

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tuỳ Bút
Chủ đề:
nqlvnch-19t6
Tác giả: Phạm Sơn Liêm

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Có những người lính được lịch
sử ghi tên bằng tượng đài.
Có những người lính được cả thế
giới nhắc nhớ qua sách vở và phim ảnh.
Nhưng cũng có những
người lính chiến đấu suốt tuổi thanh xuân,
đổ máu trên từng tấc đất quê hương,
rồi dần bị phủ mờ trong những trang sử của thời cuộc.
Đó là người lính Việt Nam Cộng Hòa!

Hai
mươi năm chiến tranh. Hai mươi năm sống giữa tiếng pháo
kích, tiếng trực thăng, tiếng gọi ới nhau giữa khói lửa
chiến trường.
Từ đồng bằng sông Cửu Long đến cao
nguyên Kontum, từ Khe Sanh, Quảng Trị đến An Lộc, Bình Long,
hàng trăm ngàn người lính đã đứng lên bảo vệ miền đất mà họ
gọi là quê hương.
Nhiều người nằm lại nơi rừng
sâu biên giới.
Nhiều người trở về với thân thể không còn
nguyên vẹn.
Nhiều người bước vào trại tù sau năm 1975.
Và cũng có những người mãi mãi nằm lại dưới lòng biển
Đông, trên những con thuyền vượt biên tìm tự do.
Lịch
sử có thể còn những tranh luận. Quan điểm chính trị có thể
khác nhau. Nhưng sự hy sinh của người lính thì không thể phủ
nhận.
Máu đã đổ là thật. Nước mắt của những người vợ
chờ chồng là thật. Nỗi đau của những đứa con mất cha là
thật. Và lòng can đảm của những người đã chiến đấu đến cùng
cũng là thật.
Cuốn sách “Một Quân Đội Bị
Lãng Quên” của giáo sư Andrew Wiest không phải
là một bản cáo trạng, cũng không phải một lời biện hộ. Đó là
lời nhắc nhở rằng, người thật việc thật, phía sau những con
số thống kê và những bản đồ tác chiến là những con người
bằng xương bằng thịt. Những người đã yêu nước theo cách của
họ. Đã chiến đấu theo lời thề của họ. Tổ Quốc–Danh Dự–Trách
Nhiệm. Và đã trả giá bằng chính cuộc đời mình.
Bài
viết này xin được cúi đầu trước những người lính của một
quân đội đã đi vào lịch sử. Dù thắng hay thua, họ vẫn là
những người đã sống, chiến đấu, và hy sinh cho điều họ tin
tưởng. Và lịch sử, nếu muốn công bằng, không nên quên họ.
Kính dâng những chiến hữu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà,
những người đã mang màu áo năm xưa đi suốt một đời người, và
những người đã nằm xuống mà tên tuổi vẫn còn trong trái tim
đồng đội.
MỘT QUÂN ĐỘI BỊ LÃNG QUÊN
Có những cuộc chiến kết thúc bằng tiếng súng. Nhưng cũng
có những cuộc chiến kết thúc bằng sự im lặng.
Chiến
tranh Việt Nam là một cuộc chiến như thế. Hơn nửa thế kỷ đã
trôi qua. Những cánh rừng Trường Sơn đã xanh trở lại. Những
hố bom năm nào đã thành ruộng lúa. Những người lính già còn
sống sót giờ tóc bạc như mây. Nhưng ở đâu đó trong những
trang sách lịch sử phương Tây, vẫn còn một khoảng trống rất
lớn.
Đó là hình ảnh của người lính Việt Nam
Cộng Hòa.
Năm 2000, một giáo sư sử học người
Mỹ tên Andrew Wiest đặt chân đến Việt Nam. Ông sang đây để
tìm hiểu về cuộc chiến của nước Mỹ. Nhưng rồi ông phát hiện
ra một sự thật khác. Một cuộc chiến của người Việt.
Một quân đội đã chiến đấu suốt hai mươi năm nhưng gần như bị
xóa khỏi lịch sử.
Tại Huế, ông gặp cựu sĩ quan Phạm
Văn Đính. Người sĩ quan ấy từng chỉ huy đơn vị chiến đấu
giữa những trận mưa pháo dữ dội của Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972.
Một buổi chiều, ngồi bên ly cà phê cũ kỹ, Andrew hỏi:
– Ông đã chiến đấu bao lâu?
Ông Đính nhìn xa xăm.
– Gần cả tuổi trẻ.
– Và cuối cùng?
Người
cựu sĩ quan khẽ cười buồn.
– Cuối cùng thì lịch sử
quên mất chúng tôi.
Câu trả lời ấy khiến Andrew chết
lặng.
Ít lâu sau, ông gặp một người khác.
Thiếu tá Trần Ngọc Huế. Một người lính nổi tiếng của chiến
trường Quân Đoàn I. Người đã chiến đấu đến viên đạn cuối
cùng trong chiến dịch Lam Sơn 719 tại Hạ Lào. Sau trận đánh
đó, ông bị thương nặng. Bị bắt. Bị giam cầm suốt 13 năm
trong các trại tù cộng sản. Thêm 6 năm quản thúc. Gần hai
mươi năm cuộc đời tan biến sau song sắt.
Andrew hỏi:
– Điều gì khiến ông vẫn tiếp tục chiến đấu?
Ông
Huế trả lời rất chậm:
– Vì sau lưng tôi là gia đình
tôi. Là quê hương tôi. Là những người dân không có súng. Nếu
chúng tôi bỏ chạy, ai sẽ đứng lại?
Andrew kể rằng
khoảnh khắc ấy ông hiểu. Ông không còn nghiên cứu chiến
tranh nữa.
Ông đang nghiên cứu số phận con người. Từ
đó, ông bắt đầu lần theo những dấu chân bị bỏ quên. Ông đọc
hàng ngàn tài liệu. Phỏng vấn hàng trăm cựu chiến binh. Lật
lại từng trận đánh. Và ông tìm ra ra nhiều điều gây sửng
sốt.
Trong rất nhiều cuốn sách nổi tiếng về Chiến
tranh Việt Nam, người ta kể rất nhiều về lính Mỹ. Nhưng gần
như không kể gì về những người lính Việt Nam đã chiến đấu
bên cạnh họ. Như thể họ chưa từng tồn tại!

Mậu Thân 1968.
Thế giới nhớ đến những người lính Thủy quân Lục chiến Mỹ
chiến đấu tại Huế.
Đó là sự thật. Họ đã chiến đấu anh
dũng.
Nhưng đó chưa phải toàn bộ sự thật. Trong từng
con hẻm đẫm máu của Thành Nội Huế. Trong từng bức tường
loang máu. Trong từng căn nhà đổ nát. Người lính Việt Nam
Cộng Hòa cũng đang chiến đấu. Không lùi bước. Không đầu
hàng.
– Đại đội Hắc Báo.
– Các đơn vị Nhảy Dù.
– Thủy Quân Lục Chiến.
– Bộ binh.
– Địa phương quân.
– Nghĩa quân...
Họ chiến đấu từng mét đất. Từng góc
phố. Từng căn phòng. Nhiều nơi không có pháo binh. Không có
xe tăng. Chỉ có khẩu súng trên tay và ý chí phải giữ thành
phố.
Một trung sĩ trẻ nhìn đồng đội ngã xuống. Anh
nghiến răng:
– Không được lùi!
– Sau lưng mình
là Huế!
Và họ tiếp tục tiến lên.
Rồi
đến Lam Sơn 719. Năm 1971.
Lần đầu tiên quân
đội miền Nam tiến sang đất Lào mà không có quân chiến đấu Mỹ
đi cùng. Khắp các ngọn đồi. Khắp các cánh rừng. Máu đổ như
mưa. Một Tiểu Đoàn bị bao vây lần thứ nhất. Rồi lần thứ hai.
Lần thứ ba. Lần thứ tư. Lần thứ năm. Lần thứ sáu.
Người lính trẻ hỏi Tiểu đoàn trưởng Trần Ngọc Huế:
–
Thưa thiếu tá... mình còn sống trở về không?
Ông nhìn
những khuôn mặt đen sạm vì thuốc súng.
– Không biết.
– Nhưng còn thở thì còn đánh.
Đó không phải khẩu
hiệu. Đó là thực tế. Khi chiến dịch kết thúc. Chỉ còn 26
người sống sót. Hai mươi sáu người. Từ một đơn vị hàng trăm
lính...
Rồi đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Quảng Trị. Kontum. An Lộc.
Ba cái tên
làm rung chuyển chiến tranh Việt Nam.
Từng sư đoàn
Bắc Việt tràn xuống như thác lũ. Xe tăng. Pháo binh. Hỏa
tiễn. Hàng chục ngàn quân. Nhưng họ không gặp một quân đội
tan rã như tuyên truyền từng mô tả. Họ đụng những người lính
Việt Nam Cộng Hòa đang tử thủ.
Tại An Lộc. Một sĩ
quan nói với thuộc cấp:
– Nếu thành phố này mất. Sài
Gòn sẽ rung chuyển.
Người lính trẻ gật đầu:
–
Vậy thì tụi mình chết ở đây.
Thành phố không mất. An
Lộc đứng vững. Kontum đứng vững. Quảng Trị rồi được tái
chiếm.
Đó là những chiến thắng mà lịch sử thế giới ít
khi nhắc tới.

Vậy vì sao miền
Nam thất thủ?
Đó là câu hỏi đau đớn nhất!
Không phải vì người lính, không chiến đấu. Không phải vì họ
thiếu can đảm. Không phải vì họ không đổ máu.
Hơn
200,000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống. Hàng triệu
gia đình mất cha. Mất chồng. Mất con.
Không một dân
tộc nào trả giá như thế nếu họ không tin vào điều mình đang
bảo vệ.
Nhưng một quân đội được xây dựng để chiến đấu
trong liên minh.
📌 Khi đồng minh rút đi.
📌 Khi viện trợ bị cắt.
📌 Khi nhiên liệu không còn.
📌 Khi đạn pháo binh phải tiết kiệm từng viên.
📌 Khi xe tăng nằm bất động vì thiếu phụ tùng…
Thì cuộc chiến trở thành một cuộc chiến không cân sức.
Ngày cuối cùng của cuộc
chiến. Nhiều người lính vẫn còn chiến đấu. Nhiều người chọn
ở lại. Nhiều người vào tù. Nhiều người vượt biển. Nhiều
người nằm lại ngoài khơi.
Và rồi lịch sử dần khép
lại. Nhưng không phải sự thật.
Sự thật là có một quân
đội đã chiến đấu suốt hai mươi năm.
– Có những người
lính đã hy sinh tuổi trẻ, gia đình, và mạng sống của mình.
– Có những người anh hùng không được dựng tượng. Không
được nhắc tên trong sách giáo khoa. Không được thế giới biết
đến.
Nhưng họ đã từng tồn tại. Đã từng chiến đấu. Đã
từng ngã xuống.
Và như giáo sư Andrew Wiest đã nói:
“Quý vị là những người anh hùng. Và tôi chỉ là người
kể lại câu chuyện của quý vị.”
Đôi khi, điều
công bằng nhất mà lịch sử có thể làm... Là nhớ lại những người đã
bị lãng quên.
Phạm Sơn Liêm
nguồn:
blog người phương nam

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch



|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by kb chuyển
Đăng ngày thứ hai, June 15, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH