

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tham luận
Chủ đề:
tự do
Tác giả: Trần Xuân Thời

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
AI Overview
📌 You sent analysis on "The Nature of Liberalism," referencing Divine Law and John Locke.
📌 The document discusses Divine Law as the foundation for Western democracy and natural rights.
📌 It focuses on Locke's natural rights: life, liberty (not license), and property via labor theory.
By Gemini
Nền Giáo dục của Quốc gia Việt Nam
(1945–1955) và Viêt Nam Công Hoà (1955–1975) chú trọng đến
kiến thức "nghề nghiệp, kỹ thuật" cái gọi là "Tây
phương hoá" kiến thức và nhẹ về giáo dục "Ý thức hệ"
để chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa vô thần cộng sản
trong cuộc chiến lâu dài chống sự bành trướng của cộng sản.
Đó cũng là sự thất bại của giai cấp quản trị nền giáo dục VN
trong giai đoạn lịch sử này.
*****
Thiên Luật
là cơ sở nền tảng của nền dân chủ và tự do, vì Thiên luật
nhấn mạnh các quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm vốn có
của con người và quy định trật tự đạo đức chi phối hành vi
con người. "Thiên luật thể hiện qua các ý niệm và nguyên
tắc bảo vệ công lý, nhân quyền, để bảo tồn sinh mạng của
nhân loại chống lại những kẻ chủ trương duy vật mạnh được
yếu thua, độc tài đảng trị". Nhân luật để duy trì an
ninh, trật tự. "Natural law teaches us the necessity of
self–preservation. Law and government are required if we are
to protect order and security".
1. Thiên luật
đã là một trụ cột của triết học chính trị Tây phương, ảnh
hưởng đến sự phát triển của các nguyên tắc dân chủ và việc
thành lập các hệ thống pháp luật. Thiên luật khẳng định rằng
một số quyền và giá trị đạo đức vốn có đối với con người và
có thể được hiểu một cách phổ quát, độc lập với các đạo luật
hoặc chuẩn mực xã hội do chính quyển ban hành. Nguyên tắc
này đã là nguyên động lực thúc đẩy cuộc Cách mạng Hoa Kỳ năm
1776 và việc hình thành Hiến pháp Hoa Kỳ, nhằm bảo vệ và bảo
đảm các quyền tự nhiên đã tồn tại từ khi con người mới sinh
ra. Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Nhân quyền là những văn
kiện quan trọng phản ánh sự công nhận và bảo vệ những quyền
tự nhiên này trong khuôn khổ luật pháp trị quốc, an dân của
Hoa Kỳ và các nước Tây Phương, được gọi chung là nền Văn
Minh Thiên Chúa Giáo.
Thiên luật hiện hữu để duy trì
trật tự luân lý của vũ trụ (moral order of the universe), sự
trường tồn của nhân thế và những gì tốt đẹp nhất cho nhân
loại. "Natural law teaches us the necessity of
self–preservation and promotes what is really good for human
persons"
2. "Ý tưởng về trật tự đạo đức trong
vũ trụ (moral order of the universe) là ý tưởng vũ
trụ được sắp xếp bởi một Đấng có quyền năng với những cảm
xúc vô hình về điều thiện và điều ác, hay một thế lực đạo
đức. Trật tự này có thể thúc đẩy hành động và có hậu quả đối
với cá nhân và tạo vật. Một số người nói rằng trật tự đạo
đức cũng tồn tại như các định luật vật lý, chẳng hạn như
trọng lực, và quy luật này không thể bị vi phạm mà không có
hậu quả".
"The idea of a moral order in the universe
is the idea that the universe is ordered by a higher power,
invisible feelings of good and bad, or a moral force. This
order can motivate actions and have consequences for
individuals and others. Some say that the moral order is as
abiding as physical laws, such as gravity, and that it
cannot be disobeyed without consequences" (Principia)
3. Từ thế kỷ thứ 7, 6 trước Công nguyên,
trước khi quý vị chí tôn như Đức Thích Ca, Lão Tử, Khổng
Tử... ra đời, nhân luật (man–made law) của Hy Lạp chịu ảnh
hưởng của Thiên luật, còn gọi là luật Định mệnh chi phối
toàn diện sinh hoạt của con người."The power of fate that
controls everything." Thế thượng thường tình, Nguyễn Du tiên
sinh, sau khi thể hiện tư tưởng Nho, Thích, Lão về thân phận
của nhân vật Thuý Kiều, đã tóm lược "Chung cục thì chỉ cũng
tại Trời"! hay:
"Ngẫm thay muôn sự tại Trời.
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải
phong trần.
Cho thanh cao mới được phần thanh cao."
Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên, trong nhạc phẩm "Trăng
Mờ Bên Suối" cũng đã liên tưởng đến Cao xanh:
"Một ngày xa nhau xóa bao hình bóng.
Trời bày
chia ly chi cho lòng héo?"
4. Thiên
luật, vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, tương
đồng với luật hợp với lý trí, hợp với lương tri, những luật
không hợp với lương tri được xem như vô hiệu. "Law did not
conform to reason may be regarded as invalid." Sau đó, Thiên
luật đã được Marcus Tullius Cicero, Luật gia, Thượng Nghị Sĩ
La Mã, triều đại Hoàng Đế Caesar, sinh năm 106 và qua đời
năm 43 trước Công nguyên, minh định Thiên luật (natural law)
gồm các đặc điểm:
"Thiên luật hợp với lẽ phải Tự
nhiên: Thiên luật có tính ứng dụng phổ quát, không thay đổi
và có tính cách vĩnh viễn. Việc cố gắng thay đổi luật này là
tội lỗi, cũng không được phép cố gắng kháng cáo bất kỳ phần
nào trong đó và không thể bãi bỏ nó hoàn toàn. Thượng Đế là
tác giả của luật này, Người ban hành và là phán quan giám
định sự thi hành luật".
"True law is right in
agreement with Nature: It is of universal application,
unchanging and everlasting... It is a sin to try to alter
this law, nor is it allowable to attempt to repeal any part
of it, and it is impossible to abolish it entirely... God is
the author of this law, its promulgator, and its enforcing
judge."
5. Thánh Augustine (354–430), sau
Công nguyên, quan niệm quốc gia mà không có công lý
không phải là một quốc gia, mà chỉ là những nhóm gian nhân
hợp đảng. "What are states without justice, but robber bands
enlarged". Nhận xét này ứng nghiệm với các xã hội do cộng
sản cầm quyền hiện nay như Trung cộng, Việt cộng, Lào, Hàn
cộng, và Cuba.
6. Về phương diện xã ước
(social contract), chính quyền phải thể hiện ý chí
chung của nhân dân qua các cuộc bầu cử tự do, chứ không thể
áp dụng luật lệ trái với nguyện vọng của nhân dân, hay yêu
điều dân ghét và ghét điều dân yêu. "Only with his consent
be he subject to the political power of another." Đức Khổng
Tử (551–479), hơn 2500 năm trước, đã giảng cho sĩ tử "Hà
chính mãnh ư hổ" (Lễ ký), chính sách hà khắc độc ác hơn cọp
dữ – "Remember this, my children: Oppressive government is
more terrible than tigers". "Hà chính mãnh ư hổ" đã có lần
được TT Ngô Đình Diệm chọn làm đề thi luận văn nhập học cho
sinh viên thi nhập học Học viện Quốc Gia Hành Chánh VNCH.
"Good public administrator wins the people over by his
virtuous behaviour and concern for their welfare rather than
by force". Người cai trị được dân chúng tuân phục nhờ phong
cách cai trị nhân đạo lo cho sự sống hạnh phúc của toàn dân
thay vì áp bức bằng lưỡi lê, đầu súng.
7.
Điều 1 bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được Liên Hiệp Quốc
ban hành năm 1948 đã ấn định: "Mọi người sinh
ra đều được tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi. Họ
được Tạo Hoá ban cho lý trí và lương tâm và phải đối xử với
nhau trong tinh thần huynh đệ." "All human beings are
born free and equal in dignity and rights. They are endowed
with reason and conscience and should act towards one
another in a spirit of brotherhood".
8. Thiên
luật là công lý mà Tạo Hoá ban cho nhân loại nhằm
mục đích hướng đạo nhân thế sống theo nguyên tắc lương
thiện, không gây tác hại cho người khác và tôn trọng quyền
lợi của mỗi người. "Justice is to live honestly, not to
injure others and to give everyone his due". Tôn trọng quyền
lợi của nhân thế là nguyên tắc chung hướng dẫn sự hình thành
luật lệ của các bộ lạc, các quốc gia từ cổ chí kim.
9. Luật La Mã, nhất là bộ luật canh cải
"Corpus Juris Civilis" từ thời Hoàng Đế Justinian (482–565),
vẫn được đề cập mỗi khi bàn về cổ luật. "It is a vital
pillar of modern law in many European nations, and
influential in other countries", với lời mở đầu: "Chúng tôi
đã quyết định, với ơn trợ giúp của Thiên Chúa, thực hiện một
món quà, vì lợi ích chung, những gì mà nhiều vị hoàng đế
trong quá khứ cho là cần được cải thiện, nhưng không ai
trong số họ, trong thời gian đó, dám thực hiện". "We have
determined, with the help of God, now to make a present, for
the common good, of what appeared to many past emperors to
require improvement, but which none of them, in the
meantime, ventured to put into effect".
10.
Luật Anh quốc nhận lãnh thẩm quyền từ Thiên luật.
"English law derives its authority from natural law". (Sir
William Blackstone (1723–1780). Công pháp quốc tế đặt căn
bản trên Thiên luật. "Public international law is purported
to be founded on natural law" (Hugo de Groot (1583–1645).
Rất lâu trước khi các hiến pháp được soạn thảo hoặc các
nghị viện được triệu tập, triết gia người Anh John Locke lập
luận rằng mỗi người đã mang trong mình một thứ quyền năng
mạnh mẽ: một tập hợp các quyền mà không vị vua, chính phủ
hay đa số nào có thể hợp pháp tước đi. Từ thế kỷ 17 đầy biến
động, Locke, hoằng dương Thiên luật nhấn mạnh rằng chúng ta
sinh ra đã có những quyền Tự nhiên (natural rights)– quyền
sống, quyền tự do, và quyền sở hữu – những quyền tồn tại bất
kể bất kỳ nhà cai trị nào dù có chọn thừa nhận hay không. Ý
tưởng đơn giản này đã tiếp tục hình thành các hiến pháp dân
chủ, các cuộc cách mạng và bản chất của chủ nghĩa tự do hiện
đại. Vậy những quyền tự nhiên này thực chất là gì, chúng
xuất phát từ đâu, và tại sao chúng vẫn quan trọng? Hãy cùng
phân tích lập luận của Locke từng bước một.
11. Quyền tự nhiên (natural rights) là những quyền
mà Tạo Hoá ban mỗi cá nhân được hưởng chỉ vì họ là con
người. Các quyền bất khả xâm phạm này không phải được trao
bởi chính phủ, hiến chương hay bất kỳ văn kiện pháp lý nào.
Thay vào đó, chúng tồn tại trước khi bất kỳ cơ quan chính
trị nào được thiết lập. Locke gọi chúng là "tự nhiên" chính
xác bởi vì chúng phát sinh từ đấng Tạo Hoá, ban cho con
người, là bản chất của con người trong trật tự thiên nhiên,
chứ không phải từ quyết định của nhà nước.
Theo
Locke, tất cả mọi người khi sinh ra đều có những quyền không
thể bị tước đoạt và không ai có thể tước quyền đó một cách
hợp pháp hoặc tự nguyện từ bỏ. Ba quyền mà ông nhấn mạnh
nhất là quyền sống, quyền tự do, và quyền sở hữu tài sản.
Bởi vì những quyền này tồn tại trước khi có chính phủ, Locke
mô tả chúng là tiền chính trị (pre political) trước khi các
định chế chính trị ra đời. Chính phủ có thể bảo vệ hoặc vi
phạm chúng, nhưng không thể là cơ quan tạo ra chúng. Locke
dựa những quyền này trên Thiên luật hay luật tự nhiên – một
tập hợp các nguyên tắc đạo đức phổ quát chi phối hành vi con
người ở khắp mọi nơi. Luật này có thể được khám phá thông
qua lý trí của con người: Lý trí dạy rằng không ai được làm
hại đến tính mạng, tự do hoặc tài sản của người khác vì tất
cả mọi người đều bình đẳng và độc lập.
Locke lập luận
rằng con người là tạo vật của một Đấng Tạo Hoá toàn năng và,
theo nghĩa nào đó, thuộc về Thượng Đế. Bởi vì chúng ta là
"tác phẩm" của Thượng Đế, được ban xuống thế giới với một
mục đích, không ai có quyền hủy hoại người khác hoặc coi họ
như tài sản. Quyền được sống, do đó, đi kèm với một nghĩa vụ
tương ứng: cũng như bạn có quyền không bị tổn hại, bạn có
nghĩa vụ tôn trọng quyền đó ở mọi người khác. Quyền tự nhiên
và nghĩa vụ tự nhiên là hai mặt của cùng một vấn đề.
(1) Quyền sống (The right to life): Quyền được sống
là quyền cơ bản nhất trong ba quyền, tạo nền tảng cho tất cả
các quyền khác. Locke cho rằng việc bảo tồn nhân loại là
nguyên tắc cơ bản nhất của Thiên luật. Từ đó, mỗi cá nhân
vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ bảo vệ mạng sống của chính
mình, và không ai có thẩm quyền tước đoạt mạng sống của
người khác một cách tùy tiện. Tuy nhiên, có một giới hạn
quan trọng. Locke lập luận rằng một kẻ giết người về thực
chất đã từ bỏ quyền được sống của chính họ vì họ đã đứng
ngoài luật lý trí. Nói cách khác, những người vi phạm quyền
tự nhiên của người khác không thể yêu cầu được bảo vệ hoàn
toàn bởi những quyền đó. Ý tưởng này vẫn còn hiện hữu trong
các hệ thống pháp luật hiện đại, nơi việc bảo vệ mạng sống
con người nằm ở trung tâm của luật hình sự." Giết người đền
mạng".
(2) Quyền được tự do (The right to
liberty): Tự do, theo Locke, là quyền tự do hành động
theo ý muốn của chính mình. Nhưng quyền tự do này không phải
là vô hạn. Nó bị giới hạn bởi quyền tự do bình đẳng của
người khác. Locke rõ ràng cho rằng mỗi cá nhân nên được tự
do lựa chọn cách sống của mình, miễn là họ không can thiệp
vào quyền tự do của người khác. Đây là một sự phân biệt quan
trọng. Locke tách riêng tự do khỏi sự tùy tiện. Tự do có
nghĩa là quyền tự do trong phạm vi của Thiên luật; còn sự
tùy tiện có nghĩa là làm bất cứ điều gì mình muốn bất kể gây
hại cho người khác (tuỳ tiện là license to do wrong, như chủ
trương vô nhân đạo của Chủ nghĩa Cộng sản. Muốn giết ai thì
giết, muốn cướp đoạt ta tài sản thì cứ cướp. Sau khi xâm
lăng Miền Nam năm 1975, cộng sản chuyển chở hàng triệu tấn
tài sản của nhân dân Miền Nam ra Bắc). Một cách hữu ích để
hình dung ranh giới này là nguyên tắc rằng quyền tự do hành
động của bạn kết thúc ở điểm mà nó bắt đầu làm tổn hại đến
quyền của người khác. Quan niệm này bảo đảm rằng tự do cá
nhân không dẫn đến hỗn loạn, mà thay vào đó tồn tại cùng
quyền tự do của mọi người khác.
(3) Quyền sở hữu
tài sản (The right to property): Quyền sở hữu là lập
luận đặc biệt của Locke. Ông bắt đầu với một vấn nạn: nếu
trái đất được trao cho tất cả nhân loại, làm thế nào một
người nào đó có thể đúng đắn tuyên bố một phần của trái đất
là của riêng mình? Câu trả lời của ông là lý thuyết lao động
nổi tiếng về sở hữu. Locke lập luận rằng: (1) mỗi người sở
hữu cơ thể của chính mình và do đó. (2) sở hữu lao động mà
cơ thể họ thực hiện. Khi một cá nhân kết hợp lao động của
mình với một thứ sản vật từ thiên nhiên – cày ruộng, thu
hoạch trái cây, lấy nước, buôn bán – họ đã gắn một phần công
lao của mình vào đó. Hành động kết hợp lao động đó biến tài
nguyên chung thành tài sản riêng. Locke không ủng hộ việc
tích lũy vô giới hạn. Ông gắn kèm các điều kiện quan trọng,
thường được tóm tắt là "điều kiện Lockean." Một người chỉ có
thể chiếm hữu tài sản miễn là còn dành đủ và chất lượng
tương tự, cho người khác. Ông cũng bổ sung một giới hạn về
sự tham lam, phí phạm hư hỏng: người ta không nên lấy nhiều
hơn nhu cầu, những gì có thể sử dụng trước khi nó hỏng.
Những hạn chế này được thiết kế để giữ việc chiếm hữu tài
sản được công bằng.
12. Bản Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền, (Universal Declaration of Human
Rights) do Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1948, được hơn 190
quốc gia công nhận, cũng được soạn thảo đặt căn bản trên
Thiên luật. Phúc cho những quốc gia hưởng ứng ý niệm "Thuận
Thiên giả tồn" nhờ đó mà dân chúng được sống trong tự do.
Vấn đề đặt ra không cần phải chứng minh Thiên mệnh như
quan niệm của cộng sản hay một số khoa học gia vô thần, vì
họ kiêu căng muốn thay quyền Tạo Hoá. Đa số đảng viên CS trí
tuệ nhỏ hơn hạt cải mà cứ tưởng mình là "đỉnh cao trí tuệ"
và kết quả là đảng nói chi nghe nấy. May thay "mưu sự tại
nhân, thành sự tại Thiên". Sau một thời gian chiếm gần ½ thế
giới từ 1950. Sau 1990 thế giới cộng sản bị thu hẹp lại chỉ
còn 5 nước nghèo đói, lạc hậu như Cuba, Bắc Hàn, Lào, Việt
Nam, và Trung cộng.
Nếu thế giới tự do, nhất là Hoa
Kỳ không mở rộng thương trường cho thế giới cộng sản thì
liệu Trung cộng có được trỗi dậy về kinh tế như hiện nay.
Điều đó chứng tỏ chế độ tư bản đã thành công và chế độ cộng
sản chỉ là gây tai hoạ cho nhân loại: Việt Nam miệng thì
chống Mỹ cứu nước nhưng nếu Mỹ không bãi bỏ cấm vận, mở cửa
cho thương nhân Mỹ mở công ty sản xuất thì nhân dân thất
nghiệp, trở lại tình trạng khốn khổ của những năm 1975–1990?
Cộng sản là những kẻ vong ân, bội nghĩa, gian trá, vô luân
thường đạo lý, ăn cháo đá bát, vì tư lợi của bè đảng mà quên
đi quyền lợi quốc gia dân tộc hơn 4000 năm văn hiến.
13. Thiên mệnh âm thầm điều hướng đời sống của nhân
loại, nhờ đó đa số các quốc gia đồng tâm nhất chí
"tôn trọng nhân quyền" để duy trì tinh thần dân chủ, duy trì
sự trường tồn của nhân loại chống lại những thế lực âm mưu
diệt chủng như Chủ nghĩa Cộng sản quốc tế đã sát hại gần hai
trăm triệu sinh linh trong suốt 100 năm qua.
Từ thuở tạo thiên lập địa, từ Đông chí Tây, từ Nam
chí Bắc, đa số nhân thế đã tin vào một Đấng Tạo Hoá toàn
năng, vô thủy vô chung, là đệ nhất Tác Nhân, (First
Cause/Agent) tạo nên muôn loài và vũ trụ. Thánh Thomas
Aquino, thế kỷ thứ 13, qua sách Tổng Luận về Thần học –
Summa Theologiae – đã minh định: Tạo Hoá đã ẩn tàng trong
tâm hồn của nhân thế.
"Tạo Hoá nội tại
ở trong vạn vật và trong nội tâm hay lương tri của mỗi người
nên trên bình diện tự nhiên, Đấng Tạo Hoá đã hiện hữu trong
tâm trí họ rồi". "The immanent creator is in all things and
in the inner self or conscience of each person, so on the
natural level, the creator already exists in their minds."
14. Nhân thế đã viện dẫn Thiên luật qua hình
thức bảo vệ "Dân quyền và Nhân quyền" làm nguyên động lực,
đối kháng với các chính quyền độc tài như cuộc cách mạng
Pháp, với bản tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền
"Déclaration des droits de l'homme et du citoyen" ngày 26
tháng 8 năm 1789. Trước đó cuộc cách mạng tại Hoa Kỳ, nhằm
tranh đấu cho nhân quyền là quyền tự nhiên mà Tạo Hoá đã ban
cho nhân loại được tuyên xưng trọng thể trong lời mở đầu của
bản Tuyên Ngôn Độc Lập. "Declaration of Independence of
1776", ngày 4 tháng 7 năm 1776:
"Chúng tôi khẳng
định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình
đẳng, rằng Tạo Hoá đã ban cho họ những Quyền tất yếu và bất
khả xâm phạm, rằng trong đó có quyền sống, quyền được Tự do,
và mưu cầu Hạnh phúc – Rằng để bảo đảm cho những quyền lợi
này, các Chính phủ được lập ra trong Nhân dân và có được
những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân
dân – Rằng bất cứ khi nào một Thể chế Chính quyền nào đó phá
vỡ những mục tiêu này, thì Nhân dân có Quyền thay đổi hoặc
loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt
trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi
quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối
với an ninh và hạnh phúc của họ". Thiên luật vì
vậy là bản chất của chủ nghĩa tự do (liberalism) mà nhân
loại của trên 190 quốc gia đang thụ hưởng.
"We
hold these truths to be self–evident, that all men are
created equal, that they are endowed by their Creator with
certain unalienable Rights, that among these are Life,
Liberty and the pursuit of Happiness. – That to secure these
rights, Governments are instituted among Men, deriving their
just powers from the consent of the governed, – That
whenever any Form of Government becomes destructive of these
ends, it is the Right of the People to alter or to abolish
it, and to institute new Government, laying its foundation
on such principles and organizing its powers in such form,
as to them shall seem most likely to effect their Safety and
Happiness".
15. Để hiểu được điều làm
cho quyền tự nhiên của Locke trở nên đặc biệt, việc
so sánh ông với Thomas Hobbes, một nhà tư tưởng hợp đồng xã
hội (social contract) quan trọng khác, sẽ hữu ích. Cả hai
đều bắt đầu lý thuyết chính trị của mình bằng cách tưởng
tượng một xã hội trong "trạng thái tự nhiên" – một điều kiện
của cuộc sống trước khi chính phủ tồn tại.
(1)
Đối với Hobbes (1588–1679) trạng thái tự nhiên là một
"cuộc chiến của tất cả chống lại tất cả" (war of every man
against every man) tăm tối, nơi mà mỗi cá nhân đều có quyền
tự nhiên gần như vô hạn đối với mọi thứ, bất kể lợi ích của
người khác. Trong bối cảnh hỗn loạn này, lực lượng thúc đẩy
duy nhất thực sự là tự sinh tồn, và cuộc sống nổi tiếng là
"cô đơn, nghèo nàn, tàn nhẫn, hung bạo, và ngắn ngủi".
Hobbes trải nghiệm cuộc khủng hoảng tại Anh Quốc từ năm 1642
đến 1679 gồm 3 cuộc nội chiến với sinh mạng của vua Charles
I nên có quan niệm bi quan về nhân thế.
Karl
Marx (1818–1883), hơn 300 năm sau, chịu ảnh hưởng
của Hobbes chủ trương chính quyền phải do giới công nhân năm
giữ với toàn quyền hành động, cái gọi là "chuyên chế vô sản"
(proletariat dictatorship) vì "lịch sử thế giới là lịch sử
giai cấp đấu tranh". Karl Marx chịu thêm ảnh hưởng bởi cuộc
Cách mạng Kỹ nghệ tại Âu Châu trong thế kỷ thứ 18 mà Karl
Marx là một nạn nhân, sống nghèo khổ tại ngoại ô Luân Đôn.
Then chốt. Hobbes và Karl Marx trao cho các cá nhân một
quyền rộng lớn, gần như không giới hạn để làm bất cứ điều gì
cần thiết cho sự sống còn, gần với quan niệm "người là chó
sói đối với người" (man is a wolf to man). Quân đội và nhân
dân Miền Bắc bị nhồi sọ, hận thù quân đội và nhân dân Miền
Nam và quyết tâm sát phạt không khoan nhượng như thái độ
cướp của, giết người của đoàn quân CS Bắc Việt xâm lăng VNCH
năm 1975.
(2) Locke nhìn nhận mọi việc rất khác.
Ông tin rằng trạng thái tự nhiên được điều chỉnh bởi nhân
nghĩa, đạo đức, lương tâm thể hiện qua Thiên luật hay luật
tự nhiên. Nhờ đó có sự hòa ái giữa người với người trong
tinh thần tôn trọng tình nhân loại, tôn trọng Thiên luật ban
cho nhân loại tự do, bình đẳng, và có nghĩa vụ tôn trọng
quyền sống, tự do và tài sản của nhau.
Ngược lại với
Thomas Hobbes trao cho các cá nhân một quyền rộng lớn, gần
như không giới hạn để làm bất cứ điều gì cần thiết cho sự
sống còn, Locke quan niệm các quyền tự nhiên bị giới hạn bởi
quyền của người khác. Tự do của bạn là thực sự, nhưng nó
dừng lại khi nó có thể xâm phạm đến sinh mạng, tự do hoặc
tài sản của người khác. Sự tương phản này có những hệ quả to
lớn đối với loại chính phủ mà mỗi triết gia biện minh.
Hobbes kết luận rằng con người phải từ bỏ quyền của mình cho
một chủ quyền tuyệt đối – sau này Karl Marx cũng chủ trương
một chính quyền vô sản chuyên chế. như chính quyền của các
chế độ cộng sản Cuba, Việt Nam, Lào, Bắc Hàn, và Trung cộng
ngày nay.
16. Những quyền do Tạo Hoá ban cho
nhân loại hay quyền tự nhiên không phải chỉ là một tuyên bố
đạo đức trừu tượng. Theo Locke là trạng thái tự
nhiên, mặc dù về nguyên tắc là hòa bình, nhưng gặp phải
những vấn đề thực tế nghiêm trọng. Không có thẩm phán công
bằng để giải quyết tranh chấp, không có quyền lực chung để
giải thích luật tự nhiên một cách nhất quán, và không có
quyền lực đáng tin cậy để thực thi nó. Khi hai người không
đồng ý về việc một quyền có bị vi phạm hay không, mỗi người
có xu hướng phán xét theo lợi ích của mình. Kết quả là, ngay
cả những bất đồng trung thực cũng có thể dẫn đến xung đột,
và người mạnh có thể lợi dụng người yếu. Để giải quyết vấn
đề này, các cá nhân đồng ý thành lập một quốc gia chung bằng
sự đồng thuận, thiết lập một quyền lực công bằng có khả năng
giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của họ một cách an
toàn hơn. Thỏa thuận này là hợp đồng xã hội hay xã ước
(social contract).
17. Ý niệm về sự giới hạn
của chính quyền và quyền phản đối.
Ý niệm
giới hạn chính quyền và quyền nhân dân được phản đối thể
hiện sự tài tình trong khuôn khổ của Locke. Bởi vì con người
tham gia vào hợp đồng đặc biệt để bảo vệ các quyền tự nhiên
của họ, quyền lực của chính phủ là có điều kiện và giới hạn.
Locke cho rằng nghĩa vụ tuân theo chính quyền dân sự phụ
thuộc vào việc chính quyền đó bảo vệ các quyền tự nhiên của
mỗi người, bao gồm cả quyền sở hữu tư nhân.
Nếu một
chính phủ trở nên độc đoán và bắt đầu vi phạm chính những
quyền mà nó được tạo ra để bảo vệ, nó sẽ phá vỡ hợp đồng.
Khi đó, Locke cho rằng, người dân vẫn giữ quyền kháng cự và
thậm chí thay thế chính phủ đó. Locke đã xây dựng quyền cách
mạng trực tiếp vào lý thuyết của mình. Chính phủ là người
phục vụ quyền lợi của người dân, không phải là chủ nhân của
họ.
Gần với quan niệm của Hobbes: con người về bản
chất là sinh vật cô lập và độc lập, và không có nghĩa vụ đối
với nhau. Karl Marx chủ trương sự tuân phục tuyệt đối của
toàn dân đối với chính quyền bằng phương pháp đàn áp, tù tội
hay sát hại những kẻ bất đồng chính kiến, "hay phản động".
Biết bao người Việt vô tội đã bị sát hại khi bị nghi ngờ là
"phản động" khi mặt trận Việt Minh (sau 1950 gọi là Việt
cộng) hoành hành ở Việt Nam từ sau năm 1945.
Những ý
tưởng của Locke không chỉ gói gọn trong nước Anh thế kỷ 17.
Lập luận của ông rằng quyền về sự sống, tự do, và tài sản
tồn tại trước khi thành lập một chính quyền dân sự đã ảnh
hưởng sâu sắc đến Cách mạng Hoa Kỳ năm 1776 và truyền thống
rộng lớn hơn của chủ nghĩa tự do trên toàn thế giới hiện
nay. John Locke là một trong những người sáng lập triết lý
chính trị "tự do", triết lý về quyền cá nhân và chính phủ
giới hạn. Đây là triết lý mà Hiến pháp Hoa Kỳ và tất cả các
hệ thống chính trị phương Tây hiện nay. Trong tác phẩm thứ
hai Luận về Chính quyền (Locke, Second Treatise of
Government) ông đặt căn bản trên luật tự nhiên để làm nền
tảng cho triết lý của mình.
Locke ủng hộ xã ước hay
hợp đồng xã hội và chính quyền dựa trên sự đồng thuận. Chính
phủ phải tôn trọng quyền của cá nhân. Công thức của Locke về
chính phủ hạn chế đã truyền cảm hứng cho các Nhà lập quốc
Hoa Kỳ. Các Nhà lập quốc, trong Tuyên ngôn Độc lập, nói về
cả quyền tự nhiên và luật tự nhiên. Ông khẳng định rằng con
người trong trạng thái tự nhiên là tự do và bình đẳng, và có
quyền làm theo ý muốn của mình – nhưng chỉ "trong giới hạn
của luật tự nhiên". Nghĩa là tôn trọng quyền lợi của toàn
dân, chứ không phải quyền lợi của giới cầm quyền độc đoán
như trong các chế độ độc tài.
Chúng ta thường nghĩ
quyền cá nhân đi kèm với trách nhiệm tôn trọng quyền của
người khác. Lập luận của Locke gợi ý rằng trách nhiệm này
dựa trên nghĩa vụ và luật tự nhiên làm cơ sở cho đạo đức.
Ông nói rằng cá nhân chỉ có nghĩa vụ tôn trọng quyền của
người khác khi "sự tồn tại của chính mình không bị đối lập."
Nếu mạng sống của tôi bị đe dọa, tôi không cần tôn trọng
quyền của bất kỳ ai khác, tôi có thể làm bất cứ điều gì cần
thiết để bảo vệ bản thân: Đó là Quyền tự vệ hay quyền chống
chế độ sự hà khắc, phản dân chủ của chính quyền độc tài đảng
trị.
Locke tin vào một mức độ nghĩa vụ tự nhiên để
tôn trọng quyền của người khác. Tương tự, đối với những
người xem Locke là một nhà tư tưởng luật tự nhiên. Locke nói
Chúa là nguồn gốc của luật tự nhiên.
18. Một
hệ thống tự do như của chúng ta bảo vệ quyền cá nhân,
nhưng sự bền vững của nó phụ thuộc vào việc mọi người thực
hiện những quyền đó một cách có trách nhiệm. Tiên trách kỷ
hậu trách nhân. Tuy chúng ta đã lâm nạn, lui binh khi chưa
hoàn thành sứ mệnh bảo quốc an dân. Một em bé té xuống, vẫn
biết kiên trì đứng dậy mà đi, huống chi chúng ta. Nhân kỷ
niệm ngày Quân lực 19/6/2026, Dân–Quân–Can Chính VNCH hải
ngoại và quốc nội quyết tâm đứng lên đòi lại công đạo, muôn
người như một, tái lập tự do, dân chủ cho Việt Nam. "Lui
binh không phải thất bại. Thất bại là lui binh mà không
chuẩn bị ngày Đông sơn tái khởi – Falling down is not
failure. Failure comes when you stay where you have fallen"
(Socrates).
Chính phủ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
quan niệm chính thể tự do, dân chủ là chính thể lý tưởng cho
toàn dân Việt Nam và đang vận động quốc tế thi hành Hiệp
Định Ba Lê mà CS Bắc Việt đã vi phạm nhằm tái lập tự do, dân
chủ, nhân quyền, hạnh phúc thực sự, và sự toàn vẹn lãnh thổ
cho Việt Nam. Điều 9(b) Hiệp Định Ba Lê ký ngày 27 tháng 1
năm 1973 đã quy định:
"The South Vietnam shall
decide themselves the political future of South Vietnam
through genuinely free and democratic general elections
under the international supervision – Miền Nam Việt Nam sẽ
tự quyết định thể chế chính trị cho tương lai Miền Nam Việt
Nam bằng các cuộc bầu cử thực sự tự do và dân chủ dưới sự
giám sát quốc tế".
"Đặt lại Sài Gòn tên
thành phố cũ
Kéo nhau về đoàn tụ phố phường xưa"
Xin ơn Trên phù hộ chúng ta.
Trần Xuân Thời
Văn Dĩ Tải Đạo – Truyền Nhi bất tác – Tri hành hợp nhất.

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by psxh chuyển
Đăng ngày Chúa Nhật, June 21, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH