

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Truyện ngắn
Chủ đề:
mầu nhiệm phục sinh
Tác giả: MĐ BS Vĩnh Chánh

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

Lần
đầu tiên gặp anh, tôi tự nhiên cảm mến anh. Không những vì
cách ăn nói giản dị và chân thật, giọng nói của anh chậm rãi
mà thỉnh thoảng tôi nghe như anh tự nói cho mình hơn là cho
người đối diện, ở anh toát ra một vẻ u uẩn với đôi mắt hằn
lên sự chịu đựng, và cặp vai gầy như trĩu nặng nhiều đắng
cay.
Nhập ngũ vào Thủ Đức sau biến cố Mậu Thân 1968
khi đang theo học năm thứ hai Cao Học Sử Địa tại Văn Khoa
Sài Gòn, anh được chọn vào Không Quân, và có lẽ do bản chất
yêu thích văn nghệ với sở trường ca hát và đờn địch, anh vào
làm việc trong ban Tâm Lý Chiến của Sư Đoàn 3 Không Quân tại
Biên Hòa, đi từ cấp bậc chuẩn uý cho đến đại uý. Đầu năm
1975, anh lấy vợ, một nữ quân nhân phục vụ trong phòng Xã
Hội cũng tại Sư Đoàn 3 Không Quân. Vợ chồng anh ở trong trại
sĩ quan của đơn vị cho đến ngày mất nước. Khi anh vào tù,
chị trở về quê sống với cha mẹ chị gần Cần Thơ.
Đầu
năm 1976, anh bị phân loại và chuyển từ trại Long Giao ở
Miền Nam ra Miền Bắc. Trong những năm ngoài Bắc, anh khá hơn
các bạn tù mồ côi, vì được anh thứ nhì ra thăm anh một lần.
Anh biết thân phận mình nên cũng chẳng lấy làm buồn tủi. Vài
lần về thăm nhà vợ trước và sau khi cưới, nhìn thấy căn nhà
xiêu vẹo mái tranh vách lá, nhỏ như cái chòi, không có số
địa chỉ, nằm bên cạnh một nhánh sông là nơi cha mẹ vợ anh
cùng em gái vợ đang sống nghề chài lưới, anh biết vợ anh
không thể có đủ khả năng tài chánh đi thăm nuôi anh ở nơi
xa. Mặt khác, gia đình phía bên anh, thuộc loại gia thế có
tiếng từ Huế vào đến Nha Trang, ngoại đạo, trước đây đã
chống đối chuyện anh lấy vợ vì cho rằng hai gia đình không
tương xứng với nhau – nay hoàn toàn cắt đứt liên lạc với vợ
anh sau khi anh đi tù cải tạo. Trong những năm tháng sống
cùng cực tại các trại tù ngoài Miền Bắc, Hoàng Liên Sơn (Yên
Báy), Nam Hà (Hà Nam Ninh)... anh đã nhiều lần nghĩ đến
buông xuôi và ngay cả chuyện tìm cái chết. Nhưng suy nghĩ
lại, đành rằng chết là can đảm tuyệt vời nhưng sống, chấp
nhận khổ nhục để chờ một ngày tốt đẹp hơn cũng rất can đảm.
Anh tâm sự “Chịu khổ nhục mà không rên rỉ cũng đẹp như một
cái chết bất khuất”. Anh chấp nhận thời thế xoay vần mà bản
thân như một chiếc lá xanh trong hàng triệu chiếc lá xanh
khác bị cuốn lốc trong cơn bão dữ. Tự chấn chỉnh mình, anh
chú trọng tìm hiểu các con đường tâm linh khác nhau để từ đó
xác định cho mình một hướng đi lạc quan hơn. Một cái nhìn
hướng thiện hơn. Một sự cứu vớt cho bản thân trong xác tín
niềm tin và hy vọng.
Và trong sự chập chờn của đau
đớn thể xác và dày vò tinh thần, anh đã tìm thấy Chúa. Thấy
hình ảnh Chúa trong sự hy sinh thân thể Ngài cho loài người.
Nhìn thấy ánh sáng hy vọng sẽ cứu độ linh hồn anh. Nhất là
anh nhận thấy niềm tin yêu phải phát xuất từ ăn năn sám hối
và tha thứ. Sám hối cho những lỗi lầm của mình trong quá
khứ. Tha Thứ!? Đúng vậy, Chúa dạy mọi người phải yêu thương
nhau. Ngay cả với kẻ thù. Nhưng phải chăng trước khi yêu
thương nhau, chúng ta hẳn phải nghĩ đến, học tha thứ. Anh
phải thử tập tha thứ trước. Tha thứ cho mình để mình lại
được tha thứ. Tha thứ cho chính mình trong những va chạm nhỏ
lớn khó tránh với các bạn tù bằng cách cầu nguyện, xin Chúa
mở lòng anh ra. Tha thứ và cảm thông những kẻ đang giam cầm
anh, vì thật ra họ cũng đáng tội nghiệp như các tù nhân của
họ, cho dù hai bên cách nhau một hàng rào kẽm gai, anh trong
nhà tù nhỏ thì họ trong nhà tù lớn. Có khác gì nhau bao
nhiêu!?
Trong sự thanh hóa bản thân, anh thường xuyên
cầu nguyện, xin dâng lên Chúa những cực nhọc thể xác, những
ngày dài tăm tối vô vọng, những bất hạnh cuộc sống. Xin Chúa
cảm hóa anh cho lòng hận thù nơi anh mất dần. Và từ khi anh
bắt đầu ngộ được chân lý của tha thứ và tình yêu thương của
Chúa, từ con người ngoại đạo, anh mang lòng thành của một
người công giáo, dù chưa được rửa tội. Cũng từ đó, anh cảm
nhận thánh giá nhẹ dần trên vai mình, những bước chân băng
rừng chặt cây, đốn gỗ của anh trở nên dễ dàng hơn, những cơn
đói từng dày vò cơ thể yếu đuối của anh giờ chỉ là những thử
thách chợt đến chợt đi. Anh đã tìm thấy đức tin.
Trong những trại tù anh bước qua, anh nhìn thấy các linh mục
tuyên uý, nhưng không có cơ hội tiến đến gần để được dìu dắt
trong linh hướng. Tuy nhiên, ở trại tù Nam Hà, anh có cơ
duyên thân cận với một bạn tù công giáo, là anh Nguyễn Tất
Tiến, lớn hơn anh chừng vài tuổi. Qua một thời gian gắn bó,
tin tưởng nhau, anh mới tâm sự và nhờ anh Tiến dạy cho mình
giáo lý công giáo căn bản cùng những kinh đọc hàng ngày. May
mắn thay, vào giữa năm 1982, cả anh Tiến lẫn anh được chuyển
vào Nam cùng một lúc, và ở sát cạnh nhau tại trại tù Hàm
Tân, Phan Thiết. Anh Nguyễn Tất Tiến vẫn tiếp tục chỉ dẫn
anh về giáo lý nhưng rất kín đáo vì trại Hàm Tân có quá
nhiều antennes chuyển từ nhiều trại tù về đây. Để chuẩn bị
cho việc anh sẽ trở thành tân tòng, anh Tiến chọn sẵn cho
anh một tên thánh, là ông thánh Martin De Porres, người
thánh đầu tiên da màu của Giáo Hội Công Giáo (thuộc xứ Peru,
có cha gốc người Tây Ban Nha và Mẹ có dòng máu lai của nô lệ
da đen và dân Inca bản xứ).
Cũng tại trại Hàm Tân
này, anh may mắn gặp và làm quen với cha Nguyễn Văn Thanh,
một linh mục tuyên uý cũng mới di chuyển từ trại tù ngoài
Bắc vào. Sau một thời gian ngắn, anh ngỏ lời xin cha Thanh
rửa tội cho anh. Khi được cha Thanh hỏi nguyên nhân anh xin
làm phép thanh tẩy, anh trả lời vì anh cảm kích lời rao
giảng của Chúa với 10 điều răn, tóm lại chỉ còn 2 điều quan
trọng: Kính Chúa trên hết mọi sự, và Yêu Người như yêu mình
ta. Và anh tin mình sẽ sống đạo bằng cách cố gắng thực hiện
2 điều răn được tóm tắt như trên – nghe thì đơn giản nhưng
khó thực hiện – nếu không có ơn kêu gọi và qua cầu nguyện. 3
ngày sau khi được cha Thanh chấp nhận, lễ rửa tội cho anh
được tổ chức trá hình dưới hình thức một buổi ăn chè trong
một đêm giữa tháng 4, 1983, tại trại tù Hàm Tân. Tuy chỉ có
3 người là cha Nguyễn Văn Thanh, anh Nguyễn Tất Tiến bọ đỡ
đầu của anh, và anh, lễ rửa tội kín đáo này không kém phần
long trọng và đầy xúc cảm. Sau khi cha Thanh đọc ngầm các
kinh, đến phiên anh trả lời rất nhẹ các câu hỏi của cha, và
cuối cùng cha cầm một miếng bông gòn thấm ướt nước xoa lên
trán anh, theo thể thức của phép bí tích. Anh đã chính thức
trở thành một người Công Giáo. Ngay trong mùa lễ Phục Sinh
năm 1983.
Vài tháng sau lần thăm nuôi của mạ anh,
tháng 8, 1983, anh được thả khỏi trại tù, về nhà của vợ
chồng người anh thứ nhì ở Nha Trang, cũng là nơi thầy mạ anh
đang được săn sóc chu đáo trong tuổi già. Không được anh chị
chấp thuận cho vợ mình về sống chung với anh tại đây, anh
lặn lội nhảy tàu nhiều lần từ Nha Trang đến Cần Thơ để thăm
vợ, mang theo chút quà, kể cả chiếc nhẫn cưới mới mua từ
tiền trợ cấp của các người anh đã định cư tại Mỹ – như một
biểu tượng nối lại tình vợ chồng sau bao năm trắc trở xa
nhau. Lần đầu gặp lại vợ, anh quá đau xót nhìn thấy vợ mình
tàn tạ dù tuổi đời xấp xỉ 30, với ánh mắt chín muồi thua
thiệt, khuôn mặt băn khoăn với nhiều nếp nhăn, lưng còng
trĩu nặng với khổ đau, thân thể gầy ốm do thiếu dinh dưỡng.
Thỉnh thoảng, anh nghe chị ho, một đôi khi với những cơn ho
rũ rượi ran cả ngực – mà chị cho là do ảnh hưởng của các
chất hóa học nơi chị làm việc.
Anh thầm nghĩ so với
những gì anh từng trải nghiệm trong trại tù, bao đọa đày
thân xác, bao nhẫn tâm chà đạp lên nhân phẩm, bao triền miên
đói ăn đói mặc... cũng chẳng thể so được với những sa sút
tâm thần và điều kiện vật chất tồi tệ mà vợ anh đã gánh chịu
kể từ ngày xa chồng. Mỗi lần gặp được nhau đôi ba ngày – vì
vấn đề hộ khẩu chưa được giải quyết – vợ chồng anh khó có
một nơi riêng tư để thầm kín tâm sự, vì trong căn nhà chỉ có
độc một cái giường tre nhỏ cho 2 mẹ con chị ngủ chung sau
khi đứa em gái rời nhà lấy chồng. Anh có cho chị biết lý do
và chi tiết anh trở lại đạo công giáo, ngỏ ý rồi đây anh sẽ
hướng dẫn chị vào đạo để cả hai cùng tìm lại niềm tin, hạnh
phúc và hy vọng.
Trở về lại Nha Trang, song song với
việc tìm đến nhà thờ Phước Hải gần nhà anh ở, tiện cho
chuyện đi lễ và cầu nguyện, anh vừa lo tìm việc làm, vừa
quyết chí lo chuyện chạy giấy tờ xin chuyển hộ khẩu về sống
chung với vợ. Chuyện tưởng là dễ nhưng quá khó vì thiếu thủ
tục đầu tiên [đầu tiên–tiền đâu]. Một buổi chiều mùa Thu đầu
tháng 12, 1983, anh nhận điện tín từ em gái của chị báo tin
chị vừa mất ngày hôm qua, và ngày mai sẽ đem chôn chị. Bàng
hoàng trong đau đớn, khóc thương số kiếp vợ quá ngắn, xót xa
cho tình cảnh vợ chồng vừa sum họp nay một người ra đi để
lại một người bơ vơ bên cuộc đời. Anh nhảy tàu đi suốt đêm.
Xế chiều hôm sau, anh đến nơi, xác chị đã được liệm trong
hòm đóng kín. Nghe kể lại, chị đột ngột ra đi sau một cơn ho
kéo dài kèm theo thổ huyết. Anh chỉ còn thẫn thờ bước những
bước chân tê dại sau quan tài đưa vợ mình đến nghĩa trang.
Cầm cái nhẫn vàng do em gái vợ đưa lại, anh nhảy xe về Sài
Gòn, tìm mua một tấm bia khắc tên chị, và tên anh là chồng.
Trở về quê vợ, anh dựng tấm bia ở ngôi mộ vợ anh, ngồi bên
cạnh mộ vợ, cầu nguyện và tâm sự. Chúa ơi! Còn thử thách nào
đau đớn hơn!? Anh không biết làm gì hơn ngoài dâng tất cả sự
khốn cùng của mình cho Chúa.
Trong những năm tháng kế
tiếp, anh sinh hoạt nhiều hơn tại giáo xứ Phước Hải, tham
gia ca hát với 2 ca đoàn trong nhà thờ, và dấn thân làm công
tác xã hội với giáo xứ. Anh nhận được sự thương mến trong
giáo xứ. Một số bạn trong ca đoàn bí mật tổ chức vượt biên,
biếu không anh một chỗ đi. Chuyến vượt biên tháng 8, 1988
thành công, thuyền được tàu Đan Mạch vớt ngoài biển và đưa
về Nhật ở trại Omura (phía Nam đảo Củu Châu). Từ Nhật anh
được chuyển qua trại tỵ nạn Bataan ở Phi Luật Tân và sau đó
định cư tại Mỹ vào tháng 9, 1989. Chỉ vài tháng sau, vào
tháng Giêng 1990, anh may mắn thi đậu làm nhân viên xã hội
cho quận hạt Orange County. Một công việc rất thích hợp với
tính yêu thương giúp đỡ người của anh. Do sống an phận, bình
dị, và không đua đòi, anh thư thả về hưu tháng 2, 2014.
Hàng năm, đặc biệt vào mùa Phục Sinh, mùa mà anh được
đón nhận Chúa vào lòng lần đầu tiên, anh chân thành cảm nhận
ơn Chúa cứu độ anh qua hiện tượng Ngài chết đi và sống lại
để cứu chuộc nhân loại. Anh cảm nhận Chúa đã cảm hóa anh và
đưa anh vượt qua nhiều đoạn đời đen tối:
“Ngài
từng nâng con dậy –
cho con đứng lại trên đỉnh núi.
Ngài đưa con ra đại dương –
giúp con vượt giông bão trùng
khơi.
Con xin cảm tạ Chúa cho con sống một cuộc đời
mới, theo đúng nghĩa tinh thần công giáo.”
**
Viết theo tâm tình của cựu tù cải tạo HTN. Mỹ, cư dân Garden
Grove, CA.
Mùa Phục Sinh
Vĩnh Chánh
nguồn:
blog người phương nam



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày thứ Bảy Tuần Thánh, April 4, 2026
tkd.
Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH