
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tùy bút
Chủ đề:
tình bằng hữu
Tác giả: MĐ
QYS Vĩnh Chánh

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Tôi
bắt đầu biết đến BS Trần Xuân Dũng vào khoảng gần cuối thập
niên của đầu của thế kỷ 21 sau khi đọc được mấy bài của tác
giả trên mạng lưới và lai rai qua Tập San Y Sĩ Canada, và
biết đó là một đàn anh từng phục vụ trong Quân Y Thủy Quân
Lục Chiến. Lời văn đượm vẻ khí khái của một tinh thần bất
khuất, nhất là từ một số bài thơ và những câu truyện ngắn.
Giữa năm 2013, tình cờ được một bạn cho đọc ké cuốn “Y
Sĩ Với Nàng Thơ” – một chủ đề được chính BS Trần Xuân Dũng
đề xướng và kêu gọi đóng góp trong Đại hội Y sĩ thế giới
2011 – tôi nhận thấy các bậc trưởng thượng, các niên trưởng,
quý đàn anh với đa số từng là những Quân Y sĩ trong mọi binh
chủng, có thật nhiều tài hoa thi phú. Thật đáng nể! 100 tác
giả, theo lời tựa của BS Phạm Hữu Trác “không hẹn mà gặp,
cùng chung một căn cước tương đối đồng nhất là nghề thầy
thuốc, sinh hoạt trong một khoảng dài thời gian ba chục năm
trên tờ Tập San Y Sĩ, tụ họp lại trên trang giấy trắng
này... Xin người đọc đừng trông đợi một sự đồng hành, cũng
đừng tìm trong sách một đề tài chung. Họ là những tấm lòng
trên không gian rộng và thời gian dài... Họ dùng ngôn ngữ,
âm điệu, ý tưởng để tạo ấn tượng cảm giác. Như những nét vẽ
trên một bức họa, có những màu sắc để người xem tranh chấm
phá cho mình, xin tìm trong thơ những góc trống tâm cảm
thường dành cho người đọc tham gia vào sáng tạo”. Phải chăng
tập thơ “Y Sĩ Với Nàng Thơ” nói trên cùng lời tựa đã đánh
động khả năng sáng tạo và thúc đẩy cá nhân tôi trải bày tâm
tư trên trang giấy, với bài viết đầu tay “Tháng Ngày Tao
Loạn”.
“Không hẹn mà gặp” – xin được lặp lại một câu
viết trên của BS Trác, khi vào năm 2017 đến thăm Bác Sĩ
Hoàng Ngọc Vinh ở Montreal, người bạn thân từ thuở sinh viên
YK ngoài Huế, tôi tìm thấy và đọc bài “Thương Vong Các Y Sĩ
TQLC” của tác giả Trần Xuân Dũng, nằm kế bài “Tôi Đi Nhảy
Dù” của mình trong Tập San Y Sĩ “Quên Mình Cứu Người” xuất
bản tháng 5, 2017. Một bất ngờ rất thú vị, đánh dấu một liên
hệ tâm linh nào đó đang phôi thai giữa người đàn anh tên
tuổi và thằng em đang chập chững vào đời?!
“Hồn
linh còn vương trên tóc bạc
Anh nhớ sa trường, em có hay”.
Thấm thoát vài năm sau, nhân biết chị Trần Tường Vi Bảo
Anh đi Úc thăm anh mình, tôi nhờ chị mang cuốn sách “Tháng
Ngày Tao Loạn” của mình vừa xuất bản tháng 7, 2019, tặng BS
Trần Xuân Dũng sống tại Melbourne. Tháng 9 cùng năm, tôi
nhận sách của BS Dũng tặng ngược lại cho mình, không phải
một cuốn sách mà đến 2 cuốn. Cuốn “Sống Chẳng Còn Quê” (dài
696 trang) và “Văn Học Quân Đội” (khổ lớn, gồm có 630
trang). Cả 2 cuốn sách luôn chiếm vị trí trân trọng trên kệ
tường, ngay trước mặt mỗi khi tôi ngồi gõ viết bài. Ngoài
tôi, anh Dũng còn gởi thêm mấy cuốn Văn Học Quân Đội nhờ tôi
trao tặng cho Viện Bảo Tàng Lịch Sử Quân Lực VNCH ở Little
Saigon.
Tôi chọn cuốn “Sống Chẳng Còn Quê” đọc trước
vì cái đầu đề hấp dẫn – với ý nghĩ hầu như đa số người tỵ
nạn CS chúng ta hiện sống tại hải ngoại đều một lòng nghĩ
như thế!? Cuốn sách là một tự truyện viết về thân thế gia
đình cha mẹ, 3 anh em Trần Xuân Ninh, Trần Xuân Dũng, và
Trần Tường Vi, từng lớn lên và sinh sống ở Vinh, đã phải lìa
bỏ nơi chôn nhau cắt rốn tìm đường lên Hà Nội, rồi sau đó
vào Nam ngay sau khi hiệp định Genève. Cả 3 anh em hết sức
cố gắng học hành, vì thương thân phụ cực khổ nuôi 3 con khi
thân mẫu lại mất sớm. Anh Cả là Bác sĩ Trần Xuân Ninh tốt
nghiệp YK Sài Gòn năm 1963, về sau trở thành một Giảng Sư về
môn Giải Phẫu Nhi Khoa; em kế là Bác sĩ Trần Xuân Dũng tốt
nghiệp YK Sài Gòn 1965, sau đó trưng tập và tình nguyện phục
vụ Quân Y Thủy Quân Lục Chiến; em gái Trần Tường Vi tốt
nghiệp Nữ Hộ Sinh Quốc Gia Sài Gòn năm 1968.
Khi gia
nhập Quân Y TQLC, BS Trần Xuân Dũng được đưa về làm Y sĩ
trưởng TĐ 4 TQLC một thời gian khá lâu rồi qua phục vụ các
TĐ 3 TQLC và TĐ 6 TQLC trước khi trở thành Y sĩ trưởng Chiến
Đoàn B TQLC vào cuối tháng Giêng 1968. Vì vậy BS Dũng đã
tham gia trận đánh Mậu Thâu 1968 với Chiến Đoàn B tại Tân
Sơn Nhất, Sài Gòn, và tỉnh Gia Định. Gần nửa năm sau, anh
lại được thuyên chuyển ra Quảng Ngãi làm Đại đội trưởng ĐĐ 2
Quân Y, về sau trở thành Tiểu Đoàn 2 Quân Y khi đơn vị Bộ
Binh được nâng cấp lên Sư Đoàn 2 BB. Tại đây thật đúng số
trời, anh lại có mặt trong cuộc chống trả đợt tấn công Mậu
Thân lần 2 khi VC manh nha đánh phá thị xã Quảng Ngãi nhưng
rút lui sau một đêm bị thiệt hại nặng và không thành công.
Và sau đó anh trở thành Y sĩ trưởng của Tiểu Đoàn 2 Quân Y
với cấp bực thiếu tá.
Khi Anh được thuyên chuyển về
phục vụ Trường Quân Y, BS Dũng viết “Nay tôi đã về trường
Quân Y Sài Gòn, công việc tương đối nhàn... Năm 1973, tôi
lập gia đình với Cô Sẻ, một thiếu nữ mảnh mai, sinh tại Hội
An. Song thân nàng đều chính gốc Quảng Nam”. Hay là chỗ này,
trong một câu viết rất đơn giản, anh nhẹ nhàng giới thiệu
ngắn gọn về người bạn phối ngẫu, với một chút kín đáo giữ
riêng cho mình. Tôi đoán chừng có lẽ anh từng gặp chị trong
thời gian anh làm việc ở Quảng Ngãi và trở thành vợ chồng
trong khi anh thuyên chuyển vào Sài Gòn.
Trong khi đa
số các bác sĩ đồng nghiệp đều có phòng mạch tư, anh vẫn đạp
xe đạp và sau này đi xe mobilette cũ rích đi làm việc. Anh
viết “Tôi mang cấp bực thiếu tá, lương khoảng 40,000 đồng
mỗi tháng. Một bác sĩ làm phòng mạch tư, trước và sau giờ
làm việc, có thể kiếm được 200,000 đồng mỗi tháng, hay hơn
nữa”. Một bạn đồng nghiệp trẻ nói “Anh Dũng ạ. Anh hiện đã
lập gia đình. Nghèo quá không nên”. Có người nhờ anh coi
giùm phòng mạch của họ khi đi vắng, anh vui vẻ nhận làm vào
những giờ nghỉ và được các đồng nghiệp đưa nguyên số tiền
khám bệnh. Đồng thời, anh Dũng còn xin trực gác thêm tại
Bệnh Viện Vì Dân và Bệnh Viện Nhi Đồng, ngoài những giờ làm
việc tại Trường Quân Y.
Tháng ngày tại trường Quân Y
rồi cũng qua nhanh, dù có đôi chút đụng chạm. Tình hình đất
nước đến hồi cận tử. Ngày Chủ Nhật, 27 tháng 4, 1975, BS
Trần Xuân Dũng gặp mặt Đại tá Hoàng Cơ Lân tại trường Quân Y
trong phòng trực của mình. Sáng sớm ngày thứ Hai, 28 tháng
4, 1975, Đại tá Hoàng Cơ Lân gọi điện thoại, với lời đối
thoại như sau:
“Đại Tá Lân: Sáng thứ Hai sẽ phải
có lễ chào cờ vào lúc 7 giờ. Ý toi thế nào?
– Tôi trả
lời: Tôi đề nghị mình nên hủy bỏ buổi lễ chào cờ sáng thứ
Hai này. Lý do: Việt cộng pháo kích nhiều. Một trái có thể
rơi vào vũ đình trường bất cứ khi nào. Số sinh viên và sĩ
quan, hạ sĩ quan cũng như các khoá sinh sẽ bị tử vong,
thương vong rất nhiều. Xin Đại tá quyết định.
– Ông
ngưng một phút rồi nói: Ừ thôi! Moi quyết định theo ý toi.
Toi hủy bỏ buổi lễ chào cờ đi.
– Tôi đáp: Tuân lệnh.
Đại tá Chỉ huy trưởng buông máy xuống... Như vậy tôi là
người sĩ quan trực cuối cùng của Trường Quân Y. Và cũng là
người nói chuyện cuối cùng với Chỉ huy trưởng cũng như nhận
lệnh của Đại tá Hoàng Cơ Lân, một cấp chỉ huy đáng kính,
trước khi mất nước.”
Đến chiều này 29 tháng 4,
1975, anh cho biết “vợ
tôi bắt đầu chuyển bụng... Tôi định chở vợ tôi bằng cách cho
ngồi sau chiếc xe Mobilette cũ rích... đến BV Từ Dũ... Lúc 6
giờ sáng ngày 30 tháng 4, 1975, Tường Vi xuống tìm tôi báo
tin cho biết: vợ tôi đã sinh rồi, lúc 5 giờ. Một bé gái...
Tới 10 giờ sáng, ngày 30 tháng 4 Dương Văn Minh lên tiếng
đầu hàng. Thế là hết”.
Một ngày vui với một mầm sống vừa vươn lên với ánh sáng
bình minh. Nhưng oái ăm thay đó cũng là một ngày buồn, một
ngày đen tối, vĩnh viễn trở thành ngày quốc hận.
Giống như bao nhiêu quân nhân khác, BS Trần Xuân Dũng vào
trại tù cải tạo, cũng bị bầm dập, chà đạp nhân phẩm, đói
khổ, lao động chân tay. Cũng nhìn những cảnh trái tai gai
mắt, của những tên trở cờ, antenne... Cũng chứng kiến nhiều
cái chết của tù trốn trại bị án tử hình, hay tù bị chết vì
bệnh không có thuốc chữa. Hay những bệnh tâm thần, trầm cảm
do tuyệt vọng, mất hy vọng trong tương lai, mất niềm tin vào
người thân, đưa đẩy bạn tù tìm đến quyên sinh...
Tôi
ngạc nhiên, cảm thấy gần gũi với anh Dũng một cách tự nhiên
khi nhìn hình 4 chiếc lược anh làm tặng vợ, 2 con gái, và cô
em gái Tường Vi của mình trong thời gian ở tù – Vì chính cá
nhân tôi cũng từng làm chiếc lược tặng vợ mình khi ở tù.
Trong khi trên chiếc lược tôi chỉ đơn giản khắc tên vợ mình,
anh Dũng lại khắc 1 câu thơ tình tứ “Gởi nhớ thương về trên
tóc em”. Thật lãng mạn và tình tứ!
Sau khi ra khỏi ra
khỏi tù cải tạo vào năm 1978, anh Dũng được cho làm bác sĩ
tại một phòng y tế phường ở Sài Gòn. Tại đây anh có dịp chữa
bệnh cho một thiếu nữ đang bị lên cơn suyễn nặng và tiếp tục
điều trị cho cô ta trong nhiều lần sau đó. Khi biết được cha
của cô hiện đang tù đày ngoài Miền Bắc, anh cố tình viết
nhiều toa thuốc gồm những thứ thuốc thông thường nhưng rất
cần thiết cho người trong tù, để cô ta lãnh thuốc từ dược
phòng nơi anh làm việc và gởi, đem ra cho cha mình. Chính sự
chữa trị “mát tay” và sự giúp đỡ vô tình nhưng rất nhân đạo
của anh đã động lòng thân mẫu của cô bệnh nhân, để cuối cùng
bà sắp xếp cho con gái bị suyễn kinh niên của mình vượt biên
cùng một lần với gia đình vợ chồng anh cùng 2 con gái Chim
Khuyên và Vàng Anh. Chuyến đi song suốt, tàu đến Mã Lai vào
tháng 6, 1978. Tháng 8 cùng năm, gia đình anh chị chọn nước
Úc làm miền Đất Hứa.
Như có bàn tay nhiệm mầu sắp
đặt, đời sống gia đình anh chị ổn định dần, nhất là sau khi
anh bắt đầu hành nghề bác sĩ tư vào năm 1984 tại Melbourne.
Theo thời gian, Chim Khuyên tốt nghiệp Dược sĩ, em gái Vàng
Anh tốt nghiệp trường Luật, và con trai út Xuân Vũ, sinh năm
1987 trên đất nước tự do, tốt nghiệp Nha sĩ. Cây lớn mạnh
thành cổ thụ, mọc rễ, cành lá sum sê. Gia đình vui hưởng
hạnh phúc. Tình thân ái nở rộ giữa các anh em đồng môn, đồng
nghiệp, giữa các đồng đội và các cựu quân nhân. Trong hơn 4
thập niên xây dựng sự đoàn kết và tình tương ái của cộng
đồng Việt Nam tại hải ngoại, BS Trần Xuân Dũng trở thành một
khuôn mặt quý mến, từng đóng góp ý kiến, bài viết, vần
thơ... cho nhiều nhóm bạn thân hữu, nhiều diễn đàn xa gần.
Anh từng được vinh danh là người bác sĩ “nghèo” nhất Úc Châu
– Thật đáng khâm phục – Nhưng tôi cũng hiểu, bên cạnh, anh
rất “giàu” về tình yêu quê hương đất nước, tình đồng đội,
tình chiến hữu, tình nhân ái, tình người với người, tình yêu
mến phục vụ bệnh nhân... Cũng vì vậy anh đã nhận lại bao
nhiêu sự thương mến của biết bao đồng hương, bệnh nhân, đồng
nghiệp, và người thân quen.
Qua sáng kiến và cố vấn
của người anh là anh Trần Xuân Ninh, bấy giờ đang ở năm cuối
Nội Trú 1963, một người từng có sở thích làm báo từ khi còn
ở trường Trung Học Chu Văn An, một nhóm sinh viên nòng cốt
trường YK Sài Gòn quyết định thành lập một tờ báo riêng cho
toàn trường. Vậy là Báo Tình Thương được ra đời và chính anh
Trần Xuân Dũng hân hạnh được bầu làm Tổng Thư Ký đầu tiên
của tờ báo khi anh gần cuối năm thứ Năm Y Khoa. Sự kiện này
giúp tôi hiểu vì sao chuyện viết lách, làm thơ rõ ràng không
phải là một vấn đề với BS Dũng. Anh đam mê với công việc rao
truyền văn chương và lịch sử, nên khi tôi nghe được chuyện
vợ anh phải thế chấp căn nhà để lấy tiền cho anh in cuốn
“Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến”, tôi ngưỡng mộ anh bốn, năm
thì thán phục chị đến sáu, bảy. BS Trần Xuân Dũng hoàn tất
tập thơ Sử “Như Sóng Thần Lên” sớm sủa vào năm 1990, sau đó
là cuốn “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến” vào năm 1995, còn
trước cả cuốn sách tương tự của binh chủng Nhảy Dù của tôi,
rồi cuốn “Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” vào năm 2000,
tập thơ “Nhị Thập Bát Tú” năm 2015. Về sau “Chiến Sử Thủy
Quân Lục Chiến” được chính con trai út Trần Xuân Vũ dịch qua
tiếng Anh, và “Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” dịch qua
song ngữ Anh Pháp. Biết bao nhiêu tâm trí và đam mê đổ hết
vào đây!?
Tương tự như tập thơ “Y Sĩ Với Nàng Thơ”,
tác giả của “Văn Học Quân Đội” gom khoảng 42 bài viết từ
những quân nhân gồm đủ mọi nghành, từ tác chiến cho đến yểm
trợ, bao gồm cả quân y... mong nói lên, không những tinh
thần chiến đấu dũng cảm, lòng hy sinh vô bờ bến của các
chiến sĩ Miền Nam, mà còn cho thấy tinh thần thượng võ, cá
tính nhân đạo của những người cầm súng chống xâm lăng. Đó
thật sự là sự khác biệt quan trọng làm thấy rõ làn ranh phân
biệt giữa con người sống tự do, có nhân tính, dựa trên nền
tảng tử tế từ giáo dục gia đình của Miền Nam, và con người
cộng sản với mưu mô thâm độc, được nuôi dưỡng trong hận thù
vô sản với mục đích giết và giết để cưỡng hiếp chiếm đoạt
tất cả cho chủ nghĩa của chúng. Đây là một tác phẩm rất giá
trị không những về lịch sử quân đội nói chung, về Thủy Quân
Lục Chiến nói riêng mà còn về văn học.
Về sau, tôi
cũng đọc vài bài thơ của anh Dũng, thưa thớt dần theo thời
gian, trong Tập San Y Sĩ, như “Khóc Y Sĩ Dù Hoàng Ngọc Khôi”
– Khiêm cung, tài đức nhiều vô kể, Lời tiếc thương Anh khóc
tứ bề – “Hoa Sen và Giai Nhân” – Hoa Sen được ví như Giai
Nhân, ngày đẹp như tranh, đêm tuyệt trần – “Thiếu Nữ Bên Hồ
Sen” – Búp Sen e ấp cạnh nền xanh, Đêm về, trinh bạch tình
dâng hiến, Sớm biệt, liêu trai dạ chẳng đành – tôi mường
tượng anh bắt đầu tìm về cái tinh khiết nhẹ nhàng và hương
gió đồng nội trong tuổi già. Nhất là khi tôi nhìn thấy những
tấm hình chụp nông trại rộng lớn của cháu Vũ với cảnh những
thiên nga bơi trong hồ, những con bò bình an gặm cỏ trong
bãi cỏ thênh thang, và nhất là hồ Sen khá rộng với bông Sen
màu cánh sen và lá Sen xanh to tươi tốt. Đúng vậy, cháu Xuân
Vũ đã tạo dựng một quê hương nhỏ Việt Nam cho cha mẹ dưỡng
già. Tôi chia sẻ niềm vui cùng Anh khi biết về sau Anh tìm
thấy sự đam mê trong chơi đàn Tây Ban Nha với loại nhạc
Flamenco và chìm đắm trong nhiếp ảnh với máy ảnh luôn đeo
trước ngực và một tập ảnh đen trắng nghệ thuật – Khói Mây
Quên Bẵng Duyên Phàm Trước – in tặng cho nhóm bạn thân. Phải
chăng “Quên Bẵng Duyên Phàm Trước” nói lên chặng đường đời
anh sẵn sàng nuông bỏ?!
Tôi tìm thấy bài thơ “Bức
Tượng Thương Tiếc Nghĩa Trang Quân Đội” được đăng nhiều nơi,
trong Tập San Y Sĩ, trong “Y Sĩ Với Nàng Thơ”, trong “Văn
Học Quân Đội” và trên nhiều diễn đàn thân hữu. Tôi cho đây
là một trong những bài thơ BS Trần Xuân Dũng đắc ý nhất, và
bài thơ dễ dàng gây xúc cảm cho độc giả.
Đêm tráng sĩ qua sông lần vĩnh
biệt
Tưởng đang còn cuộc rượu lúc tàn canh.
Làm sao mà không xúc động thương tiếc những người chết
trận vì không có gì cao quý hơn khi chết trận. Chết trận là
chết không một than vãn, không một ai oán. Không có lấy một
lời trân trối cho người yêu, không một lời xin lỗi với vợ
dại con thơ. Người lính chết thật sự là những anh hùng đã đi
vào huyết sử của dân tộc, là hồn thiêng của sông núi, là
huyền thoại của đất nước. Họ vĩnh viễn là cánh gió tung bay
trên vạn nẻo đường đất nước.
“Đêm
sâu em nghe rờn rợn –
Mắt Anh rực lá Quốc Kỳ –
Hãnh
diện đền ơn Tổ Quốc –
Chiến trường nào Anh ra đi?”
Cho đến cuối cuộc đời, BS Trần Xuân Dũng chứng tỏ mình
là một con người chính trực, nhân hậu với nụ cười hiền lành
luôn nở trên môi. Một con người trước sau như một, trong một
dáng người roi roi khiêm tốn, không màng đến danh lợi. Anh
là một bác sĩ công tâm, một Quân Y sĩ thanh liêm, đầy nhiệt
huyết với Tổ Quốc, một chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến hết mình
với anh em đồng đội, làm trọn nhiệm vụ với các thương binh.
Một Sĩ Quan Quân Y thâm niên duy nhất còn lại làm việc tại
trường Quân Y cho đến phút chót. Với gia đình, Anh là một
người chồng lý tưởng, lo toan chu đáo cho vợ con; và một
người cha gương mẫu, hiểu biết, nhận được sự thương mến và
kính phục từ các con.
Em Vĩnh Chánh viết bài này như
một lời ngưỡng mộ gởi đến niên trưởng đáng kính BS Trần Xuân
Dũng. Dù chưa một lần hân hạnh “diện ngộ và hàn huyên” với
Anh.
Em xin thành kính phân ưu với phu nhân BS Trần
Xuân Dũng và gia đình. Cầu mong phu nhân và gia đình bảo
trọng.
Em cũng xin chia buồn với BS Trần Xuân Ninh và
chị Trần Tường Vi.
Em Vĩnh Chánh cũng xin chia buồn
với Ban Biên Tập “Tập San Y Sĩ Canada” vì sự mất mát của một
cộng tác viên thâm niên và thân quý.
Em xin cùng được
thắp nén nhang lòng, cầu nguyện hương hồn Bác sĩ Trần Xuân
Dũng vĩnh viễn bình an trong cõi vĩnh hằng, sau khi “nợ tang
bồng trang trắng vỗ tay reo – Thảnh thơi thơ túi rượu bầu”.
Cho phần kết, đàn em xin mượn mấy vần thơ “Xin Bình Yên
Cuối Đời” của Bác sĩ Trang Châu để tưởng nhớ đến anh Dũng –
mỗi khi nhìn thấy sao băng trong đêm – một Đàn Anh xứng đáng
để thương tiếc.
“Đôi
mắt, ngày xưa trừng nhìn biên ải
Quắt hận thù khi đồng
đội vùi thây
Từng giận người đi, sầu người ở lại
Giờ,
đêm về xin làm ánh sao bay”.
Em Vĩnh Chánh – Quân Y Nhảy Dù
Tháng 6, 2023, California.

thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch


|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by batkhuat nguyen chuyển
Đăng ngày Thứ Ba, June 10, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH