
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự truyện
Chủ đề:
lính kể
Tác giả:
Song Vũ [*]

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)

Đầu
năm 1971 tôi dẫn hai Tiểu Đoàn 1 và 2/44 di chuyển từ Sông
Mao lên trình diện BTL/QĐII tại Pleiku. Đơn vị tôi sau đó
được đặt dưới quyền điều động của BTL nhẹ Quân Đoàn II đóng
tại Hàm Rồng. Nhiệm vụ của chúng tôi là tổ chức các cuộc
hành quân vùng phía tây Quốc lộ 14 khu vực Đèo Tử Sĩ, theo
tin tình báo, đang có sự hiện diện của một đơn vị bộ đội
miền Bắc xâm nhập. Chỉ huy cuộc hành quân là Đại tá Lê Trung
Tường, sĩ quan phụ tá hành quân là Trung tá Nguyễn Mạnh
Tường. Gặp nhau trao đổi tình hình và qua vài câu chuyện tôi
có cảm tình đặc biệt với anh. Tính cởi mở và chân thành, anh
không ngại khi cùng tôi bàn định mọi kế hoạch hành quân, về
cách phối trí Lực lượng và quan niệm hành quân. Qua câu
chuyện tâm tình, tôi được biết anh cũng mới giã từ chức vụ
Chỉ huy trưởng Cảnh Sát Dã Chiến ở Sài Gòn trước đó, đổi về
Quân Đoàn II ngồi chờ bổ nhiệm. Tôi cười nói chọc anh:
– “Có phải anh là người hai lần đậu thủ khoa hai Khoá
tham mưu trung và cao cấp ở trường Chỉ Huy Tham Mưu không?”
– Anh cười: “Chính tớ!”.
– Tôi bảo: “Mai mốt đây
nếu Trường Chỉ Huy Tham Mưu mở thêm một Khoá đặc biệt nào
nữa chắc anh lại thủ khoa và như thế là ngang với cụ Tam
nguyên Yên Đỗ rồi, anh giỏi thiệt!”
– Anh khiêm
nhường bảo: “Giỏi chó gì! Các cậu quan niệm đi học là đi
chơi, xả xú báp còn tớ thì tớ muốn làm việc gì cũng đâu ra
đó nên mới thủ khoa thôi.”
– Tôi bảo: “không phải thế
đâu, hồi tôi đi học Chỉ huy tham mưu trung cấp năm 1968 tôi
cũng học ra trò đấy chứ mà nào có được thủ khoa như anh?”
Đặc biệt Khoá tôi lại có cả các Tiểu đoàn trưởng quân y của
các Sư Đoàn Bộ Binh, Nhảy Dù, và TQLC nữa cũng về học, mà
anh biết đó, mấy cha bác sĩ này nói đến học là nghề của mấy
chả, thế mà cũng có ai đậu thủ khoa đâu! Ngoại trừ bác sĩ
Đích y sĩ trưởng SĐ2BB thì phải, chỉ đậu thứ 3 thứ 4 gì đó.
– Hoạt động với nhau gần hai tháng tôi mới vui miệng hỏi
sao anh lận đận quá vậy? Với khả năng như anh thiếu gì vị
trí xứng đáng để thi thố tài năng.
– Anh chỉ mỉm cười
bảo: “Cái số mình nó thế.”
Được biết anh từng xuất
thân là một sĩ quan Nhảy Dù, rồi tham gia Lực lượng đặc
biệt... ở đơn vị nào anh cũng đều được thượng cấp nhận xét
là sĩ quan trẻ có khả năng, phải nhận rằng anh là một sĩ
quan toàn diện về cả khả năng chỉ huy và tham mưu; thế mà...
Tháng 6 đơn vị tôi rời vùng hành quân trở lại Sông Mao và
nghe tin anh về phụ tá Phòng 3 QĐ cho Trung tá Nguyễn Văn Đệ
rồi làm giám đốc trung tâm hành quân Quân Đoàn II. Từ đó tôi
không có tin tức gì của anh nữa.
Cho mãi đến cuối năm
1972, trong lúc các Lực lượng cộng sản tung ra các cuộc hành
quân quy mô nhằm hỗ trợ cho những đề nghị chính trị của họ
tại cuộc hoà đàm Paris. Đơn vị tôi tham gia các cuộc hành
quân trên chiến trường Kontum và vùng Quảng Đức thì nghe tin
anh cũng đang điều binh khiển tướng trên mặt trận Bắc Bình
Định. Tôi nghĩ thầm trong bụng cũng mừng cho một sĩ quan đa
tài như anh lại có dịp phục vụ quân đội và đất nước. Đến
khoảng giữa năm 1974 thì lại nghe tin anh mới được thăng cấp
đại tá đặc cách tại mặt trận do Tổng thống Thiệu gắn tại
Bình Định, khi với chức vụ Tiểu khu phó, anh chỉ huy điều
động các đơn vị địa phương và tăng phái đánh thắng hai cuộc
tấn công qui mô của các Lực lượng Cộng quân thuộc mặt trận
B3 vào Căn cứ Đề Gi và Căn cứ Không Quân Phù Cát, gây tổn
thất nặng nề cho các đơn vị địch. Nghe tin vui của anh tôi
tự nhủ “Ít ra cũng phải như thế, dù muộn nhưng vẫn còn hơn!”
Rồi những diễn biến chính trị và quân sự phức tạp kéo theo
sau đó. Tôi lại không có dịp liên lạc với anh nữa.
Cho mãi đến cuối năm 1977 tôi mới gặp lại anh tại Trại 4
Hoàng Liên Sơn. Vẫn một Nguyễn Mạnh Tường xốc vác, trẻ
trung, và đa tài. Kỷ niệm có với anh thời gian này chính là
ngày tết năm ấy khi trại mua được một con trâu già phế thải
của hợp tác xã mang về mổ thịt ăn tết cho toàn trại. Con
trâu kềnh tuy đã lão và mẻ một sừng nhưng trông vẫn còn dềnh
dàng dễ sợ. Con trâu được cột vào một bụi tre già. Vì là
ngày giáp tết, trại nghỉ lao động nên các cải tạo viên đứng
thành vòng ngó coi lần đầu tiên cách thức mổ trâu như thế
nào. Người bàn ra tán vào đủ kiểu làm cách nào để vật được
con trâu nằm xuống mới thọc huyết được. Có tay công an quản
giáo đề nghị lấy súng bắn vào đầu con trâu cho đỡ rách việc!
Trong lúc đang bàn tán lao xao như vậy thì anh Tường xuất
hiện. Anh bảo để anh tính cho. Ngay sau đó anh yêu cầu một
người chặt cho anh một khúc nứa dài khoảng 2 thước, chặt vát
một đầu. Còn đích thân anh lấy một sợi dây thừng buộc vào
con trâu rồi bằng một động tác bất ngờ, anh kéo ghì đầu trâu
qua một bên, níu ràng xuống dưới bốn chân con trâu và yêu
cầu vài người khoẻ mạnh phụ anh đẩy con trâu vì vướng giây
chụm vào nhau ngã nhào xuống cỏ. Từ đó anh dùng cây nứa nhằm
ngang dưới cổ thọc thẳng vào tim con trâu. Con trâu chết rất
nhanh và gọn trước sự thích thú ngạc nhiên của đám tù chúng
tôi.
Buổi chiều 30 tết năm ấy khi ngồi nói chuyện tâm
sự cuối năm tôi có hỏi:
– “Làm sao mà đại ca biết
cách giết trâu nghề vậy?”
– Anh mỉm cuời, “Thì cũng
học đồng bào cao nguyên thôi, lúc tớ còn trong Lực lượng đặc
biệt khi tham dự lễ giết trâu tế thần”.
Trại 4 giải
tán, chúng tôi lại xa nhau lần nữa, lần này anh trở về Trại
1 còn tôi di chuyển đi Thác Bà.
Tháng 4 năm 1982 tôi
từ Nam Hà theo đoàn tù cải tạo còn lại sau đợt di chuyền năm
trước trở về Miền Nam. Về Trại Z30A. Tôi gặp lại anh.
Anh thuộc đội nhà bếp, trong khâu bổ củi. Mặc dù tuổi
tác lớn nhất trong toán cuả anh nhưng phải nói anh có sức
khoẻ phi thường. Suốt ngày cởi trần trùng trục, mỗi buổi
sáng nhìn anh đứng trước một đống gỗ gồm các gốc cây khô vặn
vẹo vằn vện tay cầm cây búa mà thấy phục. Tôi cũng được biết
anh đang tập thiền và nghiên cứu thiền. Hết giờ lao động,
anh hoặc ngồi tập thở hoặc đọc sách. Ngồi nói chuyện với anh
câu chuyện luôn xoay quanh về các đề tài tu tập. Hồi ấy
trong trại các tin tức về đủ loại đủ kiểu râm ran bàn tán về
các giải pháp cho tù chính trị. Nhiều khi tâm sự, anh vẫn
nhận định tình hình chưa chín. Sự việc còn nhiều gay go,
theo anh khuyên giờ đây là lúc tự rèn luyện mình có đủ minh
mẫn và sức khoẻ để có thể đáp ứng được khi tình thế đòi hỏi.
Thời gian này anh sử dụng khí công và day huyệt để chữa trị
một số bịnh cho anh em trong trại nên anh có tên mới “Thầy
Tường”.
Anh thuộc diện mồ côi, tiếng chúng tôi chỉ
các sĩ quan cải tạo không được thăm nuôi thường xuyên. Dăm
chừng mười họa, khi vợ con hoặc người quen biết gởi gắm cho
một ít thức ăn nhờ người thân tiện đường thăm thân nhân gởi
ké vào trại. Anh bảo gia đình anh có chị và hai cháu đã vượt
biên sang Úc, giờ đây chắc cũng đang phải cày dữ lắm để mưu
sinh nên anh chẳng có kỳ vọng gì cả. Vả chăng đối với anh,
cuộc sống thanh đạm trong tù cũng là một điều kiện thuận lợi
cho việc tu dưỡng của anh nữa. Lâu lâu có bà chị ruột lên
thăm anh, chị cũng nghèo nên chủ yếu là thăm em thôi, quà
cáp là ít lạng mè, đậu phộng, và muối để anh ăn chay. So
sánh với các người khác cùng cấp bậc hoặc chức vụ như anh,
anh thường bảo:
– “Tớ là thằng vô sản chân chính
đấy!” rồi anh nói thêm “Chỉ có điều tớ đếch tin vào
chủ nghĩa Marx nên mới bỏ quê lên tỉnh và vào Nam thôi.”
Anh em ở chung Trại Z30A với nhau gần 6 năm đến giữa
tháng 2/1988 chúng tôi mới được thả ra về. Anh trở về tạm
trú nhà bà chị ở gần cầu Công Lý. Tôi có đến thăm anh đôi
lần. Anh bảo anh sẽ lên chùa Vĩnh Nghiêm để tu tập trong khi
chờ đợi ra đi. Sau đó ít lâu thì anh vào chùa.
Tôi
sang Hoa Kỳ theo HO–11 vào năm 1992 còn anh hình như năm
1998 mới qua. Anh định cư tại San Diego còn tôi ở San Jose.
Hai anh em trao đổi thư từ, điện thoại thường xuyên thăm
hỏi. Lúc này anh cho biết có một số bạn bè muốn bỏ tiền ra
mua một khu đất, dựng chùa để anh trụ trì. Rồi có khi anh
tâm sự, cái nghiệp của mình còn nặng quá chắc là chưa tĩnh
tâm để làm được điều gì cho ra hồn. Bởi vì như anh thường
nói, không làm điều gì thì thôi, làm là phải làm cho tới nơi
tới chốn.
Năm 1999 anh có lên San Jose chơi và đến ở
chung nhà với một người quen ở đường Rincon. Từ đó mỗi buổi
sáng khi tôi băng qua Park Morgan đi bộ là gặp anh và anh
Khiên, người quen chung của cả hai chúng tôi. Câu chuyện lúc
nào cũng rôm rả về nhiều đề tài khác nhau. Anh bảo ước
nguyện hiện giờ của anh là anh muốn qua Úc để tìm gặp lại
gia đình và hai đứa con. Anh Khiên hứa sẽ tìm cách liên lạc
với bạn bè bên ấy để tìm địa chỉ của chị và hai cháu giúp
anh.
Bẵng đi một thời gian khá lâu, tôi không nhớ rõ
vào năm nào, hình như năm 2001 hoặc 2002 gì đó, anh bất ngờ
đến thăm tôi tại nhà. Trông anh khác hẳn. Anh gầy xọm đi và
gương mặt hốc hác. Tôi giật mình:
– “Chuyện gì đã làm
anh thất thần như thế?”
– Anh lặng buồn không nói
ngoài một câu gọn: “Moi có qua Úc rồi, vẫn không gặp được
hai đứa con.”
– Anh Khiên nói chêm vào: “Nhìn thấy bà
xã đi chợ nhưng không hỏi chuyện được. Còn con có nhìn thấy
đôi lần nhưng cũng không nói được điều gì!”
Tôi biết
câu chuyện tình cảm gia đình này đã gây cho anh một cơn
“shock” tâm lý quá nặng thành ra tôi tránh không muốn động
tới nữa. Tôi rủ anh lên khu Lion Plaza để ăn trưa và đi dạo.
Kéo anh vào nhà sách Tự Do tôi bảo anh:
– “Anh Tường
ạ, em rất kính trọng anh và không biết phải nói với anh như
thế nào. Nhưng theo em, anh vẫn thường nói với em cái gì
thuận duyên mới hết, cái gì nghịch duyên thì còn. Anh cũng
thường nói về thiền và cách cất bỏ gánh nặng trên vai của
mình để mà bước đi cho thênh thang nhẹ gánh. Giờ em mong anh
sẽ cất được gánh nặng ấy trên vai mình mà thung dung bước.”
Sau đó tôi đề nghị anh chọn một cuốn sách mà anh thích
để tôi mua tặng anh làm duyên tri ngộ. “Anh đã chọn cuốn
Dòng sông thanh tẩy của Krisnamurti”. Điều bất ngờ ấy làm
tôi nhớ lại ngày trước khi tôi lên máy bay ra đi tôi đã tặng
anh cuốn Giải trừ kiến thức cũng của tác giả này. Trước khi
chia tay, ngồi nhâm nhi ly cà phê trong lòng chợ, anh bảo
tôi:
– “Trước đây cậu hay hỏi tớ làm sao mà lận đận
quá vậy phải không?”
– Tôi cười: “Ừ, thì thấy anh
cũng vào tù ra khám cách mạng rồi từng trải kinh qua các
binh chủng khét tiếng, rồi học hành thủ khoa liên tục mà
chẳng thấy anh giữ một nhiệm vụ gì cho ra hồn thì hỏi chơi
vậy thôi.”
– Anh bảo: “Cậu có tin là con người có
cái số không?”
– Tôi bảo tôi tin.
– Anh
nói: “Hồi đảo chánh 1960, mình là sĩ quan trực Sư Đoàn
Dù, nên có chút động chạm với ông Viên. Từ đó ông ta cứ thấy
mình đâu là... đì sát ván, cũng may mà trận Bình Định ông
Thiệu gắn lon cho moi rồi gởi giấy tờ về TTM hợp thức hóa
chứ nếu không thì sức mấy!”
Qua bạn bè thân quen
với anh, tôi còn được biết trong cuộc đảo chính bất thành
năm 1960, anh và một số đồng đội bị bắt và bị giam chung
cùng một số các chính khách quốc gia khác. Chính trong dịp
này, anh chiếm được cảm tình của rất nhiều chính khách lúc
đó, đặc biệt là cựu tổng thống Phan Khắc Sửu. Năm 1963 sau
ngày cách mạng thành công, anh được tha về, cũng chính trong
thời gian này, anh được cụ Sửu mai mối và đứng ra làm chủ
hôn cho anh. Tôi bảo nếu đúng như thế thì anh xui thiệt, tôi
cũng bị đì dữ lắm nhưng may mắn là mấy ông đì tôi làm những
chức sinh sát nhỏ hơn và trớ trêu là các ông ấy thường...
tiêu trước tôi nên không kịp đì sát ván được! Cả hai anh em
cười vui vẻ. Đất nước mình nó vậy. Cuộc đời nó vậy. Bởi nếu
không thì làm gì cần đến một ông trời để chúng ta kêu mỗi
khi bất đắc ý!
Sau này tôi nhìn thấy anh trong bàn
chủ tọa của hội tập thể Cựu chiến sĩ QLVNCH chiếu trên Ti–vi
trong ngày lễ ra mắt, hình như anh ở trong ban giám sát thì
phải. Khi thấy hình ảnh anh tôi thầm nghĩ, anh chắc hẳn đã
tìm lại được nguồn vui trong hoạt động.
Bẵng đi mợt
thời gian lâu, tôi điện thoại cho anh theo số anh cho ở San
Diego nhưng chẳng ai bắt phone. Tôi để lại lời nhắn vài lần
mà cũng chẳng được anh hồi âm. Rất lâu sau đó, bỗng tôi được
phone của anh. Anh bảo tớ mới đi Việt Nam về, rồi anh khoe
anh đã trở về quê anh ở Thái Bình thăm lại bà con chú bác,
những người thân anh đã rời xa kể từ hồi 1955 khi anh đi học
sĩ quan. Giọng anh cũng u buồn khi nói tới trong thời gian
đó, anh bị “stroke” nhẹ phải nhờ bà con đưa đi chữa trị tại
bệnh viện Bạch Mai Hà Nội. Anh bảo, lúc mình ngất ngư như
vậy mà cậu em khi muốn đưa mình vào phòng cấp cứu khẩn cấp
đã phải xì ra hai chục đô mới được chấp thuận. Tôi nói với
anh chuyện đó là chuyện bình thường ở bên ấy mà, báo chí
Việt Nam cũng đăng hà rầm có gì lạ đâu. Anh Nói:
– “Điều
mình muốn nói ở đây chính là thái độ của tay bác sĩ chìa tay
ra nhận tiền của chú em mình. Hắn coi đó như là một thứ thủ
tục phải như thế, nhận một cách không xấu hổ gì cả! So ra
với cái danh trí thức mà mình vẫn thường hiểu và gắn cho
những người như hắn, chính điều ấy làm cho mình lợm giọng và
buồn thôi! Có lẽ đất nước này tiêu thật rồi!”
Bẵng đi một thời gian lâu sau đó, khi nói chuyện qua điện
thoại với anh, anh bảo tôi:
– “Tớ lại sắp đi lang
thang ngao du một thời gian, khi nào về sẽ cho cậu biết.”
Anh vẫn thế, quảng giao và chân thành, kín đáo và nhiệt
tình với bạn bè là những đức tính của anh. Anh thu mình sống
trong một nội tâm sùng sục sôi với những ước vọng mong luôn
làm đẹp cho người và chấp nhận những bi lụy cay đắng cho
riêng anh. Rồi tôi cũng nghe tin anh đã được cô con gái út
vốn là một phi công Úc, trong một dịp tu nghiệp tại Hoa Kỳ
có tìm đến thăm anh, còn cậu con trai bác sĩ thì không nghe
nói đến. Tôi tự nhủ, thôi thế cũng là một phần thưởng cho
anh lúc cuối đời. Bởi vì tôi vốn biết, các con của anh luôn
là nỗi bận tâm duy nhất của anh trong lúc này. Anh hình như
luôn cố gắng để nói với các con của mình rằng anh chẳng có
lỗi gì cả, anh luôn trân quý và thương yêu chúng còn hơn cả
bản thân anh nữa. Tổ quốc, trách nhiệm, đồng đội, và gia
đình, những ràng buộc ấy luôn giằng xé anh trong những giây
phút anh ngồi đơn độc một mình. Tôi cũng có nghe nói đến
trong những giờ phút sinh tử của Miền nam trong tháng 3/1975
khi anh từ Bình Định trở về Sài Gòn, anh được bổ sung về Sư
Đoàn 5 Bộ Binh. Tại đây anh bám sát đơn vị ngày đêm mà quên
đi một gia đình đang cần anh lo toan trong lúc xáo trộn.
Điều này khiến cho vợ anh giận dữ bất mãn và đó là lý do
khiến chị sau khi cùng hai con vượt biên sang Úc Châu đã
không còn liên lạc với anh nữa! Thực hư câu chuyện thực tình
tôi không rõ, vì như tôi đã nói, chuyện gia đình anh là một
ám ảnh không vui và tôi mỗi lần tâm sự với anh đều luôn né
tránh nhắc tới.
Ngày 3 tháng 1 vừa qua, được email
của Bùi Quyền cho biết anh bị “stroke” trở lại và ở một khu
nursing home tại Half Moon Bay. Những định sẽ có một ngày
lên thăm anh nhưng rồi bệnh thấp khớp hành liên tục, lái xe
đi xa không được nên cũng chưa có dịp, trong lòng cứ áy náy
mãi. Hôm qua ngày 5 lại được mail của Phạm Tín An Ninh cho
biết anh đang nằm ở Burn center phòng 3 lầu 4 bệnh viện
Bascom. Hai vợ chồng tôi vội đến thăm anh ngay.
Nhìn
anh nằm bất động trên giường, đôi mắt nhắm nghiền như chìm
trong giấc ngủ say. Ngoài một nùi những dây nhợ giăng mắc
khắp người là một ống hơi oxygen ngậm trong miệng. Anh thở
dốc như một người đang leo đèo. Chiếc máy “monitor” theo dõi
nhịp tim và mạch đập yếu ớt lên xuống. Vẫn khuôn mặt đầy đặn
và cương nghị. Anh như đang cố vượt qua ngọn núi cuối cùng
trước khi bay vào hư vô.
Nhìn anh rồi nghĩ lại những
bạn bè đồng đội của mình, những người lính chiến VNCH một
thời lăn lóc trên các chiến trường. Những cống hiến cho đất
nước và dân tộc một thời chưa đủ xa để trôi vào lãng quên.
Nhìn anh đang nằm đây một mình, rất cô đơn nhưng bình thản,
bỗng dưng tôi thấy lòng chùng xuống, xót xa. Hào quang của
một đời sống hùng sống đẹp vẫn không thể soi tỏa hết những
bóng đen bi lụy của kiếp nhân sinh phiền não. Tôi nghẹn ngào
biết là sắp phải vĩnh biệt anh, người anh tôi kính trọng và
ngưỡng mộ. Thắng bại, nhục vinh là chuyện của thế gian. Thế
hệ chúng ta đã làm tròn nghĩa vụ của mình một cách trong
sáng và hào hùng. Thế là đủ. Nhìn hình dáng anh nằm thở gấp,
nét mặt điềm tĩnh tươi tắn kia, tôi hình dung một cánh chim
bằng đang cố gắng dồn hơi lấy sức lần cuối cùng trước khi từ
đỉnh cao bay lên, bỏ lại cái giả tạm xác thân như một chiếc
áo cũ, để cho phần tinh anh còn lại bay vút lên trời. Ở trên
đó chắc chẳng còn phiền muộn vương vấn gì nữa. Chỉ toàn là
bạn bè, những người như anh đã cùng xả thân chiến đấu và dốc
lòng với dân tộc, giống nòi.
Song Vũ

Tác giả ghi chú:
[*]
Song Vũ tên thật là Ngô Văn Xuân,
cựu Trung tá Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 44/SĐ23BB QLVNCH,
Khoá 17–SQVBQG Đà Lạt.

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Những
trang liên quan
chiến trường bình định & mãnh sư nguyễn mạnh tường
đại bàng gẫy cánh
vành khăn tang cho đại tá nguyễn mạnh tường


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail chuyển
Đăng ngày Thứ Bảy, January 15, 2011
Cập nhật ngày Thứ Bảy, October 18/2025 – đổi sang hệ thống bootstrap framework 5.x
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH