Gia
Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự truyện
Chủ đề:
lính kể
Tác giả:
Trần Thúc Vũ
bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

Lời mở đầu: Đại
tá Nguyễn Mạnh Tường từng phục vụ tại các đơn vị sau đây thuộc
QLVNCH:
– Khoá 5 Vì Dân, Sĩ quan Trừ bị Thủ Ðức, mãn khoá
vào tháng 1/1955 (1954–1955). Cùng khoá với Chuẩn tướng Lê Văn
Hưng, Trung tá Nguyễn Hương Rĩnh Sở Liên Lạc NKT.
– Cấp
bậc thiếu uý và phục vụ tại Binh Chủng Nhảy Dù.
– Tham Gia
Đảo Chánh với Tướng Nguyễn Chánh Thi, tù côn đảo 1960–1964.
–
Trưởng Phòng 3 Sở Liên Lạc Nha Kỹ Thuật.
– BCH Nha Kỹ Thuật.
– Cảnh Sát Quốc Gia.
– SĐ22 Bộ Binh.
– Tiểu khu Bình Định.
– Phụ tá Hành Quân SĐ5BB với Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ.
– Tù
Cải Tạo Hoàng Liên Sơn Bắc Việt.
– Tù Cải Tạo Z30A Xuân Lộc.
– 1993 Bị kết án 12 năm tù tội Lật Đổ Chính Quyền Cộng Sản Việt
Nam.
– Ủy Hội Quốc Tế can thiệp & được phóng thích năm 1998.
– Sang Hoa Kỳ theo chương trình HO năm 1999 cho đến nay.
3 đại họa trong thiên hạ là:
1. Công ít mà bổng lộc nhiều
2. Tài mọn mà địa vị cao
3. Chí nhỏ mà mưu việc lớn.
Trần Thúc Vũ

Chiến sử của QLVNCH là một chiến sử oanh
liệt với biết bao những chiến công lẫy lừng, hiển hách đã
từng được quốc tế ca ngợi là một trong những quân lực thiện
chiến hàng đầu trên thế giới, và cũng là một quân lực đầy
đắng cay, xót xa, tủi nhục, u hờn, và bị bức tử đớn đau
nhất. Quân Lực VNCH đã chiến đấu anh dũng với những chiến
công lừng danh được đương thời và mãi mãi sau này nhắc đến.
QLVNCH đã có những tướng lãnh, những cấp chỉ huy tài ba và
mưu lược, can trường và đức độ, liêm khiết, được vinh danh.
Có những bậc anh hùng vị quốc tuẫn tiết được phụng thờ hương
khói trong lòng dân tộc, và những đơn vị thiện chiến sáng
ngời trong quân sử. Những địa danh, những trận đánh khốc
liệt vang dội một thời mà cho đến tận hôm nay, và mãi mãi về
sau, vẫn còn âm hưởng.
Thế nhưng, ngậm ngùi thay, còn
biết bao nhiêu các chiến sĩ vô danh, đã chiến đấu từng khiến
quân thù bạt vía, đã âm thầm hy sinh xương máu để bảo vệ Tự
do cho Đất nước, và cả những cấp chỉ huy mưu lược và can
trường đã bị lãng quên, bị nhận chìm trong bóng tối của thời
gian.
Sự bất công vô tình gần như hồn nhiên theo dòng
thời gian ấy giống như lòng phụ bạc, có phải chăng chỉ vì họ
là những chiến binh được xếp vào hàng thứ yếu so với các Lực
lượng Tổng trừ bị, những Sư Đoàn Bộ Binh...? Các Lực lượng
ĐPQ + NQ Diện địa, vốn dĩ được trang bị và yểm trợ cũng vào
hàng thứ yếu, họ được coi là những đơn vị phụ chiến, nhưng
thực tế chính họ lại là những đơn vị nòng cốt và thiết yếu
của chiến trường, ngày đêm trực diện với kẻ thù, không một
phút giây thảnh thơi được về dưỡng quân nơi hậu cứ phố thị
sau những trận đánh như những đơn vị Tổng trừ bị đàn anh,
được khao thưởng, được chào mừng nồng hậu....
Tội
nghiệp thay, chính họ chứ không ai khác, đã phải ngày đêm
căng sức giữ vững từng tấc đất mà quên lãng thân mình, thậm
chí họ đã từ chối mọi tưởng thưởng, những phần thưởng tinh
thần. Một thí dụ điển hình như trường hợp một Trung đội
trưởng Nghĩa Quân, kiêm nhiệm Xã trưởng xã Mỹ Hiệp quận Phù
Mỹ, tỉnh Bình Định, đã từ chối danh vị chiến binh Anh Hùng
vào năm 1973 – Anh đã từ chối phần thưởng được du ngoạn Đài
Loan, người Nghĩa Quân ấy năn nỉ với Đại tá Nguyễn Mạnh
Tường để xin được ở lại giữ thôn ấp. Anh nói:
– “Xin
Đại tá cho em được ở lại. Em mà bỏ đi lúc này, xã Mỹ Hiệp sẽ
nguy mất!”
Phải nói thêm là bọn Du kích xã Mỹ Hiệp
nổi tiếng là lỳ lợm và hung bạo, “Nhà Thờ Đá”, “Dốc Bà Dần”
là những địa danh không xa lạ gì với nhân dân tỉnh Bình
Định, lại do chính sự hung bạo lỳ lợm và của xã đội Du kích
xã Mỹ Hiệp tạo thành.
Một trong những miền đất bị bỏ
quên chính là chiến trường Bình Định và những chiến sĩ của
miền đất “Tây Sơn, Áo Vải Cờ Đào”. Và bài viết này xin được
coi như lời tạ lỗi muộn màng của một người lính chiến ở
chiến trường Bình Định còn sống sót, đang viết những dòng
này.
Chiến trường Bình Định – không phải mãi sau này
– mà ngay từ thời kháng chiến chống Pháp, đã luôn luôn là
một chiến trường sôi động. Những địa danh An Khê, Hoài Ân,
An Lão... mãi mãi là dấu ấn kinh hoàng cho những Binh đoàn
viễn chinh Pháp, một phần vì địa thế chiến lược của vùng đất
này, một phần khác là lòng người. Thời kháng Pháp, quân đội
viễn chinh Pháp, dù đã nhiều phen dồn mọi nỗ lực, vẫn không
chế ngự và kiểm soát được, và cũng chính vì thế, một số
không nhỏ những người yêu nước đã bị cộng sản Hà Nội lừa gạt
bởi chiêu bài Dân Tộc trá hình, đã chiến đấu dũng mãnh trong
hàng ngũ của họ.
Sau Hiệp định Genève, một số tập kết
ra Bắc, một số lớn ở lại âm thầm tạo dựng cơ sở. Dân chúng
Bình Định, với truyền thống yêu nước của vùng đất
Quang–Trung, đã bị tuyên truyền bịp bợm về ngọn cờ Dân Tộc
trá hình, nên một số lớn dân chúng Bình Định hướng về Hà
Nội. Thế nhưng, nét đặc thù của người dân Bình Định là phân
minh, Quốc, Cộng rạch ròi, chính sự phân định ấy đã đưa đến
thảm trạng tương tranh khốc liệt. Biết rõ điều này, Quân khu
5 của Cộng quân luôn coi chiến trường Bình Định là chiến
trường chủ yếu mang tính quyết định, nên họ dồn mọi nỗ lực,
tuyên truyền, vận động để đẩy rộng thêm sự chém giết tương
tàn, gây hận thù chồng chất.
Chiến trường Bình Định
luôn có mặt những đơn vị cộng sản thiện chiến nhất của Quân
khu 5. Khi Chu Huy Mân nắm quyền tư lệnh, y điều động SĐ3
Sao vàng “anh hùng”, với những Tiểu Đoàn quyết tử, Tiểu Đoàn
405 Trinh sát đặc công được trao tặng cờ đỏ, với Trung Đoàn
Địa phương và các huyện đội tinh nhuệ được đặt dưới quyền
điều động của những cán bộ cuồng tín và tàn bạo bậc nhất,
chưa kể đến vào những năm 1965, được tăng cường thêm Trung
Đoàn Địa phương Phú Yên dưới sự chỉ huy của “Tướng độc nhũ
Nguyễn thị Lành, được mệnh danh là Nữ hung thần bất tử.”
Chiến trường Bình Định bùng lên mãnh liệt vào những
tháng đầu năm 1965, giữa lúc mà cuộc diện chính trị VNCH
đang nổi trôi trong sự bất ổn, những trận đánh ác liệt diễn
ra khắp nơi trải dài từ Phù Ly đến tận Bồng sơn với các mặt
trận Phù Ly, Đại Thuận, Phù Mỹ, Đèo Nhông, Diêm Tiêu, Vạn
Bảo, Phù Cũ... đã mở màn dường như cùng một lúc. Chẳng phải
bỗng dưng mà tháng 9/1965 Sư Đoàn Anh Cả Đỏ (SĐ1 Không kỵ),
rồi lần lượt Sư Đoàn 101, Lữ Đoàn 173rd Dù đều là những đơn
vị thiện chiến nhất của Hoa Kỳ đã phải thay nhau có mặt tại
Bình Định, chế ngự An Khê và mật khu Kon Hanùng. Chẳng phải
khi không mà Sư Đoàn Mãnh Hổ bậc nhất của quân đội Đại Hàn
được giao sứ mạng trải dài bảo vệ Quốc lộ 19, nhưng vẫn
không chu toàn việc bảo vệ trọn vẹn sinh lộ này.
Tỉnh
Bình Định là tỉnh được coi là rộng nhất trong toàn quốc với
diện tích khoảng 10,000km², chiều dài từ đèo Cù Mông đến đèo
Bình Đê là 120km, chiều ngang từ Mũi Phương Mai đến biên
giới tỉnh Pleiku là 90km, với 3/4 là núi rừng trùng điệp,
với các mật khu Kon Hanùng phía Bắc quận An Túc, giáp ranh
tỉnh Kontum và Quảng Ngãi. Mật khu An Lão, mật khu Vân Canh,
mật khu Vĩnh Thạnh, Căn cứ địa 226 nằm giữa ba quận Đông
Vĩnh Thạnh, Tây Phù Mỹ, và Nam Hoài Ân, mật khu mà chúng gọi
là khu tam giác sắt vùng núi non Mỹ Thọ của Quận Phù Mỹ, là
nơi mà chúng ém quân và xuất phát những cuộc tấn công ác
liệt nhất. Dân số được kiểm kê vào tháng 1/1973 là 996,673
người (đây là con số không được trọn vẹn) được chia làm 14
quận: Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù cát, Tuy Phước, Tam Quan, Vân
Canh, Nhơn Bình, và Nhơn Định. (Sau này Vĩnh Thạnh, Tam
Quan, Vân Canh được đổi thành Nha Phái Viên Hành Chánh,
riêng An Lão, nơi diễn ra trận đánh khốc liệt Suối đôi, Đồi
Thánh Giá vào năm 1964, An Lão đã không còn kiểm soát được.)
Tính cuối năm 1972 Lực lượng ĐPQ và Nghĩa quân trực
thuộc Tiểu khu Bình Định gồm hai BCH Liên Đoàn 271 và 272,
18 Tiểu Đoàn ĐPQ, 12 Đại Đội biệt lập, 620 Trung Đội Nghĩa
quân (chưa kể đến quân số thuộc Xây Dựng Nông Thôn và Nhân
Dân Tự Vệ). Để tăng viện cho tình hình chiến trường, SĐ22BB
có 4 Trung Đoàn: 40, 41, 42, 47, thì thường xuyên 2 Trung
Đoàn 40 và 41 phải trấn ngự tại Bình Định. Quân Đoàn II chỉ
còn lại 4 Trung Đoàn của SĐ23BB và 2 Trung Đoàn của SĐ22BB
chia đều cho các tỉnh còn lại của Quân khu. Ngoài ra, trong
giai đoạn sôi động nhất, Liên Đoàn 6 và Liên Đoàn 4/BĐQ được
tăng cường trấn ngự 3 quận bắc Bình Định. Với một Lực lượng
lớn như thế, vẫn không đủ để dàn trải, để ổn định.
Vị
Tỉnh trưởng dân sự cuối cùng là Ông Bùi Thúc Duyên, đã
chuyển tiếp cho các sĩ quan của Quân lực từ cuối năm 1963:
Đại tá Trần Văn Tươi, Đại tá Nguyễn Thanh Sằng, Thiếu tá
Trần Đình Vọng, Thiếu tá Thịnh, Trung tá Lê Trung Tường,
Trung tá Trần Đình Vọng {lần thứ 2}, Đại tá Nguyễn Mộng
Hùng, Trung tá Phan Minh Thọ, Đại tá Nguyễn Duy Bách, Đại tá
Nguyễn Văn Chức, Đại tá Hoàng Đình Thọ, và vị Tỉnh trưởng
kiêm Tiểu khu trưởng cuối cùng là Đại tá Trần Đình Vỵ.
Đại tá Nguyễn Văn Chức, một sĩ quan cao cấp của ngành
Công binh chuyên nghiệp nhận chức Tỉmh trưởng kiêm Tiểu khu
trưởng vào giữa năm 1971, với Tiểu khu phó là Đại tá Hà Mai
Việt (Binh chủng Thiết giáp), Tham mưu trưởng là Trung tá
Nguyễn Văn Cừ của Quân cụ. Đây là giai đoạn mà các sĩ quan
cột trụ không từng là sĩ quan tác chiến lại phải gánh nhận
áp lực nặng nề nhất trên chiến trường Bình Định.
Giữa
lúc tình hình sôi động ấy, các chức vụ then chốt vốn là do
các sĩ quan đã từng phục vụ tại Tiểu khu Bình Định trên dưới
10 năm, trưởng thành qua những kinh nghiệm chiến trường,
biết rành rẽ về hiểm địa và nhân sự... lại bị cho là cấp bậc
quá thấp (thiếu tá), không đủ khả năng chỉ huy, và lãnh đạo,
nên Đại tá Chức đã xin Bộ TTM bổ nhiệm về Bình Định 50 trung
tá để thay thế các sĩ quan đương nhiệm. Bộ TTM chấp thuận và
thuyên chuyển 30 sĩ quan cấp bậc trung tá về Tiểu khu Bình
Định, gồm đủ mọi thành phần. Bộ TTM gởi ra 16 vị, và
BTL/Quân Đoàn II gởi xuống 14 vị để đáp ứng yêu cầu của Đại
tá Chức. Đại đa số các vị sĩ quan trung, cao cấp này khi
được tăng cường cho Bình Định đều có vẻ ngao ngán với tâm
trạng đi đày trong các chức vụ không tương xứng. Người duy
nhất, nhận nhiệm vụ bằng cả tấm lòng, bằng cả trí tuệ, và sự
nhiệt thành, đó là Trung tá Nguyễn Mạnh Tường. Ông rời chức
vụ Giám đốc Trung tâm Hành quân Quân Đoàn II về làm Tham mưu
phó Hành quân Tiếp vận dưới trướng Tham mưu Trưởng Nguyễn
Văn Cừ, vị Trung tá Quân cụ, gọi máy PRC25 liên lạc hành
quân như gọi điện thoại.... May mắn thay, Trung tá Nguyễn
Mạnh Tường đã đến, đáo nhiệm một chức vụ quá khiêm tốn với
tài năng và một bộ óc quân sự tuyệt vời, cộng với lòng nhiệt
thành và một trái tim trong sáng. Chính vị trung tá năng
động này đã làm nên chiến thắng oanh liệt, cứu nguy cho sự
tan nát của Bình Định mỗi lúc một gần kề, khi mà SĐ3 Sao
vàng đã chiếm một cách trọn vẹn 3 quận bắc Bình Định là Tam
Quan, Hoài Nhơn, Hoài Ân. Thiếu tá Hồng Bảo Hiền, Quận
trưởng Hoài Nhơn tử trận, Lực lượng trú phòng của 3 quận rút
chạy bằng đường biển vì sức mạnh tổng lực của địch. Tinh
thần binh sĩ hoang mang, thành phố Qui Nhơn trống vắng, 70%
dân chúng tháo chạy về Nam. Cùng lúc ấy, trận chiến bùng nổ
khắp nơi, các Trung Đoàn thuộc SĐ22BB từ Đệ Đức (Phù Mỹ) bị
điều động tăng cường mặt trận Tân Cảnh, Tư lệnh SĐ22BB Đại
tá Đạt cùng một số sĩ quan tham mưu bị bắt, tình thế cực kỳ
bối rối, thành Phố Qui Nhơn bị pháo kích. Bộ chỉ huy Tiểu
khu hầu như không có một kế hoạch khả dĩ nào đủ để ứng phó
với tình hình mỗi lúc một trở thành nghiêm trọng.
Trung tâm hành quân (TTHQ) Tiểu khu Bình Định do Công binh
Hoa Kỳ xây dựng kiên cố như một pháo đài nằm chìm trong lòng
đất, đầy đủ mọi tiện nghi, dư khả năng chịu đựng được những
cuộc pháo kích của địch kể cả không tập, được bảo vệ cẩn
mật, vậy mà bị nội tuyến của địch xâm nhập đánh sập. Thiếu
tá Thái Xuân Lư, và 2 sĩ quan (1 Đại Hàn – 1 Mỹ) tử thương,
Đại uý Bùi Trọng Thủy bị thương nặng. Trung Tâm Hành Quân
hoàn toàn bị phá hủy.
Trước đây, Trung tâm trưởng
TTHQ do Trưởng phòng 3 kiêm nhiệm, gồm 1 sĩ quan không trợ
kiêm sĩ quan phụ tá, 3 sĩ quan QSV/L–19 và 3 ca trực, mỗi ca
trực gồm 1sq+1hsq+1bs. Từ khi TTHQ được xây dựng qui mô, do
nhu cầu chiến trường, 3 toán cố vấn Mỹ gồm 1 thiếu tá + 3
đại uý +3 hsq + 3 bs chia làm 3 ca trực song song với các
toán trực VN, ngoài ra, TTHQ còn được tăng cường 1 toán
ALO/FAC của Không Quân, 1 SQ Hải Quân, và một hệ thống
truyền tin tinh xảo với các toán âm thoại viên dầy kinh
nghiệm.
Tôi (kẻ viết bài này) đã làm việc tại TTHQ từ
thời Chuẩn uý Lê Văn Lộc làm Trưởng phòng 3, Thiếu uý Hứa
làm SQ không trợ, ít lâu sau Thiếu uý Hứa thuyên chuyển, tôi
được bổ nhiệm thay thế với toán QSV/L–19 gồm Trung uý Lía,
Thiếu uý Phú, Chuẩn uý Sỹ, Chuẩn uý Tuân. Những ngày ấy, đôi
khi Tiểu khu Trưởng còn là thiếu tá, Tiểu khu phó có khi là
đại uý (Đại uý Nguyễn Bé) và các TMT như Đại uý Thái Sanh
Thâm, Đại uý Trần Ngọc Điền, Đại uý Đỗ Vũ, Đại uý Trịnh
Tiếu. Theo ngày tháng, kinh nghiện mỗi ngày một dầy, cấp bậc
theo ngày tháng bò lên từng nấc, chức vụ vẫn y nguyên....
Cuối năm 1971 Trung tá Nguyễn hữu Thông về làm Giám đốc
TTHQ/TKBĐ, khoảng chừng 3 tháng sau, ông được bổ nhiệm làm
Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 42/SĐ22BB, (Đại tá Thông đã tự
sát tại bãi biển Qui Nhơn ngày 31/3/1975 khi Trung Đoàn 42
từ An Túc rút về tử thủ ở chân đèo An Khê, tại đây, Trung
Đoàn 42 đã đánh bật Sư Đoàn F10 Cộng sản không cho tràn
xuống từ đèo An Khê, tiêu diệt 600 địch quân. F10(SĐ10) phải
bọc qua dãy Nam Triều tràn xuống chiếm Qui Nhơn, Đại tá
Thông kết hợp với Trung Đoàn 41 của Đại tá Thiều kéo về giải
tỏa thành phố, đánh bật F10 và các Lực lượng địa phương CS,
và đã ở lại tử thủ Qui nhơn đến viên đạn cuối cùng.)
Nhắc lại, khi Đại tá Thông ra đi, tôi cũng xin thuyên chuyển
về làm ĐĐT/ĐĐ–CTCT Bình Định, sang đầu năm 1972 vì tình hình
chiến sự, tôi được gọi trở về lại Trung tâm Hành quân, phụ
tá cho Thiếu tá Nguyễn Ngọc Xuân, Trưởng phòng 3 kiêm Trung
tâm Trưởng TTHQ. Công việc của TTHQ là theo dõi tình hình
chiến sự, ghi nhận tất cả mọi hoạt động của các Lực lượng
trú phòng trong tỉnh, xin hỏa châu soi sáng, xin oanh kích
khẩn cấp theo nhu cầu chiến trường, xin tản thương.
Chỉ riêng với Lực lượng lãnh thổ, với 18 Tiểu Đoàn địa
phương, 12 Đại Đội biệt lập, 620 Trung Đội Nghĩa quân, phải
nắm vững 3 điểm đóng quân và phục kích cho mỗi Trung Đội.
Như thế có nghĩa là TTHQ phải tiếp nhận báo cáo hàng đêm đã
được mã hóa từ các đơn vị trực thuộc, giải mã, và ghi chú
trên bản đồ “Hoạt động Bạn” với tất cả các diễn tiến mọi
cuộc hành quân trong toàn tỉnh và những tổn thất địch, bạn.
Ghi nhận những phi vụ oanh kích khẩn cấp, và dự trù từng chi
tiết cho buổi thuyết trình vào sáng sớm ngày hôm sau. Công
việc này do sĩ quan trực nhật TTHQ đảm trách và SQ Phụ tá
nhận nhiệm vụ thuyết trình phải nắm vững từng chi tiết và
phải trả lời một cách chắc chắn mọi sự kiện trong 24 giờ
sau. Thậm chí kết quả của những cuộc không tập do Không Quân
Hoa Kỳ hoặc VN thực hiện, phải ký tên và chịu trách nhiệm
hoàn toàn cho mỗi phi vụ oanh kích.
Đó là một thời kỳ
đầy sóng gió và phân liệt. Ba vị Thiếu tá Quận trưởng thất
trận được điều động về làm 3 SQ Trưởng toán trực TTHQ, và
những sĩ quan cấp đại uý vốn là các sĩ quan đầy kinh nghiệm
và thông suốt nhiệm vụ của mình bị đẩy xuống làm sĩ quan phụ
tá Trưởng toán. Duy nhất trong 3 vị thiếu tá này, chỉ có một
mình Thiếu tá Thái Xuân Lư và Đại uý Thủy là đảm nhận trách
vụ một cách cố gắng và làm tròn, riêng hai vị thiếu tá còn
lại, thường xuyên vắng mặt với những lý do mơ hồ từ tư gia
của Đại tá Hà Mai Việt, Tiểu khu phó, và tôi lại phải trực
tiếp thay thế các Trưởng toán trực vắng mặt này!
(Sở
dĩ tôi phải dài dòng như thế để trình bày lý do tại sao tôi
có đủ điều kiện và tư cách viết về chiến trường Bình định,
và các chiến công của các đơn vị Diện địa Nghĩa quân và Địa
Phương Quân một cách tương đối chính xác. Và quan trọng hơn,
nguyên nhân tôi được may mắn và hãnh diện được đặt trực
thuộc dưới quyền của Trung tá Nguyễn Mạnh Tường sau này.)
Trung tá Tường được thuyên chuyển về Bình Định nhận
nhiệm vụ mới là Tham mưu phó Hành Quân Tiếp vận kiêm nhiệm
Giám đốc TTHQ. Do bản tính năng động và một tinh thần phục
vụ vô bờ bến, cộng với tài năng sáng chói đã làm lu mờ các
cấp chỉ huy cao hơn, khiến ông bị đày ải: Phải thành lập tức
khắc Bộ Chỉ Huy hành quân nhẹ và trú đóng trên đỉnh núi Bà
Hỏa tuyệt đường lên xuống, do đó Trung tá Tường không có cơ
hội điều hành TTHQ thường xuyên. Vậy mà sau khi TTHQ phát
nổ, ông đã bị nghi ngờ, bị điều tra....
May mắn thay,
ông đã thoát được lưỡi gươm sinh tử vì chỉ xuống TTHQ không
quá một lần duy nhất, chỉ vì tại núi Bà Hỏa, ông đã quá bận
rộn với trách nhiệm của mình, không chỉ riêng ông, tôi cũng
bị nghi ngờ là tên Cộng sản nằm vùng khi Đại tá Đạt, Tư lệnh
SĐ22BB bị bắt ở mặt trận Tân Cảnh cùng với một số SQ của Bộ
Chỉ huy Tiền phương.
Đại tá Chức vận động để được bổ
nhiệm làm Tư lệnh Chiến trường Bình Định, để muốn có được
quyền uy điều động toàn bộ Lực lượng theo ý mình, do đó Đại
tá Chức thường xuyên có mặt ở Bộ Tư lệnh SĐ22BB trú đóng ở
Bà Di (cách Qui Nhơn khoảng 15km đường chim bay, trên một
ngọn đồi rộng) như tư thế của một Tư lệnh Sư Đoàn đích thực.
Hôm đó, vào buổi chiều, Qui Nhơn bị pháo kích, gây cho 3
người dân bị thương, tôi đã phải liên lạc trực tiếp với Đại
tá Chức đang có mặt tại TTHQ Sư Đoàn. Sau khi tôi báo cáo
mọi chi tiết, ông ra lệnh cho tôi qua điện thoại Hot Line
của TTHQ/SĐ:
– “Gọi cho Thiếu tá Sáng, theo lệnh tôi,
rút hai Trung Đội Nghĩa quân tại núi Han và Vũng chua để
phòng thủ thị xã!”
Bỏ hai vị trí này là để lại cao
địa cho cộng sản pháo vào Qui Nhơn. Tôi nghe lệnh ông mà
giật bắn người, e rằng mình nghe lầm. Tôi xin ông nhắc lại
khẩu lệnh. Một lần nữa Đại tá Chức lặp lại lệnh của ông rồi
cúp máy. Tôi toát mồ hôi, điện thoại xin gặp Trung tá
Trí(Chí?) hỏi về lệnh cuộc điện đàm vừa rồi, Trung tá Trí
xác nhận là đã đứng cạnh Đại tá Chức và nghe rõ mệnh lệnh
của Đại tá Chức. Tôi xin Trung tá Trí ghi một cách chi tiết
vào sổ trực TTHQ/SĐ, và tôi cũng ghi chi tiết một cách chính
xác vào sổ trực TTHQ/TK, đồng thời tôi mời đích thân Thiếu
tá Sáng xuống TTHQ nhận lệnh, và cùng lúc, tôi yêu cầu Thiếu
tá Sáng liên lạc lần nữa với Đại tá Chức để xác nhận đầy đủ
mọi chi tiết. Sau đó tôi không biết Thiếu tá Sáng có trực
tiếp xác nhận lệnh với Đại tá Chức về lệnh lạt này hay
không, nhưng ngay lập tức tối hôm đó, VC pháo kích vào Qui
Nhơn như mưa bấc, vị trí đặt súng của địch chính là Núi Han
và Vũng Chua, nơi mà hai Trung Đội Nghĩa Quân trú đóng vừa
rút đi theo lệnh của Đại tá Chức. Tôi báo cáo cho Đại tá
Chức, ông hỏi:
– “Vậy hai Trung Đội Nghĩa Quân ở núi
Han và Vũng Chua hiện ở đâu?”
Tôi nhắc lại lệnh của
ông vào lúc xế trưa cùng ngày, ông quát trong máy:
–
“Tôi không hề ra lệnh cho anh, đó là Việt cộng đã ra lệnh
cho anh!”
Và cúp máy. Không đầy 30 phút sau đó, Trung
tá Điều, Trưởng khu An Ninh Quân Đội đến gặp tôi, và hỏi về
điều này, tôi phải trình bầy mọi chi tiết và đưa cho Trung
tá Điều sổ trực TTHQ. Trung tá Điều phải khẩn cấp lên TTHQ
Sư Đoàn so sánh, sau đó, Trung tá Điều cho tôi biết là Đại
tá Chức xác nhận là đích thân đã ra lệnh ấy, nhưng công việc
bận rộn nên quên mất(!)
Đến nay, 30 năm đã trôi qua,
tôi luôn luôn ghi nhớ và cảm ơn Trung tá TTT/TTHQ/SĐ22BB.
Tôi không hề có sự hiềm khích nào với Đại tá Chức, ngược
lại, tôi luôn luôn quý trọng ông, không những thế, tôi còn
rất cảm phục tài năng chuyên môn của ông thuộc binh chủng
Công binh. Sở dĩ tôi nhắc đến để độc giả thương cảm rằng Đại
tá Chức đã không được sử dụng đúng tài năng của ông và Trung
tá Nguyễn Mạnh Tường đã gặp quá nhiều trở ngại trong trách
vụ về mọi mặt. May mắn thay, không lâu sau đó, Đại tá Chức
được bổ nhiệm làm Cục Trưởng cục Công binh, và thăng cấp
chuẩn tướng, cùng với đa số các sĩ quan cấp bậc Trung tá do
Chuẩn tướng Chức xin về cũng được “giải thoát”.
Trung
tá Tường được bổ nhiệm về làm TMT trường Đại học CCCT, nhưng
ông đã xin được ở lại với chiến trường Bình Định đang cực kỳ
sôi động. Đại tá Hoàng Đình Thọ đương kim Tỉnh trưởng Quảng
Tín, được thuyên chuyển về nhận chức vụ Tỉnh trưởng kiêm
Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Định. Đại tá Thọ là một sĩ
quan kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, từ đó, bộ mặt của Tiểu
khu đổi thay hẳn với thành phần dưới ông:
– Tiểu khu
Phó: Trung Tá Nguyễn Mạnh Tường
– Tham Mưu Trưởng: Trung
tá Nguyễn Đức Trung
– Trưởng P1: Thiếu tá Võ Đức Tín
–
Trưởng P2: Thiếu tá Kiều Văn Sâm
–
Trưởng P3: Thiếu tá
Nguyễn Ngọc Xuân
– Trưởng P4: Thiếu tá Dư Văn Hạ
–
Tham mưu phó CTCT: Trung tá Nguyễn Lâm
–
Trưởng phòng
Truyền tin: Thiếu tá Quỳ.
Và TTHQ đã được trả lại
những ngày ổn định cũ.
Sau những nỗ lực giải tỏa áp
lực địch tại các quận phía Nam, tháng 7/1972, cuộc hành quân
tái chiếm Bắc Bình Định với SĐ22BB làm nỗ lực chính đã đánh
bật Cộng quân ra khỏi 3 quận phía Bắc, cùng lúc SĐ2BB thuộc
quân khu với sự tham chiến của Biệt Động quân đã đánh bật
Cộng quân ra khỏi cửa khẩu Sa Huỳnh, tình hình chiến sự đã
tương đối lắng dịu. Thế nhưng, với cái nhìn của những nhà
quân sự, thì đây là giai đoạn tĩnh lặng trước giông tố, địch
đang phối trí và sửa soạn cho một chiến trường khốc liệt
khác. Chính vì dự đoán như thế, Trung tướng Tư lệnh Quân
Đoàn II Nguyễn Văn Toàn đã đặc biệt triệu tập Đại tá Hoàng
Đình Thọ Tỉnh trưởng kiêm TKT và Trung tá Nguyễn Mạnh Tường
Tiểu khu phó tại biệt thự Hương Cầm tại Qui Nhơn. Sau những
quan ngại về những mưu đồ của địch trong tương lai, ông nói
(Theo lời Trung tá Tường thuật lại sau này):
– “Quân
Đoàn II với một vùng trách nhiệm quá rộng lớn, lại là một
vùng với áp lực địch luôn luôn rất nặng, vậy mà dưới tay
tôi, chỉ có 2 SĐ22 và 23BB, gần 8 Trung Đoàn BB, riêng Bình
Định đã cầm chân thường xuyên 2 Trung Đoàn, với 6 Trung Đoàn
còn lại, phải đảm trách một lãnh thổ quá rộng, với áp lực
địch càng lúc càng gia tăng, tôi xin hai anh giúp tôi, bằng
mọi cách cố gắng dùng Lực lượng ĐPQ và NQ thay thế phần
trách nhiệm của hai 'thằng' 40 và 41 (Trung Đoàn 40 & 41) để
tôi có thêm khả năng đối phó với tình hình sắp tới, mà tôi
tiên đoán rằng, mỗi lúc một ác liệt. Tôi đề nghị anh Thọ
giao trách nhiệm quân sự cho anh Tường, tôi đặt hết niềm tin
vào các anh!”
Những tháng ngày kế tiếp sau đó, tôi
chưa hề thấy Trung tá Tường có lấy một phút nghỉ ngơi, ngay
cả khi phu nhân và các con của Trung tá từ Sài Gòn ra Qui
Nhơn thăm chồng, bà đã phải chờ đợi suốt cả tuần lễ vẫn chưa
được gặp mặt chồng. Người chiến binh tận tụy ấy đã quên cả
hạnh phúc cá nhân, quên cả chính thân mình. Ông ăn uống kham
khổ cùng với binh sĩ của ông. Ông có mặt khắp nơi, từng đơn
vị nhỏ nhất, săn sóc, an ủi, giải quyết những ưu tư của binh
sĩ. Ông theo dõi, kiểm tra, lựa chọn, tổ chức, huấn luyện
những binh sĩ ĐPQ & NQ, lựa chọn trong số các đơn vị thuộc
quyền các chiến binh mà kinh nghiệm cũng như lòng can trường
cùng khả năng chiến đấu để thành lập những đơn vị xung kích
và trinh sát bằng những khoá huấn luyện đặc biệt. Binh sĩ,
qua lớp huấn luyện có thể đảm đương mọi nhiệm vụ đặc biệt
được giao phó, kể cả các chiến thuật Diều hâu bằng Trực
thăng vận. Liên đội Trinh sát Tiểu khu với hai Đại Đội bao
gồm các chiến binh can trường và thiện chiến được đặt dưới
quyền chỉ huy của Trung uý Khuynh, một trong những sĩ quan
ưu tú của quân lực. Liên đội trinh sát ấy đã làm nên những
chiến công hiển hách, không phụ tấm lòng kỳ vọng của ông.
Nhờ thế, sau một thời gian ngắn, khí thế của Lực lượng
ĐPQ & NQ Bình Định đã vươn lên, không hề thua sút bất cứ đơn
vị thiện chiến nào. Họ không những bảo vệ an toàn các trục
lộ huyết mạch, ngăn chặn một cách hữu hiệu mọi ý đồ của
địch, mà còn mỗi lúc mở rộng vùng kiểm soát. Đến cuối năm
1972, tình hình an ninh mỗi lúc một khả quan và tinh thần
binh sĩ đã lên cao trông thấy, địch cùng lúc càng bị dồn vào
thế co cụm.
Trận đánh giải tỏa Đề Gi
Cứ điểm
Đề Gi là một mõm đất, là một cửa biển giáp ranh giữa hai
Quận Phù Mỹ và Phù Cát. Nơi này là căn cứ Hải Quân quan
trọng đặt dưới quyền chỉ huy của Hải Quân Thiếu tá Cát. Về
phía Bắc, qua một lạch nước rộng, thông từ biển vào Đầm Nước
Ngọt là Đài Kiểm báo được xây dựng trên một đỉnh núi lẻ.
Phía Tây của căn cứ là Quốc lộ 1, nối liền với căn cứ từ cầu
Phù Ly là Tỉnh lộ dài 21km chạy song song với một dòng sông
nhỏ, đổ vào Đầm Nước Ngọt, kẹp giữa sườn phía Bắc dãy núi Bà
(còn gọi là Hòn Chung). Đề Gi là một cửa khẩu chiến lược với
Đài Kiểm báo được trang bị tối tân, có thể kiểm soát cả một
vùng biển Đông bao la. Từ cửa khẩu này tiếp nối với căn cứ
địa 226 nằm giữa vùng núi non, tiếp giáp 3 Quận Phù Mỹ, Hoài
Ân, và Vĩnh Thạnh, mở xuống một vùng đồng bằng rộng lớn phía
Nam thuộc các quận Bình Khê, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước.
Từ khi cửa khẩu Sa Huỳnh bị SĐ2BB tái chiếm, cắt đứt mọi
khả năng vận chuyển lương thực và vũ khí của địch từ biển
Đông tiếp vận cho nội địa, SĐ3 Sao vàng cuống cuồng vì lệnh
từ Hà Nội và Quân khu 5 CS, bằng mọi cách phải chiếm được ít
nhất một cửa khẩu để dùng làm địa bàn sau khi Hiệp định đình
chiến có hiệu lực. Trong khi mọi nỗ lực của SĐ3 Sao vàng và
Lực lượng địa phương của chúng hoàn toàn bất lực trong nhiệm
vụ nống lấn mở rộng vùng kiểm soát, không những thế, còn bị
các Lực lượng ĐPQ & NQ đẩy vào thế bị động, luôn luôn bị săn
đuổi. Cuối cùng Chu Huy Mân phải chấp nhận kế hoạch Tổng lực
do viên Thiếu tá CS là Võ văn Ứng đệ trình. Chu Huy Mân bổ
nhiệm Ứng làm Lữ đoàn trưởng thực hiện kế hoạch (mà Ứng đã
đệ trình với sự cam kết chiến thắng), Lữ Đoàn bao gồm 7 Tiểu
Đoàn thiện chiến của SĐ3 Sao vàng gồm:
– 5 Tiểu Đoàn
Bộ chiến
– 1 Tiểu Đoàn Đặc công
– 1 Tiểu Đoàn Pháo.
Lực lượng tổng lực của Huyện đội Phù Cát
Với một
nghiêm lệnh là bằng mọi giá phải chiếm cho bằng được Căn cứ
Đề Gi, bất kể Hiệp định đình chiến đã có hiệu lực. Cuộc
chiến bùng nổ vào rạng sáng ngày 27/1/1973. Đài Kiểm báo do
Lực lượng của Duyên Đoàn 21 Hải Quân trấn giữ, bất thần bị
Tiểu Đoàn Đặc công địch tràn ngập. Núi Gềnh là một mõm núi
thuộc dãy Núi Bà nhìn xuống căn cứ Hải Quân, trước đây do
một đơn vị của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn trú đóng, đã âm thầm
rút đi, không thông báo, bỏ trống, không bàn giao lại cho
Lực lượng Việt Nam, bị Huyện đội cộng sản Phù Cát chiếm giữ.
Lúc 8:00g sáng ngày 27/1/1973, phút đầu tiên của Hiệp
định đình chiến có hiệu lực, Căn cứ Đề Gi bị tấn công bằng
tất cả sức mạnh của Lữ Đoàn cộng sản. Hỏa lực địch từ Núi
Gềnh, từ Đài Kiểm báo với hàng ngàn trái đạn rót vào căn cứ.
Căn cứ được phòng thủ bởi Lực lượng Hải Quân đồn trú, quân
số chỉ bằng 1/10 Lực lượng địch, anh dũng đánh trả và đẩy
lui nhiều đợt xung kích, gây nhiều tổn thất về nhân mạng cho
địch. Gặp sức kháng cự mãnh liệt của Lực lượng phòng thủ,
chúng bắc loa kêu gọi đầu hàng. Qua máy, Thiếu tá Cát lên án
hành vi vi phạm Hiệp định đình chiến của chúng, Tên Lữ đoàn
trưởng, Thiếu tá CS Võ văn Ứng lý luận là theo giờ Hà Nội,
lúc này chưa phải đúng giờ đình chiến. Đồng thời y chặt đầu
một Nghĩa quân mà chúng bắt được, bỏ cái xác không đầu của
người lính tội nghiệp lên xe lam, chở xác người Nghĩa quân
đến cổng Căn cứ Hải Quân, với những lời đe dọa “Hàng thì
sống, chống chặt đầu, quyết không bỏ sót!”
Hành động
bạo tàn này đã không làm cho những chiến sĩ trú phòng sợ
hãi, ngược lại, càng khiến tăng thêm ý chí quyết chiến đấu
trở thành sắt thép hơn, càng quật nát từng đợt tấn công liều
chết của địch. Đạn pháo của địch từ hai cao điểm dội xuống
như mưa, trực thăng không thể đáp xuống được, cùng lúc, hỏa
lực địch từ núi Gềnh và Đài Kiểm báo khống chế toàn vùng
biển.
Cuộc tấn công vi phạm Hiệp Định đình chiến của
Việt cộng được thông báo cho Uỷ Ban Quốc Tế Kiểm soát Đình
chiến trú đóng tại TTHL/Phù Cát, và yêu cầu UBKSĐC ký vào
biên bản. Trước hành vi bạo ngược của những người Cộng sản
anh em, viên trưởng đoàn Ba Lan không thể chối cãi, đành
phải ký tên vào biên bản (sau này viên trưởng đoàn Ba Lan bị
cách chức!).
Giữa lúc cộng sản dồn mọi nỗ lực nống
lấn, chiếm đất, giành dân trước và cả sau giờ đình chiến,
các đơn vị Diện địa, Lực lượng trú phòng tỉnh Bình Định nói
riêng và trên toàn quốc nói chung, đã phải dàn trải khắp
nơi, ngăn chặn không cho Cộng quân thực hiện mưu đồ của
chúng. Chúng đã gặp phải sức chiến đấu quyết liệt của các
chiến sĩ ĐPQ & NQ, không những đã không thực hiện được ý
định, mà còn bị thiệt hại nặng nề trên khắp các mặt trận.
Ngay cả những trục lộ giao thông quan trọng: Quốc lộ 1, từ
đèo Cù Mông đến Bình Đê, Quốc lộ 19 từ Bà Di lên đến đèo
Măng Giang, các chiến sĩ ĐPQ & NQ Diện địa đã bảo vệ an ninh
lưu thông một cách tuyệt đối không ngờ.
Đứng trước
tình hình ấy, Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH đã khẩn cấp không vận
Liên Đoàn 7/BĐQ của Trung tá Bùi văn Huấn từ Quân Khu I vào
tăng cường, với chỉ thị sử dụng như một Lực lượng trừ bị,
không được sử dụng làm nỗ lực tham chiến tiên phong. Quân
Đoàn II đã tổ chức cuộc họp khẩn cấp tại Phi trường Phù Cát
để đối phó với tình hình, gồm có Tư lệnh Quân Đoàn, Trung
tướng Nguyễn văn Toàn; Tư lệnh SĐ22BB với Thiếu tướng Phan
Đình Niệm; Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Định, Đại tá Hoàng
Đình Thọ; Tiểu khu phó Trung tá Nguyễn Mạnh Tường; Liên đoàn
trưởng/BĐQ Trung tá Bùi văn Huấn; Phụ tá Quân trấn trưởng
Qui Nhơn, Trung tá Nguyễn văn Thanh; Quận trưởng Phù Cát
Trung tá Đoàn văn Bái, Trung tá Khổng Trọng Huy.... Cuộc họp
để hoạch định kế hoạch hành quân giải tỏa và lựa chọn người
chỉ huy cho cuộc hành quân. Giữa lúc ấy, công điện hỏa tốc
từ Phủ Tổng Thống gởi đến. Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã
chỉ thị trao quyền chỉ huy tuyệt đối cho Trung tá Nguyễn
Mạnh Tường và đòi hỏi phải tránh tối đa thiệt hại cho dân
chúng trong vùng hành quân.
(Sau này được biết là
Nhân dân Quận Phù Mỹ và Phù Cát qua đại diện dân cử, đã đệ
đơn yêu cầu xin Tổng thống Thiệu trao trách nhiệm hành quân
cho Trung tá Tường vì lý do: Cuộc hành quân Đại Bàng 800,
dân chúng bị tổn thất nặng nề, và sau này Lực lượng Đại Hàn
hành quân khu vực này, sự tổn thất của dân chúng còn bị nặng
nề hơn nữa. Riêng Trung tá Tường, từ khi về Bình Định, với
rất nhiều cuộc hành quân, với nhiều cuộc đụng độ với Cộng
sản, nhân dân chưa hề bị tổn hại về sinh mạng lẫn của
cải...)
Chính vì sự tin tưởng của dân chúng Bình
Định, các cuộc hành quân trước đây đều lấy danh hiệu Toàn
Thắng. Danh hiệu các cuộc hành quân giải tỏa Đề Gi của Trung
tá Nguyễn Mạnh Tường là An Dân. Với tư cách Tư lệnh hành
quân, Trung tá Tường xin phép Trung tướng Tư lệnh Quân Đoàn
II được bảo vệ tuyệt mật mọi kế hoạch. (Mãi sau này, mọi ý
niệm điều quân, Trung tá Tường luôn luôn bảo vệ một cách
tuyệt mật, ngay cả Trung tâm HQ cũng phải giữ im lặng vô
tuyến đến tận lúc chiến thắng.)
Việc bảo mật ấy đã
thành công trong một chiến thắng lớn khác: Hạ sát tên Thiếu
tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn đặc công 405 Anh hùng, bắt
toàn bộ cấp chỉ huy của Tiểu Đoàn này, tịch thu rất nhiều vũ
khí trong trận đột kích vào sào huyệt của chúng tại ranh
giới Bình Định và Phú Yên, bẻ gẫy mũi dùi chúng đang tiến
hành tấn công kho xăng và kho đạn của Quân Khu II tại Đèo
Son Bình Định.
Cuộc hành quân này, Trung tá Nguyễn
Mạnh Tường đặc biệt giữ kín, ngay cả Trung Tâm Hành Quân
(TTHQ) cũng không hề biết, không một ai hay, thậm chí Lực
lượng tham dự là các Nghĩa Quân viên được lựa chọn cho cuộc
đột kích cũng chỉ được biết vào phút chót. Cho đến khi đích
thân Trung tá Tường lên máy vào lúc 3:00g sáng, lệnh cho
TTHQ gọi ANQĐ và Quân Cảnh ra phi trường tiếp nhận tù binh
và các chiến lợi phẩm.
Ngay cả đến trận phản công
giải tỏa Phi trường Phù Cát vào tháng 5/1974 với mưu toan
của Cộng quân tiêu diệt Căn cứ 60 Không Quân, cũng bị Trung
tá Tường dùng kỳ binh bất ngờ đánh cho “Sấm sét không kịp
bưng tai” khiến Trung Đoàn 2 của SĐ3 Sao Vàng tan tác.
Lời yêu cầu được hoàn toàn chấp thuận, và Lực lượng được
đặt dưới quyền của Trung tá Nguyễn Mạnh Tường gồm:
–
Liên Đoàn 7 BĐQ, QKI làm Lực lượng trừ bị
– 2 Tiểu Đoàn
thuộc Trung Đoàn 41/SĐ22BB
– 1 Tiểu Đoàn thuộc Trung Đoàn
42/SĐ22BB
– 1 Chi Đoàn Thiết Quân Vận M–113
– 1 Tiểu
Đoàn Pháo Binh
– 1 Đại Đội Trinh Sát
– 1 Pháo Đội
105ly
– 1 Tiểu Đoàn ĐPQ tỉnh Tuyên Đức.
So sánh
tương quan giữa ta và địch, ta 3, địch 5, tức 3/5. Một cuộc
hành quân tấn công giải tỏa với quân số tham chiến yếu hẳn
hơn địch, trong lúc địch đã sẵn sàng chờ đợi một mặt trận đã
được họ bố trí và lựa chọn trước, quả là điều không mấy sáng
sủa. Mà thời gian lệnh ấn định là trong 7 ngày phải thanh
toán xong chiến trường. Trong lúc mọi người đều cho rằng
cuộc hành quân khó lòng đạt được thành quả tốt đẹp thì Trung
tá Tường lại tin tưởng sẽ chiến thắng. Với lối đánh bất ngờ,
yếu tố bảo mật phải được áp dụng triệt để. Ông xin với Thiếu
tướng Phan Đình Niệm, Tư lệnh SĐ22BB để xin được sử dụng Đại
Đội Trinh Sát thuộc SĐ để tốc chiếm Núi Gềnh, và một Đại Đội
thuộc Liên Đoàn 7 BĐQ chiếm lại Đài Kiểm báo là hai cao điểm
do 1 Huyện đội Phù Cát và 1 đơn vị đặc công của SĐ3 Sao vàng
quyết tử chiếm giữ. Thiếu tướng Niệm đã thoái thác cho rằng
Đại Đội Trinh Sát đang trong thời gian dưỡng quân, khó lòng
có thể đảm nhận tốt được trách nhiệm. Thấy vị Tư lệnh Sư
Đoàn lo ngại sự tổn thất, Trung tá Tường vui vẻ, nói rằng
ông sẽ dùng 1 Đại Đội ĐPQ thay thế Đại Đội Trinh Sát của Sư
Đoàn để thi hành nhiệm vụ vinh dự này.
Không một ai,
hay ít ra, trừ viên Tư lệnh Quân Đoàn, Trung tướng Nguyễn
văn Toàn, vốn đã biết rõ khả năng điều quân và tài năng của
Trung tá Nguyễn Mạnh Tường, nguyên là Giám đốc Trung tâm
Hành Quân/QĐII. Thiếu tướng Niệm tỏ rõ nghi ngờ về khả năng
của ĐPQ. Trung tá Tường khẳng định rằng, một đoàn quân thiện
chiến không nhất thiết phải là danh hiệu, mà do được huấn
luyện như thế nào, tinh thần binh sĩ ra sao, và cũng còn tùy
thuộc vào chính cấp chỉ huy của đơn vị ấy nữa. Ông chỉ xin
riêng với Trung tướng tư lệnh Quân Đoàn cặp lon đại uý để
thăng cấp tại chỗ cho viên Trung uý Đại đội trưởng Đại Đội
Địa phương quân này, và Trung tướng Toàn chấp nhận yêu cầu
ấy, nếu đạt được chiến thắng.
Ngay sau khi rời khỏi
phòng họp, Trung tá Tường đã đến Tiểu Đoàn 209/ĐPQ do Đại uý
Nguyễn Bá Gạt làm Tiểu đoàn trưởng. Ông gặp riêng Trung uý
Phước, Đại đội trưởng Đại Đội 1/209 và ngỏ ý muốn sử dụng
Đại Đội này đánh chiếm Núi Gềnh bằng chiến thuật tốc chiến,
chỉ sử dụng lựu đạn trong trận đánh, và ông hứa, nếu chiến
thắng, ông sẽ tức khắc gắn lon đại uý ngay tại mặt trận.
Trung uý Phước cũng hứa rằng ông sẽ chiếm Núi Gềnh một cách
dễ dàng, không quá 30 phút.
(Trung uý Phước kể rằng,
từ thuở nhỏ, ông thường chăn trâu trong khu vực này nên mọi
địa thế của Núi Gềnh ông biết rõ hơn ai hết, và lối tấn công
bằng lựu đạn là hiệu quả nhất) Trung tá Tường bàn thảo việc
tiến công với người sĩ quan mà ông đã hiểu rõ và đã lựa
chọn, duy nhất ông đòi hỏi Trung uý Phước không được tiết lộ
bí mật hành quân với bất cứ ai, ngay cả với những người thân
cận nhất.
Ngày N1, trước nửa đêm, 1 Đại Đội BĐQ được
đổ xuống tấn công sấm sét vào Đài Kiểm báo, chưa đầy nửa
tiếng, Đại Đội Biệt Động Quân đã làm chủ tình hình, đánh bật
Lực lượng đặc công của SĐ3 Sao Vàng ra khỏi mục tiêu, địch
để lại nhiều vũ khí cá nhân và xác chết.
Ngày N lúc
5:00g sáng, ĐĐ1/209 của Trung uý Phước đã tiếp cận mặt trận,
bất thần tung hàng trăm trái lựu đạn, chỉ 15 phút sau, Huyện
đội Phù Cát lớp chết, lớp bị thương, lớp quăng vũ khí tháo
chạy, cuộc chiến thắng của ĐĐ1/209 trọn vẹn và chớp nhoáng
đến nỗi không một ai có thể tin được. Về phía bạn, ĐĐ1/209
chỉ duy nhất 1 binh sĩ bị thương nhẹ vì chính mảnh lựu đạn
của mình. Cùng thời gian ấy, Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 42 do
Đại uý Trí (năm 1975 là trung tá) làm Tiểu đoàn trưởng, đã
từ chân phía Nam Núi Bà, vượt đỉnh núi, tràn xuống đánh như
bão táp vào sau lưng địch. Cuộc tấn công bất ngờ đến nỗi tên
Tư lệnh Lữ Đoàn địch quẳng cả “Xắc–cốt” với toàn bộ tài liệu
tháo chạy, 2 Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 41 cũng đồng loạt tràn
ngập, địch không kịp phản ứng, bỏ chạy tháo thân.
Cũng ngày N, Chi đoàn M–113 Thiết Quân Vận cũng đổ bộ lên
bãi biển cách phía Nam căn cứ vài cây số, nhất loạt tấn công
hoàn toàn Lực lượng địch đang vây hãm Căn cứ Đề Gi, gần như
toàn bộ pháo binh của địch quẳng lại, chúng đạp lên xác đồng
đội mà tháo thân.
Cuộc hành quân truy kích bắt đầu và
chỉ đúng 5 ngày sau ngày N, cuộc hành quân đã hoàn toàn
chiến thắng, không một tổn thất về phía đơn vị bạn. Cuộc
hành quân An Dân 1/73 hoàn tất bao gồm cả nhiêm vụ và công
tác An Dân, công tác An Dân [do] 1 ĐĐ SVSQ/CTCT Đà Lạt đảm
trách trong giai đoạn thực tập công tác Dân Sự Vụ trước khi
mãn khoá Khoá 3/SQ–CTCT với 5 ngày vừa chiến thắng, vừa ổn
định cuộc sống của nhân dân vùng Phù Mỹ và Phù Cát, không
một người dân nào bị thiệt hại về sinh mạng và tài sản, bảo
đảm 100% toàn vẹn mệnh lệnh do Phủ Tổng Thống trao phó, xứng
đáng với tấm lòng tin tưởng và ưu ái của nhân dân Bình Định
ủy thác.
Và ngay hôm sau, Tổng thống Thiệu mời tất cả
các Đại Sứ của các nước đến thăm viếng Đề Gi mới được giải
tỏa, với tất cả mọi chứng tích về cuộc vi phạm Hiệp Định
Đình Chiến của Cộng sản VN, và Tổng thống đãi các đại sứ một
bữa gỏi cá cơm nổi tiếng ở Đề Gi, miền đất nổi danh của các
chiến sĩ âm thầm, các chiến sĩ Địa phương quân và Nghĩa quân
Bình Định....
(Khoảng tháng 6 năm 1973, viên Thiếu tá
Võ văn Ứng bất chợt về hồi chánh. Theo lời khai của y, với
trận Đề Gi thất bại, 3/4 Lực lượng tham chiến thuộc Lữ Đoàn
CS bị loại khỏi vòng chiến, một số lớn tử thương, không kể
bị thương và bị bắt. SĐ3 Sao vàng rúng động, Quân khu 5 CS
ngẩn ngơ, Hà Nội tím ruột. Ứng bị giáng cách tuột xuống
chuẩn uý. Khi về hồi chánh, y tha thiết xin được gặp người
đã làm cho y thân bại danh liệt: Trung tá Nguyễn Mạnh
Tường.)
Võ văn Ứng quê ở Hoài Nhơn, Bình Định, một sĩ
quan nổi danh của SĐ3 Sao vàng, xuất thân từ hàng ngũ binh
sĩ đi lên, chiến trận dạn dày. Trung tá Tường tiếp y với nụ
cười ân cần, hiền hòa, và bình dị. Y thật lòng thú nhận là y
không thể ngờ được có ngày y bị bại trận một cách nhục nhã
đến như thế. Tuy nhiên y rất khâm phục về phương cách điều
quân lạ lùng và chớp nhoáng mà y không hề nghĩ tới, duy có
một điều y bất phục:
– “Thưa ông, nếu tôi là ông, thì
hai Tiểu Đoàn còn lại của tôi sẽ không thể nào chạy thoát,
sẽ không còn một người nào sống sót, bằng cách sử dụng phi
pháo và chặn đánh.”
Trung tá Tường vẫn nụ cười hiền
hậu, đưa phóng đồ hành quân ra và nói:
– “Ông hãy xem
đây, tôi đã dự tính hơn những điều ông nói, tuy nhiên, nếu
tôi thực hiện điều đó, người dân vô tội sẽ tổn thất không
nhỏ về nhân mạng và tài sản. Với tôi, dù nếu để tiêu diệt
trọn hai Tiểu Đoàn tẩu thoát của các ông, đổi lại, chỉ một
người dân phải chết oan uổng, tôi nhất quyết không làm!”
Ứng không ngờ là trong đời y, y đã gặp được một danh tài
quân sự, mà lại càng không ngờ trong đời chiến trận sinh tử
lại có một tấm lòng nhân ái đến như thế....
Trận đánh
giải tỏa phi trường Phù Cát
Sau trận Đề Gi, tiềm năng
quân sự của SĐ3 Sao vàng bị hao hụt trầm trọng, các hoạt
động quân sự của địch hầu như suy giảm hẳn. Hai Liên Đoàn 4
và 6 Biệt Động Quân tăng cường chế ngự địch tại hai Quận
Hoài Nhơn và Tam Quan. Hoài Ân và một phần quận Phù Mỹ do
Trung Đoàn 41 đảm trách. Tình hình an ninh tương đối ổn
định. Quốc lộ 1 và 19 thông suốt, do các Lực lượng ĐPQ và
Nghĩa quân đảm trách. Bọn Cộng sản gửi văn thư tố giác đích
danh Trung tá Nguyễn Mạnh Tường là luôn luôn nống lấn, vi
phạm Hiệp định đình chiến. Nực cười là lời tố giác này lại
đứng trước một thực tế mà viên Trưởng đoàn Kiểm soát đình
chiến trú đóng tại TTHL/Phù Cát đã phải thừa nhận là chính
cộng sản đã vi phạm. Thêm vào đó, các vị đại sứ của các quốc
gia đã đích thân đến thăm Căn cứ Đề Gi ngay sau khi quân lực
ta tái chiếm, đã là những nhân chứng đáng tin cậy nhất. Do
đó, văn thư tố giác Trung tá Nguyễn Mạnh Tường rơi vào
khoảng không.
Trong suốt thời gian từ tháng 1/1973
cho đến tháng 4/1974 các ấp an ninh từ loại “V” được dần dần
nâng lên loại “A” càng lúc càng nhiều, khu vực vùng đai an
ninh thị xã Qui Nhơn mỗi lúc một mở rộng thêm, dù rằng địch
cố gắng giành giật nhưng hầu như hoàn toàn thất bại.
Cũng thời gian này, tuy rằng tình hình quân sự tương đối
lắng dịu, lại chính là giai đoạn vất vả nhất đối với Trung
tá Tường. Ông thường xuyên có mặt ở khắp nơi, vừa luyện
quân, vừa tổ chức, phối trí lại tất cả Lực lượng dưới quyền.
Một trong những đơn vị mà ông đã bỏ công sức để thành lập,
huấn luyện đó là Liên đội Trinh Sát của Tiểu khu. Ông đi đến
từng các Trung Đội ĐPQ và Nghĩa quân, tìm hiểu và lựa chọn
đến từng binh sĩ. Ông tìm hiểu hoàn cảnh, đời sống, tâm tư,
và tình cảm của tất cả các chiến binh, lựa chọn các cấp chỉ
huy dũng lược để bổ nhiệm vào các chức chỉ huy từ Tiểu đội
trưởng trở lên. Trung uý Khuynh được bổ nhiệm làm Liên đội
trưởng Liên đội Trinh Sát Tiểu khu, với quân số khoảng 2 Đại
Đội. Sự lao tâm khổ trí của ông đã được đền bù trong trận
đánh giải vây Căn cứ 60 KQ/Chiến thuật của Đại tá Nguyễn
Hồng Tuyền, trú đóng tại phi trường Phù Cát.

Phi trường Phù Cát là một
phi trường quân sự lớn, do Không Lực Hoa kỳ xây dựng vào
những năm 1966–1967. Căn cứ nằm giữa ranh ba quận An Nhơn,
Bình Khê, và Phù Cát, kéo dài theo hướng Tây–Nam – Đông–Bắc,
chạy dài từ núi Vân Sơn, cạnh dòng sông Côn, lên đến tận Núi
Một, kế cận cầu Phù Ly thuộc quận Phù Cát. Phi trường Phù
Cát rộng lớn, hơn cả phi trường Phú Hiệp (Phú Yên). Tất cả
các loại phi cơ phản lực có thể lên xuống một cách dễ dàng.
Khi quân đội Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam, Đại tá Không Quân
Nguyễn Hồng Tuyền tiếp nhận phi trường và trở thành Chỉ huy
trưởng Căn cứ 60/KQ/CT [Không Quân Chiến Thuật]. Từ căn cứ
này xuất phát tất cả mọi loại phi vụ yểm trợ đắc lực nhu cầu
chiến trường trong một vùng hoạt động rộng lớn.
Vào
một buổi sáng ngày Chủ nhật, tháng 5 năm 1974, Đại tá Hoàng
Đình Thọ, Tỉnh trưởng kiêm TKT/TKBĐ đi họp tại Sài Gòn,
Trung tá Tường xử lý thường vụ chức vụ Tiểu khu trưởng trong
lúc Đại tá Thọ vắng mặt. Trời còn rất sớm, Thượng sĩ Nguyễn
Đình Đốc, một hạ sĩ quan đầy tài năng và kinh nghiệm (hiện
Thượng sĩ Đốc đang cư ngụ tại Canoga Park, Nam California)
của Phòng 2/Tiểu khu trình cho Trung tá Tường một bản điện
văn của địch đã được giải mã, nội dung vỏn vẹn gồm 10 chữ
“Quân Át Chủ Bài đã vào vị trí tập kết”. Nội dung ấy nói lên
rằng SĐ3 Sao Vàng của Quân khu 5 sắp khai diễn một cuộc tấn
công có tầm mức rất quan trọng, tuy nhiên không rõ được mục
tiêu mà chúng đã lựa chọn.
Là người chỉ huy luôn luôn
nắm vững mọi tình hình Lực lượng bạn, với một hệ thống tình
báo riêng, ông còn biết rõ địch tình, Lực lượng, và những
thói quen, cùng tích nết của các cấp chỉ huy của SĐ3 Sao
Vàng. Ông theo dõi những chuyển dịch của Lực lượng địch một
cách cập nhật, với sự thận trọng và khách quan, đồng thời
loại bỏ từng mục tiêu cùng khả năng chuyển quân của chúng.
Cuối cùng ông đã khẳng quyết rằng: Mục tiêu của “Con Át
Chủ Bài” này chính là Căn cứ 60 Không Quân Chiến thuật. Lập
tức ông điện thoại cho Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền, Chỉ huy
trưởng căn cứ, cũng may Đại tá Tuyền còn tại nhà (Căn cứ
60), và ông cho biết là có một chuyện cực kỳ quan trọng cần
thảo luận với Đại tá Tuyền và yêu cầu Đại tá Tuyền ở nhà chờ
ông, mà vì tính chất quan trọng của vấn đề ông không thể nói
trên điện thoại được. Đại tá Tuyền đã khẩn cấp đưa trực
thăng đón Trung tá Tường ngay tức khắc.
Để giữ bí
mật, chỉ có hai người duy nhất trong cuộc họp mật này. Trung
tá Tường cho Đại tá Tuyền biết chỉ trong đêm nay Cộng quân
sẽ tấn công Căn cứ 60/KQ/CT. Lực lượng địch “Con Át Chủ Bài”
chắc chắn phải là một Lực lượng cực kỳ hùng hậu.
Phòng ngự căn cứ gồm các Lực lượng yểm cứ và quân nhân cơ
hữu của Không Quân, ngoài ra từ trước, căn cứ được tăng
cường Tiểu Đoàn 263 ĐPQ do Thiếu tá Phạm Hữu Kỳ làm Tiểu
đoàn trưởng với quân số chừng 600 binh sĩ. Tuy nhiên, căn cứ
quá rộng, Lực lượng phòng thủ phải phân tán quá mỏng. Đường
phi đạo nằm dọc theo chiều Bắc–Đông–Bắc và Nam–Tây–Nam, do
đó căn cứ cũng phải trải dài theo chiều dài phi đạo.
Sườn phía Đông của căn cứ là khu dân cư dầy đặc của 3 quận
An Nhơn, Phù Cát, và Tuy Phước, địch không có khả năng che
dấu và di chuyển vũ khí nặng, do đó chắc chắn mũi tiến công
của cộng sản từ sườn phía Tây của căn cứ, khu vực thưa thớt
dân cư, xa xa ở phía Tây là dãy Núi Vĩnh Thạnh, trùng điệp
tiếp giáp với các mật khu của địch, cánh đồng phía Bắc quận
Bình Khê, từ Gò Đề trở lên là khu đất cằn cỗi, do nước lũ từ
triền dãy Vĩnh Thạnh đổ xuống, năm từng năm xoi mòn làm
thành những con lươn sỏi đá khô cằn, những con lươn này, là
một địa thế lý tưởng cho cuộc chuyển quân, ém kín, và tiếp
cận mục tiêu của địch từ dãy núi Vĩnh Thạnh chạy sang phía
Đông, tiếp giáp phi trường Phù Cát.
Sườn phía Tây có
hai ngọn đồi cao, một ở phía Bắc–Tây–Bắc nằm bên trong vòng
đai phòng thủ là ngọn Đồi 69, do một Trung Đội thuộc Tiểu
Đoàn 263 ĐPQ trấn ngự. Một ngọn đồi khác nằm hướng chính Tây
mang tên Đồi 151 nằm cách căn cứ chừng 1km do 1 Trung Đội
Nghĩa Quân thuộc Chi khu Bình Khê trú đóng.
Muốn tấn
công một mục tiêu rộng lớn và quan trọng như Căn cứ 60/KQ/CT
Phù Cát, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường ước tính Lực lượng địch
phải từ cấp Trung Đoàn trở lên, được tăng cường Lực lượng
phòng không, pháo binh, hỏa tiễn nhằm khống chế các phi cơ
của căn cứ, không cho cất cánh, đồng thời phá hủy tất cả
những kho đạn và những mục tiêu trọng yếu, mà chắc chắn
chúng đã có được sơ đồ chi tiết do bọn nội tuyến cung cấp.
Đại tá Chỉ huy trưởng căn cứ ra lệnh cắm trại 100% đồng thời
mọi kế hoạch phòng thủ được âm thầm tiến hành sẵn sàng chờ
địch. Đứng trước tình hình nghiêm trọng ấy, trong tay Trung
tá Tường không còn bất cứ một Lực lượng trừ bị nào ngoài
Liên đội Trinh sát Tiểu khu của Trung uý Khuynh với quân số
khoảng 250 binh sĩ. Phòng ngự không để cho địch tràn ngập
căn cứ là thiết yếu, nhưng phản công tiêu diệt địch lại là
một vấn đề quan trọng hơn.
Giữa lúc ấy, một đoàn xe
chở một Tiểu Đoàn Biệt động quân về thụ huấn tại TTHL/Lam
Sơn, đang di chuyển ngang qua tỉnh Bình Định, Trung tá
Tường, sau rất nhiều khó khăn trong buổi sáng Chủ nhật ấy,
mới xin phép được Thiếu tướng Phan Trọng Chinh, để được sử
dụng Tiểu Đoàn BĐQ này để tăng cường phòng thủ cho phi
trường, tuy nhiên không được sử dụng Tiểu Đoàn làm Lực lượng
tấn công, giải tỏa. Biết chắc chắn là với Lực lượng còn lại,
không đủ khả năng tấn công trực diện địch mà phải sử dụng kỳ
binh tốc chiến, tốc thắng, âm thầm đánh vào sườn địch vào
giữa lúc bất ngờ nhất, Trung tá Tường đã xin lệnh Quân Đoàn
được phép sử dụng Chi đoàn Thiết giáp đang trú đóng tại An
Khê để bảo vệ trục lộ cho các đoàn xe tiếp tế từ Qui Nhơn
lên Pleiku. Tuy nhiên Trung tướng Toàn, Tư lệnh Quân Đoàn II
đã đi họp tại Sài Gòn, Chuẩn tướng Cẩm, Tư lệnh phó không có
mặt, Sĩ Quan trực TTHQ cho hay không biết Chuẩn tướng Cẩm ở
đâu trong ngày chủ nhật hôm ấy. Trước tình trạng cấp bách,
Trung tá Tường sử dụng trực thăng do Đại tá Tuyền biệt phái,
đáp xuống An Khê, gặp Trung uý Mỹ, Chi đoàn trưởng Chi đoàn
Thiết giáp, giả lệnh của Quân Đoàn, đặt Chi đoàn dưới quyền
điều động của ông, đồng thời ông cũng ra lệnh đình hoãn tạm
thời các đoàn công–voa tiếp tế lên Cao nguyên cho đến khi có
lệnh mới. Chi đoàn thiết giáp được lệnh đổ đèo An Khê xuống
Bình Khê chờ lệnh.
Ông trình bày kế hoạch tấn công,
nhiệm vụ của Chi đoàn và Liên đội Thám Sát Tiểu khu, có
trách nhiệm tấn công sườn phía Nam của địch, tuyến xuất phát
từ phía Bắc bờ sông Côn khi có lệnh. Kế hoạch của ông là,
Liên đội Thám Sát tùng thiết đánh thốc từ phía Nam lên với
sức mạnh hỏa lực tối đa, với vận tốc tối đa, không được dừng
lại để thu nhặt chiến lợi phẩm mà phải chia cắt nát mặt trận
của địch. Trong khi ấy, ông sẽ dùng Tiểu Đoàn BĐQ giả làm
Lực lượng tấn công trực diện, với tất cả hỏa lực và những vũ
khí cộng đồng để thu hút địch.
Trung tá Tường đáp
xuống bờ Bắc sông Côn, cách Đền thờ Đức Quang Trung khoảng
50m, dẫn Trung uý Mỹ và Trung uý Khuynh cùng ông vào điện
thờ làm lễ dâng hương, xin anh linh thần dũng của người Anh
hùng năm xưa, đã chớp nhoáng đánh tan 20 vạn quân Thanh vào
đầu Xuân năm Kỷ dậu 1789, phù trợ cho các chiến binh hậu duệ
của Ngài. Sau đó ông cùng Trung uý Mỹ và Trung uý Khuynh lên
trực thăng đi thám sát địa thế, bởi vì địa hình khu vực Bắc
Bình Khê, Tây Phù Cát, An Nhơn có nhiều bất lợi cho cuộc tấn
công chớp nhoáng bằng thiết giáp, do đó người chỉ huy phải
nắm vững địa hình một cách chặt chẽ.
Sử dụng 1 Chi
đoàn Thiết giáp với một Liên đội làm mũi nhọn, làm chủ lực
tấn công một địch thủ mà quân số và hỏa lực gấp 10 lần là
một điều ít ai dám làm, thậm chí không dám nghĩ tới. Thế
nhưng trong chiến sử cổ kim và đông tây đã từng xảy ra với
các danh tướng đã từng chiến thắng trong mỗi hoàn cảnh với
những yếu tố bất ngờ, thần tốc ....
Đêm Chủ nhật hôm
ấy, các chiến binh Căn cứ Không Quân/Chiến Thuật trong tư
thế sẵn sàng chờ địch. Và quả nhiên, Cộng quân mở đầu cuộc
tấn công bằng hàng ngàn trái đạn đủ loại. Tiểu Đoàn Trinh
sát Sao vàng ồ ạt tấn công Cao điểm 151 do Trung Đội Nghĩa
quân thuộc Chi khu Bình Khê trú đóng. Đồi 151 bị địch tràn
ngập và chiếm ngự, chúng dùng điểm cao này để chế ngự phi
trường. Riêng ngọn Đồi 69 nằm trong vòng đai phòng thủ
Bắc–Tây–Bắc phi trường do một Trung Đội của Tiểu Đoàn 263 tử
thủ, đã đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch. Trung Đoàn 2
Sao Vàng, Trung Đoàn được gọi là “Con Át Chủ Bài” nghĩ rằng
với yếu tố bất ngờ và với hỏa lực ưu thế, chúng sẽ dễ dàng
chọc thủng tuyến phòng ngự và tràn ngập căn cứ một cách dễ
dàng. Nhưng chúng không thể ngờ, các chiến sĩ của căn cứ đã
chờ đợi chúng và bằng tất cả sức chiến đấu mãnh liệt, từng
đợt tấn công của Cộng quân đã bị đẩy lui.
Trong lúc
ấy, tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn BĐQ được trang bị bằng
những vũ khí hạng nặng, khai hỏa ào ạt, được ngụy trang như
những chiến xa, lôi kéo hỏa lực địch, chúng nghĩ rằng những
chiến xa của ta bắt đầu xung kích.... Giữa lúc địch tấn công
vào căn cứ, cũng là lúc Chi đoàn thiết giáp chuyển các chiến
binh của Liên đội Thám sát Tiểu khu bắt đầu vượt tuyến xuất
phát, âm thầm xuất kích đánh vào sườn trái của địch. Trong
bóng đêm mịt mùng, mải mê vì bị lôi kéo, hòng ngăn chặn
thiết giáp đánh ra từ căn cứ (do BĐQ ngụy trang), cả Trung
Đoàn 2 Sao Vàng và các đơn vị tăng cường dồn hết mọi hỏa lực
về phía trước. Chúng không ngờ bên sườn trái, tử thần đang
từng phút kề cận. Cho đến khi toàn bộ hỏa lực của Chi đội
thiết giáp và Liên đội Trinh sát tấn công ào ào như sấm dậy,
như sét đánh không kịp bưng tai, nỗi kinh hoàng tràn ngập
trận tuyến địch, địch không kịp quay súng, từng lớp bị đốn
ngã....
Giữa đêm đen, khi đã phát hiện ra Lực lượng
tập kích sườn trái, từng lưới đạn vẫn ào ào đổ xuống, lớp
chết, lớp bị thương, địch bỏ súng tháo chạy, lớp này cuốn
theo lớp khác bị bắn hạ. Toàn thể Trung Đoàn 2 Sao Vàng “anh
hùng” thoát chốc tan tác, cuống cuồng tháo thân.... Tiểu
Đoàn Trinh sát SĐ3 Sao Vàng trấn trên Đồi 151 không hề hay
biết, cho đến lúc một Đại Đội của liên đội Trinh sát Tiểu
khu do Trung uý Khuynh chỉ huy, đánh thốc lên từ sau lưng
bằng lựu đạn, tên Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn Trinh sát Sao
Vàng bị đốn ngã ngay từ phút đầu tiên, cả Tiểu Đoàn buông
súng lao xuống sườn đồi tháo chạy, bất kể phương hướng,
chúng kinh hoàng bởi sự đột kích hết sức bất ngờ, tử thần đã
từ phía sau ập đến... Xác địch ngổn ngang trên đồi cao, cùng
một số thi thể của các chiến sĩ nghĩa quân đã hy sinh lúc
khởi đầu chiến trận. Cuộc tháo chạy kinh hoàng, bỏ lại đủ
loại vũ khí trên đường tiến quân của ta. Ngược lại, như một
sự linh thiêng mầu nhiệm, Lực lượng tấn công của ta hoàn
toàn vô sự.
Trung uý Khuynh gỡ chiếc “xà cột” trên
vai xác tên Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn Trinh sát SĐ3 Sao
Vàng. Mọi ý đồ của địch được ghi chép trong tài liệu bắt
được cho thấy trận đánh này chỉ là bước khởi đầu cho một
trận tấn công toàn lãnh thổ tỉnh Bình Định. Ý đồ của chúng
bị bẻ gẫy, bị đập tan ngay từ bước khởi đầu. Cùng lúc, những
tên còn sống sót của Trung Đoàn 2 SĐ3 Sao vàng cuống cuồng
tháo chạy, Chi khu Phù Cát tổ chức cuộc hành quân trực thăng
vận khẩn cấp với 2 Trung Đội Nghĩa Quân đổ xuống mục tiêu đã
được dự trù, tịch thu được 1 khẩu súng “bắn hỏa tiễn” loại
mới với những trái đạn khổng lồ còn lăn lóc (đây là một loại
vũ khí mới nhất của Trung cộng, súng dùng để bắn hỏa tiễn
với máy nhắm hiện đại. Máy nhắm này phía Hoa Kỳ đã xin mượn
để nghiên cứu, vì đây là loại súng bắn hỏa tiễn tối tân nhất
của Trung cộng, bị tịch thu ở chiến trường miền Nam, với mức
độ chính xác gấp nhiều lần so với dàn phóng hỏa tiễn có từ
trước). Ngoài ra còn tịch thu được:
– 1 súng cối
120ly
– 4 đại bác 82ly
– 1 đại bác 122ly
Số
lượng vũ khí cộng đồng, cá nhân, và xác địch quân bỏ lại
trên chiến địa không đếm xuể, hầu như toàn bộ Lực lượng địch
tham chiến bị tiêu diệt gần hết. Một điều kỳ diệu là thiệt
hại của Lực lượng bạn không đáng kể, ngoại trừ Trung Đội
Nghĩa quân của Chi khu Bình Khê trú đóng trên Đồi 151 đã hy
sinh lúc khởi đầu trận đánh.
Sau chiến thắng, Chuẩn
tướng Cẩm, Tư lệnh phó Quân Đoàn II, đề nghị Tướng Toàn phạt
Trung tá Nguyễn Mạnh Tường 30 ngày trọng cấm với lý do đã
điều động và sử dụng Chi đoàn Thiết giáp khi chưa được
“ông–tướng–rong–chơi” này cho phép(!!!), trong khi 2 Trung
tá Không Quân thuộc Căn cứ 60/KQ/CT được vinh thăng đại tá
tại mặt trận, một số sĩ quan, hạ sĩ quan, và binh sĩ được
thăng cấp rất hạn chế... Điều bất công ấy đã khiến cho Đại
tá Nguyễn Hồng Tuyền và toàn thể sĩ quan, hạ sĩ quan, và
binh sĩ tham chiến kinh ngạc và phẫn nộ. Ngay cả đến Trung
tướng Tư lệnh Không Quân Nguyễn văn Minh cũng tức giận.
Trung tướng Minh ra thăm căn cứ KQ Chiến thuật, cho tổ chức
tiệc ăn mừng chiến thắng. Tướng Minh đã ca ngợi và giới
thiệu Trung tá Tường với thuộc cấp như vị “ân nhân” của binh
chủng Không Quân, lệnh cho binh chủng luôn ghi nhớ công sức
của người đã cứu nguy và mang lại chiến thắng cho binh
chủng, và sẽ luôn phải ưu tiên thỏa mãn cho Trung tá Tường
những nhu cầu công cũng như tư. Đại tá Tuyền từ đó đã dồn
mọi ưu tiên không yểm cho Trung tá Tường trong các yêu cầu
tại chiến trường. Cũng vì thế, Tư lệnh SĐ22BB đã kiện về Bộ
Tổng tham mưu về sự ưu tiên này. Bộ Tổng tham mưu đã phái
một Đại tá ra điều tra sự kiện thưa gởi ấy. Đại tá Tuyền đã
trả lời một cách minh bạch:
– “Điều ấy dễ hiểu, Trung
tá Nguyễn Mạnh Tường đã giúp chúng tôi một cách tận lực
trong lúc nguy nan, cấp cứu, và giải thoát cho những Phi
Đoàn của chúng tôi lúc bị bắn hạ một cách mau chóng. Trong
khi ấy, Sư Đoàn đã không làm gì trước những yêu cầu như thế.
Do đó, chúng tôi phải tận lực yểm trợ cho Trung tá Tường là
điều đương nhiên!”
Người chỉ huy và mang lại chiến
thắng trong trận Phù Cát, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường, bị đối
xử như thế, đã khiến Trung tướng Minh bất bình và không thể
im lặng, do đó, trong một cuộc họp các tướng lãnh tại Sài
Gòn, có mặt Đại tướng Trần thiện Khiêm, đương kim Thủ tướng
Chính phủ, Trung tướng Minh đã nêu lên thắc mắc này. Đại
tướng Khiêm đã hỏi Đại tướng Cao văn Viên về sự kiện ấy, ông
Viên trình bày là “đã hết cấp số!”. Đại tướng Khiêm lệnh
mang hồ sơ của Trung tá Nguyễn Mạnh Tường cho ông đích thân
cứu xét, và ngay tức khắc Thủ tướng Đại tướng Trần Thiện
Khiêm đã ký nghị định thăng cấp đại tá thực thụ cho Trung tá
Nguyễn Mạnh Tường ngay sau cuộc họp. Đó là vào khoảng tháng
8/1974.
Sau khi được thăng đại tá, một tưởng thưởng
muộn màng, Đại tá Tường được thuyên chuyển về làm Phụ tá
Hành quân cho Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh SĐ5BB. Kể từ ngày
ấy, tôi không gặp lại Đại tá Tường, mãi cho đến cuối năm
1977 mới gặp lại ông tại Hoàng Liên Sơn trong một lần đi vác
nứa. Tôi đã đứng nghiêm kính cẩn chào ông bằng lễ nghi quân
cách với những dòng nước mắt nghẹn ngào. Ông vẫn bình thản
như ngày xưa, vẫn đôi mắt và nụ cười thuở trước. Dường như
sự đày đọa trong tù ngục không ảnh hưởng gì đến ông. Người
chiến binh già ấy đã từng làm cho tôi kính trọng thuở nào,
càng làm cho tôi kính yêu hơn nữa trong cung cách thản nhiên
chịu đựng sự nhục mạ, sự đọa đày hèn hạ trong chốn lao tù.

Bẵng đi bảy năm sau đó, 1984, tôi được gặp lại
ông tại Z30A Xuân Lộc, ông sống âm thầm trong cuộc sống đày
ải như một bậc chân tu. Ông dạy tôi về Thiền, về khí công,
về cách điều tức “sâu–dài–êm–đềm–chậm”. Thì ra chính Thiền
công đã khiến ông vượt qua được tất cả, kể cả mọi bệnh tật
cũng không xâm nhập được vào cơ thể người chiến binh năm
xưa. Thỉnh thoảng ông mới được thăm nuôi, cuộc sống cực kỳ
đạm bạc, thế mà ông vẫn chia sẻ những món quà khiêm tốn, ít
ỏi cho những anh em đồng tù bất hạnh, không kể thân sơ, chỉ
giữ lại cho mình những hũ tương mặn chát. Trong tù, tôi được
nghe nhiều người nhắc đến ông trong thời gian ông về làm Phụ
tá hành quân SĐ5BB, kể lại cuộc rút quân thần kỳ cuối cùng
của cuộc đời binh nghiệp, cùng những đức tính cao quý, không
chỉ những sĩ quan thuộc SĐ5BB mà còn rất nhiều người đã sống
bên ông trong quãng đời tù đày.
Mãi đến năm 1992, tôi
mới gặp lại ông tại Sài Gòn. Ông sống một mình trong một con
hẻm đường Công Lý. Ngày từng ngày, ông đi chữa bệnh cho
những ai cần đến ông. Ông không nhận bất cứ thù lao nào từ
những bệnh nhân được ông chữa khỏi. Những lúc rảnh rỗi, ông
lên gác chuông chùa Vĩnh Nghiêm đọc kinh Phật.
Năm
1993, tôi bị CSVN bắt lại với án tù 12 năm về tội “âm mưu
lật đổ chính quyền”, may mắn được Quốc tế can thiệp và được
ra khỏi tù cuối năm 1998.
Đầu năm 1999, tôi sang Mỹ
theo diện H.O. được chiếu cố vì quá muộn màng. Và vui mừng
xiết bao vì lại được gặp lại ông. Nhân lời yêu cầu của nhóm
nhà văn quân đội chủ trương thực hiện tập “Những Trận Đánh
Không Tên Trong Quân Sử”, tôi xin phép ông cho phép tôi được
viết lại một cách khiêm tốn quãng thời gian ông đã tham dự
và chỉ huy các trận đánh ở chiến trường gian khổ Bình Định,
cùng những chiến thắng lẫy lừng của các chiến sĩ Địa Phương
Quân và Nghĩa Quân âm thầm mà ông chính là người đã, với tài
trí và đức độ của mình, đưa đến những chiến thắng thần kỳ
trong sự hạn chế và gìn giữ tối đa sinh mạng và tài sản của
dân lành vô tội. Ông đã từ chối rất nhiều lần với ý muốn
thành khẩn của tôi, khi tôi muốn đưa một tài năng chỉ huy
của quân lực vào Quân sử, với lý do là ông đã quên hết trong
thế giới của Thiền đạo. Và cũng bởi vì, với kết cuộc thảm
khốc của sinh mạng QLVNCH trong tháng Tư đen tối 1975, thì
mọi chiến công đã trở thành tận cùng đau đớn, có nhắc lại
chỉ thêm đắng cay, mà mỗi người trong chúng ta chỉ nên âm
thầm trong sám hối bởi những hành vi đã có, đóng góp một
phần trong cuộc bại trận này.
Theo ông, có 3
đại họa trong thiện hạ là:
1/ Công ít mà
bổng lộc nhiều
2/ Tài mọn mà địa vị cao
3/ Chí nhỏ mà
mưu việc lớn
Tôi hoàn toàn thẩm thấu được nỗi đau
lòng ấy, nhưng tôi thưa với ông là “VNCH của chúng ta bị bức
tử vì nhiều mặt. Tuy nhiên, các chiến sĩ QLVNCH đã chiến đấu
vô cùng anh dũng, biết bao người đã nằm xuống, đã đổ máu
xương cho một Việt Nam Tự do, và giờ này các chiến binh vô
danh cả triệu người đang sống trong tối tăm, trong đọa đày
tủi nhục, trong đau đớn ê chề.... Vậy thì hãy cất tiếng nói,
HÃY TRẢ LẠI DANH DỰ CHO CÁC CHIẾN BINH ÂM THẦM kia, trả lại
cho lịch sử mai hậu về một VNCH và một QLVNCH đã có những
đứa con xứng đáng trong bất khuất, anh dũng trong hy sinh,
vinh hiển trong máu xương oan khuất. Việc nhắc đến, vinh
danh những chiến binh đã chiến đấu, đã nằm xuống như dòng
nước mát, như nén hương thơm cho Quê Hương Việt Nam thống
khổ. Và sau cùng, vì những điều tôi vừa trình bày. Cuối
cùng, ông đã đồng ý cho tôi viết những dòng trả lại vinh
quang cho những người lính miền Nam.”

Trần Thúc Vũ
nguồn:
blog thép súng

Phụ Lục
Thương
Cảm
Này anh lính của Cộng Hòa
Khi đất nước chia đôi bờ Bến Hải
Hai mươi mốt năm quan tái
Anh góp phần da thịt với Quê hương
Vun cây Tự Do đâm chồi nảy
lộc
Anh bỏ cuộc trong ván cờ quốc tế
Bạn đồng minh đâm xẻ
sau lưng
Anh chiến bại nhưng anh là chính nghĩa
Giữ Tự Do
đem cơm áo cho người.
Dù đường đời muôn vạn nẻo
Anh
mang trời tinh tú kết yêu thương
Anh là hương hoa đồng nội
Là bóng mát thị thành
Là bảo vệ lý tưởng Quốc gia trong lòng
Dân tộc
Anh bỏ cuộc chơi, ánh bình minh vụt tắt
Dân Chủ, Tự
Do họ lấy mất đi rồi
Thân phận Việt Nam ơi!
Tay trong tay
ngoài
Bàn cờ đời sắp đặt sẵn
Tháng năm nào di tản
Lệnh
buông súng tan hàng
Những anh hùng không đội một trời chung
Nhất định không đầu hàng.
Như Lê Văn Hưng vẹn toàn sĩ khí
Nguyễn Khoa Nam ý chí ngút ngàn
Tướng Phú, Tướng Hai, Tướng Vỹ
Rồi những Sĩ quan, Binh sĩ
Không thua trận, quyên sinh vì
nghĩa khí
Chết nghẹn ngào khi đồn bót còn nguyên
Ôi những
bàn tay bạch tuộc Tây phương
Đánh đổi miền Nam cho khối Cộng
Những con buôn chính trị
Những phường trí thức miệng lang dạ
sói
Chúng bắt anh tan hàng
Chết thảm chết đau trên đường
triệt thoái.
Này anh lính của Cộng Hòa
Xin một lần nhìn
chân đời phiêu bạt
Lấy điạ bàn đo điểm đứng của quê hương
An Lộc, Bình Dương
Cửa Việt, Cửa Tùng
Đây Khe Sanh, Lao Bảo
Kìa Tân Cảnh, Dakto
Pleime gió núi mưa rừng
Anh chiến
đấu giữa lòng dân tộc
Ôi những bước chân âm thầm đơn độc
Những năm nào anh giang tay đo đất
Đánh cận chiến giành lại
từng góc đường căn phố.
Chiếm
toàn bộ Huế đô
Lấy lại thịt xương cho ba ngàn người chôn sống
Anh đã qua Đại Lộ Kinh Hoàng
Lượm xác bà con tản cư bởi pháo
địch chặn đường
Anh tiến thẳng về La Vang
Đánh từng bước
hiên ngang tới Cổ Thành Quảng Trị
Anh đi như vũ bão
Từ mũi
Cà Mâu ra tận cầu Bến Hải
Chưa một lần thất trận
Đem yên
lành trải khắp một quê hương
Anh là lính của yêu đương
Của
mưa nguồn nắng biển
Của gió chiều mắt gợn sóng vấn vương
Em
là gái hậu phương
Xin hỏi anh lính của Cộng Hòa
Đi đâu về
đâu để nửa hồn còn lại
Một nửa hồn xa xót nợ đau thương
Xin
một nén hương
Cho vong linh Người nằm xuống
Xin đốt sạch
tuổi buồn
Cho người thương binh què quặt
Xin những bàn tay
tiếp sức
Giữa biển trời vằng vặc trăng sao.
Anh ở đâu
nơi Năm Châu bốn bể
Có ngậm ngùi xa xót một tình quê
Như đi
giữa cơn mê
Bóng tối vây quanh bầy quỷ đỏ
Những con vượn bỏ
rừng
Ngơ ngáo về trong lòng thành phố
Đi cướp đất đuổi dân
Tám mươi triệu cái đầu làm kiếp thiêu thân
Không có quyền được
ăn, được nói
Ba mươi mấy năm dài quằn quại
Thế lực ma
vương: vàng, đỏ, trắng
Nối kết nhau chia láng một gia tài
Anh lính của Cộng Hòa ơi!
Anh mãi sống trong vườn đời dân
tộc.
Đồng bào ta thương tiếc:
“Dân Chủ, Tự Do” tan biến
cuối chân trời....

Hoàng Thị Đăng Trình
Những
trang liên quan
chiến trường bình định & mãnh sư nguyễn mạnh tường
đại bàng gẫy cánh
vành khăn tang cho đại tá nguyễn mạnh tường


THIÊN SỨ MICAE – BỔN MẠNG SĐND VNCH
|
|
hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: Internet eMail chuyển
Đăng ngày Thứ Tư, January 12, 2011
Cập nhật ngày thứ Sáu, October 17/2025 –
Chuyển sang Bootstrap Framework 5.x
tkd.
Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH