ới gọi
nhau lên xe làm tôi bừng tỉnh ngất ngây. Bửu Chính sau lưng
nắm tay tôi:
– “Làm chi mà đừ người ra rứa, bộ lạ lắm
sao?”
Trấn tĩnh, tôi cười nói với hắn:
– “Cảnh
đẹp quá, tớ đang nghĩ tới hoàng thân Tôn Thất Mỹ, tới được
đỉnh đèo ngài tức cảnh sinh tình, cùng phu nhân thoát tục,
hì hụp. Kết quả thượng mã phong, để lại tiếng khóc của phu
nhân.”
Nghe động đến gia tộc của hắn, nhăn mặt miệng
chửi thề kéo tôi vào xe xuống đèo, nhưng xe cũng chậm như
lúc lên.
Ngồi trong xe lắm lúc giật mình, tưởng tượng
chỉ cần một sơ sẩy hoặc xe hư là có thể lao thẳng xuống núi
tắm biển. Phía tay mặt xuất hiện bên dưới phong cảnh tuyệt
vời. Một cái lõm biển chạy vòng dài theo núi, mây lãng đãng
dần trôi, cát trắng mịn leo lên như muốn lấn đá núi, xa xa
thấp thoáng vài con tàu cá điểm lồng vào màu xanh biển cả. 3
ngày vui chơi ở Huế, Bửu Chính đáng mặt thổ địa. Ngạc nhiên
đầu khi về tới nhà hắn. Mọi người đều gọi hắn là mụ, mụ
Chính. Hàng cây cảnh tuyệt đẹp ngoài sân chạy theo dãy hàng
hiên vắng lặng treo những lồng chim. Dưới tàn xanh xum xuê
cây ngọc lan tỏa mùi thơm ngào ngạt. Cảnh tĩnh lặng như muốn
giấu đi hay hắt bỏ mọi cuộc sống náo nhiệt. Ngồi trên sập
gụ, 2 mẹ con đối đáp hỏi nhau bằng giọng điệu hết sức nhẹ
nhàng, tiết kiệm lời nói và người đàn ông đứng tuổi sau
lưng, khi đặt 3 tách trà rồi lui đứng đó im lìm. Bà mẹ Bửu
Chính quay sang hỏi chuyện tôi. Trong sự e dè tôi chậm rãi
trả lời. Vài cái bánh trong cái dĩa to được đưa lên và những
người trong nhà nghe chuyện chạy lại thăm cũng chỉ nói ít.
Phần đông vòng tay cúi đầu chào, khép nép. Cả buổi chiều
dành cho gia đình, tôi chứng kiến nhiều phong tục cũng như
lễ nghi, phép tắc khác thường. Tỏ ra người lớn Bửu Chính nét
mặt luôn trang nghiêm, cử chỉ khiêm tốn. Có những ông bà đã
già gặp hắn vẫn phải cúi đầu, gập mình chào hỏi. Bữa cơm tối
gia đình, lần đầu tiên tôi mới thưởng thức được cái mùi
trong chất gạo ngọt nồng hương lúa, dai, dẻo của gạo đặc sản
xứ Huế, gạo de An Cựu. Ăn với chim sẻ quay giòn. Trên chiếc
Honda dame xanh, Bửu Chính chở tôi thăm thú kinh thành, lăng
tẩm, hồ vọng. Có khi xa tít ngoại thành qua những đồng lúa,
ao sen, e ấp quanh hàng cây cao chạy dài xa tận đồi dốc
thoải, ngắm mà mê cả mắt. Bầy chim trắng bay theo đội hình
chữ V xa xa một con vẻ già yếu, đang cố theo sau.
Buổi chiều sông Hương vắng lặng. Trên bờ thưa thớt, người ta
đợi nắng khuất. Đúng như vậy, mọi sinh hoạt đều đổ dồn ra,
chả mấy chốc mà náo nhiệt, những đôi gánh bán đồ ăn quà, đến
cái thúng đội trên đầu bán hột vịt lộn, mà cô hàng chỉ rao
có một tiếng, nghe lầm tưởng đến cái danh vật muôn thuở mà
phát ớn, mặt đỏ bừng. Dưới dòng sông đò cũng tấp nập chẳng
kém, inh ỏi trao đổi thuê mướn, ngã giá. Tay chỉ bên kia
sông nơi sản xuất thứ gạo de nổi tiếng. Trên đồi chùa Thiên
Mụ cô đơn lặng lẽ.
Hai đứa bước xuống con đò thuê,
khá lớn so với đò xung quanh. Ra giữa dòng, đò xuôi về hướng
hạ lưu. Không gian êm đềm, sông nước tạo cảnh hữu tình.
Trăng đã lên, sao sáng lung linh. Chiếc ghe con cập vào con
đò đang neo, mang lỉnh kỉnh những thức ăn cùng 2 kiều nữ
sông Hương, bạn học của Bửu Chính lúc hắn chưa đi lính. Qua
màn giới thiệu, với ánh mắt linh hoạt, nhưng cử chỉ e thẹn
nhẹ nhàng. Người đàn ông chủ đò sắp xếp đồ ăn cùng rượu và 2
tiểu thư bắt đầu vào cuộc vui đờn hát. Ly rượu đầu trang
trọng giao hảo với tiếng cười không ngớt. Bầu không khí nhịp
nhàng chuyển động. Bửu Chính tỏ ra thích thú hết cỡ với
những bài hát hò đặc giọng, đôi lúc nhảy nhổm lên với tiếng
mõ đúng điệu nhịp, tay vỗ vẻ suýt soa. Chưa quen với bàn
tiệc kiểu này, tôi chỉ biết làm theo và bắt chước. Ngừng
tiếng đàn hát 2 ả chia nhau tôi và Bửu Chính. Nói cười ngọt
lịm chẳng thua tiếng hát. Có lẽ còn dễ nghe và khoan khoái
hơn, rót vào tai êm ả, mê ly, cùng rượu nồng thi nhau biến
hết. Chả mấy chốc, đêm vắng lặng, bóng trăng đã ngả xuyên
qua lỗ vách liếp đò. Cả 4 người có vẻ khật khừ, những câu
hát chợt nổi, ngắn không bài bản, tuôn ra tùy hứng. Tự nhiên
bàn tay sôi nổi đi tìm cảm giác rồi những tiếng cười ré lên:
“Nhột, mần chi mà nhẽo rứa.” Cứ thế, trong đỉnh của sự cợt
nhả. Lúc ngồi lúc lăn. Ông chủ đò đã mang ra chai rượu thứ
hai. Dĩa gà luộc to lớn và chén muối tiêu chanh ngổn ngang
như chiến trường tàn cuộc. Cái phao câu gà cứ bị đẩy qua lại
tênh hênh một mình như thách thức. Vai đã ghì vai và miệng
mặt cũng gần nhau phà hơi thở nóng chảy. Thoạt tiên ngần
ngại, dần dà bạo dạn hẳn lên. Ngọn đèn chao đi theo con gió
đêm lạnh và đỉnh điểm cuộc vui bày ra trong những cái lắc
lư, sóng vỗ mạn đò. Đờn một bên, mõ một nẻo, quấn lấy nhau
trong tiếng kêu trầm thống, thịt gọi thịt, da gọi da, nhịp
tim gọi nhịp tim hổn hển, háo hức, nồng nã. Ngọn đèn gió đã
tắt đi từ bao giờ, ngoài kia ánh trăng soi rõ làn sương mù
như đang e ấp với dòng sông. Đò đêm nay, lần đầu tiên khám
phá mê cung, tôi mất đi cái đáng nhớ cuộc đời. Nhưng dù sao
nét lãng mạn của cuộc chơi đã xóa ngay trong trí những băn
khoăn, thẫn thờ. Lăn tùm xuống sông trong nước lạnh giá, tôi
khoan khoái tháo bỏ những vết sước trên thân thể. Bơi hai
vòng quanh đò, thầm nghĩ đã sạch sẽ. Vào trong khoang nằm
vật xuống ngủ lăn như chết.
5 ngày nghỉ phép, tràn
đầy những cuộc vui, tâm hồn thoải mái. Toán cũng đã dần tề
tựu. Sáng nay Thiếu uý Chính được gọi lên phòng hành quân
(TOC) nhận mục tiêu và dự thuyết trình sơ khởi. Chiều đến
lên kho lãnh đồ trang bị hành quân. Sau cơm chiều, chiếc xe
Jeep đưa toán nhập khu cấm (isolation). Nghĩa là từ giờ phút
này cho đến lúc kết thúc hành quân, Toán không được giao
tiếp với bên ngoài. Cuộc thuyết trình hành quân chính thức
bắt đầu vào lúc 8:00g tối. Thiếu uý Bửu Chính và Trung sĩ Lê
Nam dự thuyết trình. 4 đứa tôi coi TV và tán gẫu chờ đợi.
Khoảng 2 tiếng sau Chính và Nam trở về thông báo hành quân
và phân nhiệm vụ cho mỗi người. Toán chúng tôi sẵn sàng hành
quân với thành phần: 2 cán bộ thuộc Nha Kỹ Thuật và 4 biệt
kích quân (Special Commando Unit) SCU. Toán Thăng Long cùng
8 chiếc Kingbee H34 vừa mới đến bãi trực thăng trại lên
đường bay ra Quảng Trị, nơi đặt căn cứ xuất phát nằm trong
khu vực Sư Đoàn 101 Nhảy Dù Mỹ. Khoảng 10:00g sáng, 1 trung
sĩ người Mỹ đến thông báo toán trưởng chuẩn bị đi xem bãi
đáp xâm nhập.
Thiếu uý Bửu Chính cử tôi đi thay thế.
Ngồi trên xe ra phi trường, chiếc OV10 đậu sẵn chờ đợi. Lần
đầu tiên tận mắt tay sờ, lòng thán phục nền kỹ thuật tuyệt
vời, nét thiết kế mỹ thuật, kiến trúc vững chãi, và mọi vật
hoàn hảo đến từng chi tiết. Người đại uý phi công dẫn tôi
leo lên buồng lái phía sau, tay chỉ vào cái khoen màu vàng
chữ D ngang, chốt an toàn màu đỏ bên dưới. Hệ thống cấp cứu
này nằm dưới giữa chân ghế của phi công và giảng giải:
– “Mệnh lệnh tôi sẽ truyền cho bạn, hãy nhìn vào gương
chiếu hậu trước mặt tôi. Trường hợp khẩn cấp, tiếng báo động
reo vang và xin để ý khi nào tôi hô ‘Emergency, go’ bạn hãy
rút cái chốt an toàn dưới khoen vàng đồng thời nắm khoen chữ
D kéo mạnh lên trên. Đó là ghế thoát hiểm”.
Rời phi
trường, chiếc Covey lên cao bỏ lại sau lưng biển xanh. Núi
cao trước mặt và dãy đồi xanh ngắt bất chợt dâng lên dãy núi
đá loang lổ. Ngọn núi lẻ loi dẫn vào lòng chảo Khe Sanh.
Không hổ danh là loại trinh sát cơ hiện đại, từ ghế ngồi,
phi công có thể quan sát mọi hướng, kể cả dưới bụng phi cơ.
Chính sự thon nhỏ đã lấy hẳn sự che khuất tầm nhìn, đáng nói
hơn bao phủ trên đầu hoàn toàn bằng kiếng trong. Đặc biệt
không có cửa hông, người phi công phải leo qua thành máy bay
để vào ghế ngồi. Tiếng gọi trong mũ bay, nhìn lên kiếng
chiếu hậu phía trước, gương mặt đại uý phi công nhìn tôi tay
chỉ và giọng nói trong mũ bay:
– “Sửa soạn vào mục
tiêu thả toán Lôi Hổ.”
Tôi cười ra dấu hiệu tốt, lòng
thích thú vì ở vào vị trí đi Covey thả toán. Nhớ lại buổi
chiều khi toán tôi vào khu cấm, cũng là lúc toán của Đại uý
Minh, sau này là chỉ huy trưởng Đoàn 2, cùng toán phó Trung
sĩ Ban (Phạm Văn Ban) và 4 biệt kích quân lên xe ra phi
trường. Chiếc Covey đang vòng trên khu vực bãi đáp. 6 chiếc
trực thăng lộ rõ dần. Tiếng người phi công gọi tôi:
–
“Chú ý chuẩn bị, tôi xuống để chỉ điểm bãi đáp.”
Toàn
bộ trực thăng đã ở trên mục tiêu. Covey đang liên lạc với
trực thăng và lao nhanh xuống. Tôi nghe thấy tiếng chú ý và
tiếng hô Bingo của phi công và trên những chiếc trực thăng
nhìn xuống. Covey là điểm còn tiếng Bingo là bãi đáp. Covey
lao vút lên và đảo vòng. Dưới kia chiếc Gunship đang bắn dọn
bãi. Nhanh và chính xác, cuộc thả toán xâm nhập chỉ trong
vòng 10 phút.
Covey và trực thăng đang vòng vòng, chờ
báo cáo của toán, tín hiệu tốt đẹp. Sự yên tĩnh dần được trả
lại cho bầu trời. Covey đưa tôi đi xem bãi đáp. Bầu trời
xanh ngắt, ánh nắng vào trưa chói chang. Dưới kia hiện ra
dãy đồi núi đá loang lỗ và cây cao thưa thớt. Đó là sườn của
ngọn núi đá cao, vách thẳng đứng một bên, phía dưới một màu
xanh rì chạy dài tít mù. Nhìn lên phi công theo tiếng gọi:
– “Hải, bãi đáp là hố bom,” theo tay chỉ.
Toàn bộ
bãi đáp tôi nhận ra ngay. Lác đác xung quanh là những cây
cao cạnh cái hố bom rộng.
– “Đại uý, bay lại một lần
nữa để xem địa thế.”
Quan sát với địa thế như vậy,
toán phải thật nhanh chóng ẩn mình. Tôi chọn đám bụi rậm
chạy dài theo hướng Nam để ẩn nấp trước khi lấy lại phương
hướng xâm nhập mục tiêu. Trên đường về, cảm giác nhẹ nhõm,
tự mãn được trên chiếc Covey. Một dịp hiếm có và hãnh diện
vì rất ít mục tiêu phải cần đến bay không thám. Tường trình
với toán về bãi đáp, chúng tôi thống nhất cách hành động.
Thiếu uý Bửu Chính lúc này mới thổ lộ:
– “Tau không
chịu nổi những cú xuống nhanh và lên gấp của máy bay.”
Quá trưa ngày hôm sau Thiếu uý Chính và Trung sĩ Nam lên
dự thuyết trình Không Quân. Sau thuyết trình (Briefing) toán
chúng tôi có 1 tiếng đống hồ chuẩn bị. Mọi người phải thắt
đai dây sì líp qua hai háng, móc sắt sẵn sàng trước bụng.
Đôi găng tay được phát để chống cái nóng cọ sát giữa tay nắm
và giây tụt. 4 chiếc UH1 Huey và 2 Huey Gunship trên sân,
phi hành đoàn lục tục lên máy bay. Thiếu uý Bửu Chính và tôi
(Nguyễn Văn Hải) lên chiếc đầu. Còn lại Trung sĩ Nam (Lê
Nam) cùng Sơn (Lê Văn Sơn), Mẫn (Đặng Văn Mẫn), Phùng (Trần
Phùng). Sơn, Mẫn, Phùng, và tôi đều là biệt kích quân. Theo
thuyết trình, Chính và tôi trên 1 trực thăng đổ bộ trước,
tiếp đến chiếc thứ hai sẽ đổ 4 người còn lại. Dây tụt dài ở
mức 30 mét. 1 thượng sĩ Mỹ kiểm soát xem móc sắt trước bụng
đã được gài vào dây tụt hay chưa. Mọi việc hoàn tất bằng cái
dấu hiệu number one của Thiếu tá Trưởng căn cứ. Đoàn trực
thăng cất cánh. Ánh nắng chiều xuyên ngang rọi trực tiếp màu
vàng khè chói lọi vào cửa trực thăng, quang cảnh bên dưới
một màu xanh thẫm chứa giấu bí hiểm.
Quay sang phía
cửa bên kia ra dấu hỏi Chính tốt chưa? Ông toán trưởng mới
toanh của toán tôi mà cả buổi chiều qua Đại uý Ginh (Trần
Trung Ginh) Đại đội trưởng Đại Đội thám sát đặc biệt lưu tâm
và truyền thêm nghề “Nhảy Toán.” Đoàn trực thăng và cả Covey
đang trên mục tiêu, tôi nhận ra rõ khoảng núi đá thẳng đứng
mà bên kia mới là bãi xâm nhập. Chiếc Gunship lao xuống,
loạt rocket phóng xuống bãi đáp đồng thời cây đại bác 20ly
bên hông khạc ra những loạt lửa dài. Người thượng sĩ Mỹ ra
hiệu. Trực thăng từ từ đứng trên hố bom. Tay trên tay dưới
trong sợi dây tụt, chân chạm càng máy bay, búng người lao
xuống mắt hướng về phía dưới. Tay mặt nhấp siết hai lần dây
tụt để giảm bớt lực xuống và rồi theo mắt nhìn dưới đất, ghì
sợi dây một lần nữa, chân vừa chạm đất. Đưa tay tháo cái móc
sắt khỏi dây tụt. Bên kia Chính cũng vừa xong. Trực thăng kế
tiếp và 4 người còn lại xuống đất an toàn. Đúng như dự đoán
cách bãi đáp không xa, khu rừng chồi quả là nơi che chắn lý
tưởng. Thật nhanh chúng tôi biến vào khu rừng và yên tâm với
địa thế hiện tại, nghe ngóng động tĩnh. Tôi báo cáo với
Covey toán an toàn và đang di chuyển. Muỗi nhiều, tiếng vo
ve săn đuổi. Toán phải dừng lại xoa thuốc muỗi. Tôi nói với
Sơn đi đầu quan sát tìm chỗ ngủ.
Trung sĩ Nam và
Phùng vừa gài xong 2 trái mìn Claymore phòng thủ. Trời tối
đen như mực, bên một hòn đá lớn, dựa lưng vào ba lô, nghe
tiếng nhạc rừng trời đêm. Cảm giác lẻ loi một mình chân bỗng
run lên lành lạnh. Dù rằng quanh đây đồng đội luôn phát ra
những tiếng cựa quậy, đổi thế nằm. Thiếu uý Chính đang ho
vào vạt áo bịt lên miệng, kèm theo hắt hơi đứt quãng, khô
trong họng. Hắn đang dị ứng với núi rừng đêm lạnh.
Một vệt ánh sáng mờ vừa chiếu qua, nhỏm người dậy nhìn lên
chợt hiểu. Trên đồi bên kia, địch đang truyền tin cho nhau
bằng ánh đèn pin. Tiếng ầm ì, ầm ì như mỏng manh trong gió
vọng lại có lẽ còn nhỏ hơn nhiều so với cái cựa mình của
đồng đội. Ánh đèn pin trên kia vẫn lúc mở lúc tắt theo cái
khoá truyền tin. Bầu trời muôn ngàn sao, bất chợt một sao
xẹt tạo một vệt ánh sáng đâm xuống hướng Nam. Tiếng xe chạy
mỗi lúc một rõ dần. Vẻ nặng nề chở nặng hay xe đang lên dốc.
Ngọn đèn pha loang loáng có lúc bị che khuất bởi vật cản hay
lùm cây bên đường. Ánh đèn pha lúc này rọi thẳng về hướng
chúng tôi chỉ cách nhau khoảng một trăm mét. Chúng tôi đang
ngủ cạnh con đường. Tiếng động cơ tạo sự rung động lan
truyền theo đất và cả không khí âm vang dậy núi rừng. Thấp
thoáng bóng người đi bộ theo hai bên xe. Nhờ ánh đèn pha,
nhìn kỹ có người đeo súng quần áo bộ đội xen lẫn đám người
ăn mặc thường tay cuốc, tay xẻng. Ngang tầm chỗ toán đang ẩn
núp. Bốn chiếc xe và đoàn người đột nhiên dừng lại. Đã có
lệnh truyền trong cái lao xao tiếng người nhưng chẳng rõ họ
đang nói gì? Lại gần Thiếu uý Chính, tôi bàn định. Phải di
chuyển ngay trong đêm, cứ thẳng hướng mục tiêu. Để tránh xa
cái con đường nguy hiểm này. Nam và Phùng đã tháo xong hai
trái mìn. Toán lên đường mò mẫm trong đêm tối. Ánh sáng lân
tinh từ chiếc la bàn của Sơn thỉnh thoảng chợt lóe lên rồi
lại tắt. Tiếng gà gáy từ bên dưới núi vang lên, vọng lại xa
hơn tiếng thú rừng vẻ buồn tình hay cả hứng tình hú gọi, gầm
gừ hoặc vui thú reo vang. Di chuyển trong đêm tối thật vất
vả, nhưng nhờ vào địa thế trống trải không phải mở đường,
cái khó và mệt trong lúc này chính là độ dốc. Núi mỗi lúc
một cao làm trì nặng đôi chân. Một tiếng hú lớn ngân vang,
phía trên xa có tiếng đáp lại, đồng ca với đàn gà gáy dồn
dập dưới dốc núi ngụ ý như đón chào ngày mới. Mệt thì nghỉ
rồi lại leo. Nhắc Thiếu uý Chính căn hướng đi cho đúng, thầm
nghĩ sao mục tiêu cứ ở mãi trên cao. Làn gió lạnh buốt hắt
cuộn vào như ôm chặt chúng tôi, kèm theo mây mù giăng giăng
trong cái sáng mờ mờ đầu tiên của một ngày. Ngồi nghỉ lại
bên tảng đá lớn quanh gốc cây. Toán chuẩn bị lương thực cho
một ngày. Đun nước sôi trong cái ca nhôm, đổ nước vào hai
bịch gạo sấy pha cà phê và tận hưởng điếu Capstan. Thèm muốn
chết. Bửu Chính đang lo soạn bức điện và định hướng trên bản
đồ vị trí con đường đêm qua. Ăn sáng xong toán bắt đầu di
chuyển. Cây rừng không rậm cũng chẳng thưa tạo được tầm nhìn
tốt nhưng cũng rất dễ để lộ tung tích. Đành vậy còn hơn khu
rừng thưa đêm qua. Tiếng ò ò của Covey bao vùng, chiếc O2
(FAC) còn nếu OV10 thì ấm hơn ì ì. Toán dừng lại, tôi bảo
Mẫn bật điện đàm. Covey đang gọi tôi trả lời và chuyển ngay
bức điện. Tiếp tục di chuyển theo triền dốc thoai thoải. Khu
rừng này có cái sướng là không có lấy một con vắt. Tiếng
người ho làm chúng tôi theo tự nhiên ngồi thụp xuống, nhìn
vào chỗ phát ra tiếng ho, chả thấy gì! Lại ho nữa, lần này
sặc sụa.
Rồi tiếng nói như còn ngái ngủ, chậm rãi:
– “Ho mãi vậy? Để tớ ngủ. Đắp cái khăn vào cổ đi.”
Chúng tôi đồng nhìn nhau, tôi tự hỏi chẳng lẽ là ma, mà
ma sao nói được. Chợt hiểu tôi lấy tay chỉ chỉ xuống đất và
những cái gật đầu đồng tình. Phất tay ra hiệu lẩn trốn, di
chuyển trong thế khum khum. Một bóng người chui ra từ đất
phía bên kia triền dốc vừa ngáp vừa sững sờ nhìn chúng tôi.
Người gần nhất là Trung sĩ Nam. Cây Car15 của hắn nổ khoảng
nửa băng, phát một. Bóng người đổ ra sau. Toán lập tức ra
sức nhắm chạy theo nhau mau mau thoát càng xa càng tốt. Một
địa thế có vẻ thuận lợi cho tác chiến. Tôi gọi mọi người
dừng lại, đổi ba lô cho Mẫn rồi bật máy liên lạc với Covey.
Ngay tức khắc có tiếng trả lời, tôi báo đụng địch và xin trợ
giúp khẩn cấp. Covey trả lời đến ngay. Chúng tôi tiếp tục di
chuyển, càng đi dốc càng cao, cây ít nhưng đá thì nhiều. Lúc
này Covey đã trên đầu và gọi:
– Zulu Romeo đây Oscar
November, cho xin số nhà đi.
Cái ánh nắng buổi sáng
bởi những tảng sương mù che khuất nên tôi đành nói với Thiếu
uý Chính cho một người cầm panel ra khoảng trống mé ngoài
phía thung lũng chờ máy bay. Nhớ mật hiệu màu cam.
–
Oscar November, tôi đang ở hướng 8:00g, anh vòng sang phải
qua thung lũng, ngay trên núi.
– Oscar November đây
Zulu Romeo, cứ tiến tới hướng 11:00g, 12:00g. Panel màu cam
đang chờ trước mặt.
– Ok thấy rồi. Bạn nên cố lên
phía trên, có những tảng đá cao, ít cây rất dễ cho không
trợ, sẽ có ngay đồ chơi, đang xin cho bạn triệt xuất.
– Cám ơn Oscar November, thoát.
Chúng tôi đi thêm
100 mét, quả đúng những tảng đá mọc chen cùng cây thấp. Bãi
lý tưởng để câu dây triệt xuất. Lập ngay vị trí phòng thủ,
bởi chắc chắn địch sẽ theo chân chúng tôi. Trung sĩ Nam vừa
gài xong trái Claymore và 2 trái mìn M14. Toán chờ đợi. Trái
mìn M14 nổ tung và rồi những tràng đạn tới tấp, xối xả của
địch bắn vào. Cây M79 của Phùng nổ ác liệt tạo nên bụi khói
che khuất tầm nhìn. Với vị trí lúc này ở vào địa thế cao,
chơi từ từ lựu đạn là tốt nhất. Một tiếng nổ lớn và rồi
loang theo những lửa và sức nóng. Trái B40 của địch nổ tung
trên tảng đá lớn. Loạt hơi nóng bao trùm đánh bạt cái lạnh
ban sáng. Chúng tôi ở vào vị thế vượt trội và sau màn lựu
đạn và M79, địch có vẻ chững lại. Cùng lúc chiến trường yên
ắng nặng nề. Liên lạc báo cáo nhanh với Covey. Tôi nhắc
Trung sĩ Nam:
– “Coi chừng trái Claymore, tụi nó sắp
tấn công.”
Một tiếng xẹt, vèo ngay trên đầu, cây 79
của Phùng vừa phát hiện tên xạ thủ B40 của địch. Ôm trọn
trái 79, rồi tiếng nổ và tên địch gập xuống như ai đó gấp tờ
giấy. Không nghe tiếng nổ trái B40 của địch, có lẽ đang
xuống thung lũng. Vẫn cái bấm mìn trước mặt, Trung sĩ Nam
đang loay hoay móc thêm lựu đạn. Tiếng hô xung phong vang
dội. Đám địch xuất hiện vừa bò vừa bắn dữ dội lên trên.
Những cây Car15 giờ đây mới nổ giòn. Xác người sấp ngửa thấy
rõ làn đạn cày xới cùng những co giật thân mình. Lợi thế
trên cao quả là tuyệt vời. Qua đi những khói bụi đám đông lố
nhố giăng hàng lum khum, tay súng nổ giòn nhào lên. Trái mìn
Claymore nổ tung khói lửa bụi mù. Bên này địch vẫn tiếng hô,
thét áp đảo. Thiếu uý Chính đứng hẳn lên hô:
– “Chạy
lên phía trên mau.”
Rồi không đợi ai, hắn tiến lên
trước. Đúng với chiến thuật mìn nổ là lúc mở đường máu. Chạy
một đỗi, chiếc Covey đang trên đầu. Xa xa 2 chiếc khu trục
A1 Skyraider. Tôi đề nghị với Chính, lập ngay phòng thủ gài
luôn trái mìn của Phùng đang gọi Covey xin không kích. Tôi
thấy Phùng từ nơi gài mìn hớt hải chạy lên, bỗng quay lại nổ
1 trái 79.
Tôi hét vào trong máy:
– Oscar
November, tôi đang bị bao vây, địch tấn công. Oanh kích ngay
vào trái khói vàng.
Tháo trái khói đeo nơi ngực, tôi
liệng thẳng xuống hướng địch. Ngay lập tức tấm panel vàng
cũng được căng lên giữa toán. Loạt đạn 20ly phầm phập nổ
liên tục. Chiếc A1 như ngừng lại, nhìn thấy cả tia lửa nơi
nòng súng. Chiếc thứ hai cũng đang từ từ chúc đầu nổ giòn
đạn 20ly. Địa thế quá gần, không thể thả bom chùm. Bên trên
chiếc Covey bỗng lao vụt xuống phóng 1 trái khói. Chiếc A1
đầu tiên lúc này tách ra tấn công vào vị trí Covey mới phát
hiện. Tiếng bom nổ đinh tai không dứt kèm theo bên trận
tiếng hô xung phong lanh lảnh. Bỗng chốc địch tràn ngập.
Súng nổ ầm vang. Cạnh tôi Phùng thét nghe rợn người, cây M79
văng khỏi tay hắn, lồng ngực thấm đẫm máu. Nằm lăn người qua
một bên, tôi quăng vài trái lựu đạn và vội tiếp vào súng
băng đạn mới. Cả hai bên cùng nấp vào những phiến đá chơi
trò cút bắt. Bên kia Thiếu uý Chính ra dấu Sơn chết rồi. Hai
chiếc A1 vẫn tấn công vào mục tiêu. Khẩu phòng không bị
Covey phát hiện giờ đây im tiếng. Trong máy Covey đang gọi:
– Zulu Romeo, bạn chuẩn bị triệt xuất di chuyển nhanh
lên phía trên 100 mét. A1 sẽ can thiệp phía sau, bỏ lại 2
người chết.
Thông báo cho Thiếu uý Chính. Mò tay vào
túi bi đông đựng lựu đạn tôi lấy hết số lựu đạn của Phùng,
rồi nắm lấy cái bấm mìn chờ lệnh. Những trái bon napalm tạo
một vệt lửa chạy dài, cách chúng tôi chỉ vào khoảng 50 mét.
A1 đã quen với vị trí mục tiêu. Nhờ vào địa thế và khẩu B40
của địch đã bị diệt, thêm vào sự tham chiến của 2 khu trục
cơ, Toán chúng tôi mới giằng co được cho tới lúc này. 6 trực
thăng đã có mặt trong vùng, tạo nên sự sinh động phấn khởi.
2 chiếc Huey Gunship thế chỗ cho khu trục cơ. Trên kia Covey
giục toán cố di chuyển. Bằng một hiệu lệnh gật đầu đồng ý.
Trái Claymore nổ tung, khói và bụi đất che chắn sau lưng.
Toán vội vã chạy lên đỉnh cao hơn. Đành bỏ lại Sơn và Phùng.
2 Gunship thay nhau yểm trợ. Đến được một phiến đá bằng
rộng, đường kính khoảng 10 mét. Đưa tấm panel lên làm ám
hiệu, Mẫn đang ngửa cổ nhìn trực thăng. Súng địch tới tấp từ
hông của toán. À, tụi này đi vòng mong chiếm đỉnh cao, nhưng
sợ máy bay phát hiện. Giật mình nhìn lại, Mẫn chân vẫn còn
quì nhưng người gập sấp trên phiến đá, máu tuôn ra lai láng.
Tôi gọi Covey báo cáo, nhưng sao máy câm nín. Hiểu rồi lúc
ngã xuống vì bị tấn công, nhớ lại một cái gì như ai đánh vào
vai rất mạnh, nhìn qua sau vai, cởi bỏ cái ba lô để kiểm
soát. Đạn cày nát nắp ba lô tạo một đường rách dài lộ ra
phần trên máy truyền tin nát bét. Rút vội cái máy P90 mở làn
sóng cấp cứu. Có ngay tiếng hỏi:
– Làn sóng cấp cứu
nào lên với tần số?
– Đây Zulu Romeo. Máy truyến tin
của tôi bị bắn nát. Xin chuyển làn sóng cấp cứu. Thêm 1 toán
viên chết.
– OK Zulu Romeo, nhận rõ. Trực thăng sẽ
câu bạn lên khi nào tình hình cho phép. Chuẩn bị sẵn sàng,
móc và đưa người chết về.
– Oscar November, Roger
that.
Sự can thiệp chính xác vào địch bên hông vị trí
toán. Viên phi công trực thăng đã thấy rõ địch quân bên
dưới. Đã ngớt tiếng súng, thỉnh thoảng thảy vài trái lựu đạn
phòng ngừa. Chúng tôi ghìm súng chờ đợi. Chiếc Gunship vừa
vút lên cũng là lúc Covey gọi tôi:
– Zulu Romeo,
chuẩn bị trực thăng đang xuống bãi.
Đưa tấm panel màu
cam về phía trực thăng đang từ từ tiến đến, 3 người đã chuẩn
bị cho câu dây. 2 chiếc móc dây đai dù qua háng đã được gài.
Trung sĩ Nam gài móc dây cho xác Mẫn đang nằm dài trên phiến
đá. Ở bên này theo gió mùi máu tanh hòa lẫn khói thuốc súng
tạo cảm giác nôn nao lợm giọng. Chiếc Gunship vụt qua. Khẩu
đại liên tự động 6 nòng vãi đạn như mưa xuống bên sườn đồi.
Trực thăng đứng trên đầu đang thả xuống 4 sợi dây câu, bỗng
chao đi đầu chúc thẳng xuống thung lũng. Tiếng súng lại vang
lên pha lẫn tiếng rocket nổ ầm ầm của chiếc Gunship theo
sau. Bất giác nhìn xuống thung lũng một đám lửa khói bốc
cao, thầm nghĩ những người chiến sĩ đang đi lên với thượng
đế. Có tiếng Covey:
– Zulu Romeo. Bỏ lại người chết.
Bạn có 10 phút để ra khỏi nơi tồi tệ đó. Sẽ dùng hỏa lực.
Thoát mau đi.
Đứng vội lên tôi nói với Nam và Chính
chạy đi mau lên. Băng nhanh vào hàng đá núi, chúng tôi chạy
dần lên cao, mặc cho địa thế hiểm trở, nhưng nơi đây nơi lý
tưởng cho tác chiến. Phân thành ba góc, Trung sĩ Nam trải
ngay tấm panel. Tôi gọi Covey:
– Oscar November. Địa
điểm mới, anh thấy thế nào?
–Zulu Romeo. Tốt. Chuẩn
bị triệt xuất.
1 chiếc UH1 Huey đang gần lại chúng
tôi. Hỏa lực trên Gunship cày đạn xới tung tóe nhiều nhánh
cây chồi gẫy gập. Trực thăng đang ở trên đầu. Sức gió từ
cánh quạt vẹt hẳn hàng cây. Chiếc Gunship thứ hai bắn ra
những trái rocket có tiếng nổ phụ. Loại rocket phóng ra
những đinh kim để chống biển người, cốt che cho trực thăng.
Người Mỹ phụ trách thả, rước toán đang buông dây câu. Rõ như
ban ngày, người xạ thủ trực thăng rời tay súng, người gập
thẳng vào giá súng, tay soải lỏng, ngay chỗ tôi đứng chờ dây
câu những giọt máu tong tong chảy xuống in đậm vào hàng đá
tảng dưới chân. Lập tức trực thăng rú lên cất thẳng lên cao
rồi vụt biến. Điên cuồng Gunship lúc này xuống thấp hơn.
Loạt đại liên và đạn 40ly tự động trút rào xuống như mưa.
Cùng lúc tiếng súng của địch bên dưới ầm vang. Vội thảy mấy
trái lựu đạn. Tiếng Covey gọi tôi:
– Zulu Romeo. Bạn
hãy cố cầm cự. Gunship sẽ ở cùng bạn. Mọi thứ sẽ trở lại
ngay. Cố lên.
– Oscar November. Nhận rõ xin bạn cố
gắng. Hỏa lực của tôi đang hết dần.
2 trực thăng vẫn
trút xuống thép và lửa. Nhưng thời gian tác xạ lâu dài hơn
không tới tấp như trước. Nó đang câu giờ.
Chiếc Covey
O2 sơn màu rằn ri lao nhanh xuống phía đồi và đang thẳng vút
lên. Một trái khói trắng bốc cao. Chiếc F100 cũng sơn màu
rằn ri, không biết đến từ lúc nào lao nhanh xuống từ bụng
phi cơ 3 trái bom được nhả ra ngay trái khói chỉ điểm. 3
tiếng nổ dậy đất ầm vang cột khói bốc cao đen kịt. Tôi còn
thấy rõ đường đạn đỏ theo máy bay. Những tiếng nổ tiếp theo
sau liên tục. Một cột khói đen như cái nấm khổng lồ, bên
trong nhìn rõ ngọn lửa sắc lẻm tung hoành. Chiếc F100 đã
đánh trúng mục tiêu, bằng ngay mấy trái bom đầu.
Thật
ngoạn mục khi chứng kiến cảnh những hòn than lửa bắn nối
đuôi nhau vào chiếc F100 đang lao xuống bung ra một lúc 3
trái bom mà không thèm bốc lên cao, đang bay gần như sát cụm
rừng. Tiếng nổ ầm vang như sấm. Một biển lửa bao phủ mục
tiêu. Phi cơ dần vút lên cao, giờ chỉ còn chấm nhỏ rồi mất
hẳn trên bầu trời. Trận không kích thành công.
Nơi
chúng tôi trận chiến bỗng ngưng hẳn. Một cuộc chơi mới
chăng? Đã có tiếng trực thăng từ hướng Đông vọng lại. Những
đốm đen từ bầu trời to dần. 6 chiếc trực thăng đang bay tới.
– Zulu Romeo. Bạn thấy chiếc OV10 chưa? Hắn sẽ thay tôi
giúp bạn. Tôi chỉ còn đủ xăng để bay về, tạm biệt.
Ngay sau đó tiếng Covey gọi.
– Zulu Romeo. Tôi thấy
trái cam của bạn rồi. Chờ dọn bãi, hãy chuẩn bị trực thăng
sẽ đến từ thung lũng, ghé vào bốc bạn ra. Không sử dụng dây
câu.
– Oscar November. Roger that.
Chiếc Cobra
bổ xuống trút những viên đại liên, rồi tiếng nổ của đạn 40ly
(M79). Tiếng súng của địch bên dưới vẫn từng chập xối xả cặp
kè theo chiếc Cobra. 4 chiếc Kingbee H34, thuộc phi đoàn
219, Không quân Việt Nam Cộng Hòa. Phi đoàn được mệnh danh
Thần Phong bởi thành tích anh hùng, rất liều mạng trong
chuyến thả và rước toán Biệt Kích. Huyền thoại về những phi
công được danh xưng Cowboy hay Mustachio được loan truyền và
mãi là những hiệp sĩ hào hùng bất diệt. Mặc cho tầng đạn từ
Cobra, bên dưới địch quân vẫn bắn lên như mưa mỗi khi trực
thăng xuống tác xạ. Người phi công Cobra như hiểu được tình
hình và đã quen mục tiêu. Bây giờ họ đổi chiến thuật. Xạ
kích từ trên cao rồi quay ngoắt về hướng thung lũng. Tiếng
súng chát chúa rồi thấy rõ những vết đạn xoáy tung những hòn
đá nhỏ rớt trên đầu và cổ. Nhìn ra 2 tên địch vừa bò lên nằm
im bất động. Lựu đạn lại được tận dụng. Cũng may loại lựu
đạn đặc chế cho Biệt Kích là loại nhỏ, nhẹ nên mỗi người
chúng tôi có thể mang theo hành quân khoảng 30 trái.
– Zulu Romeo. Bạn có 2 phút chuẩn bị. Trực thăng đang đáp.
Chiếc Kingbee bay theo sườn núi phía thung lũng sát
những cây chồi rừng. Người xạ thủ đang vãi đạn trên đường hạ
xuống. Chỉ còn vài mét nữa, cố chịu sức gió từ cánh quạt,
chúng tôi khom lưng lao thẳng về phía cửa trực thăng, chỉ
còn cách trong gang tấc. Bỗng trực thăng nhổm lên, phía sau
đuôi kêu ầm ầm. Vội nằm lăn xuống đá. Trực thăng giống như
con diều mất gió ngửa bụng lao về hướng thung lũng xoay tròn
như con cù, rớt dần dần cho đến khi ánh lửa và khói bốc cao.
Chứng kiến sự việc, tự dưng ứa nước mắt. Nằm đây mà hồn tôi
nao nao. Một nỗi buồn khôn tả ập vào tâm trí. Trong thân thể
sức lực gần như chẳng còn, đành nằm buông xuôi ăn vạ vậy.
Đạn và rocket từ Cobra vẫn bốc lên những tầng khói. Gió hắt
lên bao trùm chiến trường mùi thuốc nổ khét lẹt hòa lẫn cây
rừng tỏa hương ngai ngái, nồng nã. 3 chiếc Kingbee còn lại
đang quần đảo bên trên chiếc Covey. Họ đang bàn tính gì
chăng? 2 chiếc Cobra vẫn thay nhau kềm mục tiêu. 1 Kingbee
đang tách đoàn 3 chiếc. Từ hướng thung lũng, hạ độ cao ngang
tầm sườn núi bay thẳng vào chúng tôi. Trực thăng rú lên rồi
từ từ hạ xuống ngay sát chỗ toán. Gập người để tránh sức
gió, chỉ còn khoảng 1–2 mét, chồm người lên lao nhanh vào
bụng máy bay. Qua khung cửa trực thăng đụn mây trắng vun vút
đi ngang nhanh đến chóng mặt. Một áp lực nào đó như đè chúng
tôi xuống sàn. Bằng vào cái hất ngược, trực thăng quẹo gấp
sang trái, thấy cả trời mây và cảm giác trì nặng, thổn thức.
Trực thăng đang thẳng xuống thung lũng rồi dần dần bốc lên
cao. Một màn bốc toán ngoạn mục, đầy tính oai hùng, sáng tạo
và một nét đẹp, tuyệt đẹp trong hành động. Tôi thở phào xoài
người trên sàn, tứ chi gần như không cảm giác. Trong bụng
tiếng sôi eo éo và cơn đói tràn dâng. Miệng ứa nước miếng.
Lôi Hổ Nguyễn Văn Hải



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by cathy chuyển
Đăng ngày Chúa Nhật, March
8, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH