Gia
Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tản
mạn Đời sống Mỹ
Chủ đề:
Thuế
Tác giả:
Trần Xuân Thời
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Thuế
là giá mà mỗi người có lợi tức và tài sản phải trả để được thụ hưởng
những tiện ích của đời sống văn minh. Hoa Kỳ là quốc gia có nền văn
minh cao nhất thế giới và một hệ thống thuế khóa phức tạp nhất thế
giới.
Đi lâu mới
biết đường dài, sống lâu mới biết con người phải chăng. Chưa có bộ
luật nào ở Hoa Kỳ ảnh hưởng trực tiếp và sâu rộng đến quần chúng
bằng bộ Luật Thuế Lợi Tức Nội Địa (Internal Revenue Code) của Hoa
Kỳ.
Ngoài luật
Liên Bang, 50 Tiểu bang đều có luật lệ thuế khóa riêng biệt, và
trong mỗi tiểu bang, các County, các City đều có các văn kiện lập
quy, ấn định các loại thuế, lệ phí tùy nhu cầu của mỗi địa phương.
Riêng thuế lợi tức hằng năm, khoảng 150
triệu người khai thuế lợi tức cá nhân và khoảng 8 triệu tổ chức khai
thuế lợi tức kinh doanh cho các Tiểu Bang và Liên Bang tại Hoa Kỳ.
Do đó người ta thường nói ở Hoa Kỳ có hai điều chắc chắn là mọi
người lần lượt đều phải chết và mọi người có lợi tức đều phải đóng
thuế (death & tax). Thật là chạy trời cũng không khỏi nắng.
Luật thuế khóa càng phức tạp đạo binh
“khai thuế” ở Hoa Kỳ càng đông đảo. Hàng triệu tư nhân, công ty lớn
nhỏ thuê hàng chục ngàn luật sư, kế toán gia công chứng và chuyên
viên kế toán đảm trách phần hành tài chánh và khai thuế. Vì luật lệ
thuế khóa quá phức tạp và thường được tu chỉnh để đáp ứng nhu cầu
phát triển về kinh tế, nên thường xảy ra vấn đề khai sai thuế mặc
dầu hằng năm các Bộ Thuế Khóa Tiểu Bang phối hợp với Sở Thuế Liên
Bang (Internal Revenue Service–IRS) tổ chức các khóa tu nghiệp trên
toàn quốc. Trung bình nếu cứ thanh tra 100 hồ sơ thuế, khoảng 10% hồ
sơ cần được điều chỉnh, nên đạo binh “sửa sai” của chính phủ Liên
Bang và các Tiểu bang cũng thật khổng lồ. Riêng IRS có khoảng 80
ngàn nhân viên chuyên trách về quản trị và thanh tra. Ngoài ra mỗi
tiểu bang có một bộ Thuế Vụ (Deparment of Revenue/Taxation) có từ
khoảng 200 đến 7,000 nhân viên, tùy tiểu bang lớn hay nhỏ, đặc trách
quản trị, hành thu thuế và thanh tra, chưa kể đến nhân viên chuyên
trách về các loại lệ phí ở cấp County và City...
Ngân sách nhiều
Tiểu bang và Liên bang đang trong cơn khủng hoảng thâm thụt. Số
lượng thanh tra thuế vụ càng gia tăng để hành thu và truy thu số
thuế bị thất thu. Theo ước lượng của Cơ Quan Thuế Vụ Liên Bang, thì
số thuế Liên Bang thất thu trên 100 tỷ hằng năm, và khoảng 113 tỷ
cho năm 1992. Nếu toàn dụng nhân lực thanh tra và truy thu hết số
thuế thất thu thì chỉ trong vòng 3 năm, ngân sách Liên Bang đang
thâm thụt trên 300 tỷ sẽ được quân bình! Đến nay 2015, ngân sách
Liên Bang thiếu hụt đến 18,000 tỷ Mỹ Kim. Tại mỗi Tiểu Bang số thuế
thất thu tùy tiểu bang lớn nhỏ, từ 500 triệu đến 10 tỷ hằng năm. Số
thuế thất thu ước lượng này bao gồm cả thuế lợi tức công ty
(corporate income tax) và thuế lợi tức cá nhân (individual income
tax), kể cả các loại thuế tiêu thụ khác.
Sự thất thu do nhiều nguyên nhân, hoặc vì
cá nhân, công ty áp dụng sai luật lệ hiện hành hoặc vì cố ý trốn
thuế (tax evasion). Về thuế cá nhân, phương thức trốn thuế có thể
không khai đúng số lợi tức thu được (under reporting of income),
khai gia tăng chi phí, chước giảm khấu trừ (overstatement of
deductions/exemptions), không khai thuế (failure to file a return),
hoặc khai nhưng không trả thuế...
Ví dụ về man khai: Kể từ năm 1987, để đo
lường mức độ man khai phần “personal exemptions” dành cho thân nhân
mà người thọ thuế phải chu cấp, Sở Thuế Liên Bang đã áp dụng biện
pháp buộc người khai phải ghi rõ số An Sinh Xã Hội (Social Security
number/SS#) vào hồ sơ khai thuế. Sau khi kiểm soát, IRS nhận thấy
giảm sút 7 triệu “personal exemptions” so với những năm trước. Trong
20 năm qua nhiều người đã khai gia súc như chó, mèo, chim... là
“dependents” để giảm thuế. Cũng như ngày trước ở Việt Nam, con cái
chưa sinh mà đã nộp hình, làm giấy khai sinh trước để lãnh trợ cấp.
“Sống lâu thấy lắm chuyện kỳ!” Một số người Việt cũng khai chồng, vợ
và con cái ở VN là dependents, khi hỏi đến SS# thì không có, tuy vậy
vì không có gian ý nên thường được tha thứ vì lý do nhân đạo. Có
những cặp vợ chồng ly dị, một đứa con mà khai hai nơi khác nhau. Các
trường hợp này đều bị phát hiện, và trong năm 1990, IRS truy thu
được gần 3 tỷ bạc chỉ liên quan đến khoản “personal/dependent
exemptions”.
Đa
số những người trốn thuế là những người hành nghề tự do
(self–employed) như luật sư, bác sĩ, chiêu đãi viên và những người
làm việc nhận tiền mặt (cash) không đóng thuế Social Security và
sinh sống nhờ trợ cấp an sinh (welfare), vì khai lợi tức sợ bị chấm
dứt welfare.
Trong năm 1990 IRS đã truy tố trên 2,500 phạm nhân trốn thuế trong
đó có 165 quân nhân, 82 luật sư và thẩm phán, 35 kỹ sư, 26 kế toán
viên công chứng, 18 bác sĩ, 14 cảnh sát... Có trường hợp một giáo sư
trường luật 10 năm không khai thuế, thế mới biết “tri và hành có khi
bất nhất”. Đây không phải là vấn đề thiếu hiểu biết hay kiến thức mà
là vấn đề luân lý xã hội (ethics). Thế nên Hoa Kỳ nên đặt lại vấn đề
“Tiên học lễ, hậu học văn” như Văn Lang ta đã làm trên bốn ngàn năm
văn hiến trước 1975.
Trốn thuế (tax evasion), cố ý man khai
thuế (fraudulent document), đều thuộc về hình sự, bị phạt cả tiền
lẫn tù, hoặc một trong hai hình phạt.... (Chapter 68, IRC)
Những lý do viện dẫn để biện hộ hành vi
trốn thuế cũng khá nhiều: hoặc vì không đồng ý với các chương trình
chi tiêu của chính phủ hoặc vì theo cấm kỵ của tôn giáo dựa trên
quyền tự do ngôn luận và tự do tôn giáo của Tu Chính Án I, Hiến Pháp
Hoa Kỳ. Những người trốn thuế và chống thanh tra thuế cho rằng thanh
tra, bắt xuất trình sổ sách là vi phạm Tu Chính Án thứ 4 “against
unreasonable search and seizure” hoặc “invasion of privacy”. Hoặc họ
dựa trên Tu Chính Án thứ 5 “self–incrimination”, các người này
thường nộp bản khai thuế trống (blank return) và đề “object – Fifth
Amendment right against self–incrimination”. Họ nghĩ rằng khai thuế
là “một hình thức thú tội” tự ý và có thể bị truy tố vì lời khai của
mình. Lại nữa họ cho là luật thuế bất công vi phạm “due process
clause và equal protection clause” của Tu Chính Án 5 và 14. Các
người trốn thuế cũng biện bác rằng luật buộc phải giữ sổ sách là vi
phạm khoản cấm “involuntary service” của Tu Chính Án thứ 13, hoặc vi
phạm Tu Chính Án thứ 16, vì Luật thuế không được tất cả các Tiểu
bang phê chuẩn... các luận cứ này đều bị Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ
bác khước.
Thuế
lợi tức công ty phức tạp hơn thuế lợi tức cá nhân. Có những bộ thuế
vài chục trang, cũng có bộ thuế cả ngàn trang, tùy theo mức độ kinh
doanh tại địa phương, trong phạm vi tiểu bang, (state) liên bang
(multistate) hay quốc tế (multinational). Có những đại công ty có
hằng trăm chi nhánh trên toàn thế giới, trả hằng trăm triệu tiền
thuế cho chính phủ. Ngoài thuế liên bang, các đại công ty này phải
trả cho các tiểu bang một loại thuế liên hợp quốc nội và quốc tế cho
các tiểu bang. Loại thuế này rất phức tạp và gặp nhiều chống đối.
Tiểu bang California và một số tiểu bang khác tước đây có loại thuế
liên hợp quốc tế (Worldwide Unitary Business Income Tax) đã gặp
nhiều chống đối của các công ty ngoại quốc có chi nhánh kinh doanh
tại Hoa Kỳ, khiến cho chính phủ Reagan phải lập ủy ban nghiên cứu và
đề nghị thay đổi loại thuế liên hợp quốc tế.
Một số lớn tiểu bang khác đang áp dụng
loại thuế liên hợp quốc nội (Domestic Unitary Business Income Tax)
đánh thuế trên lợi tức của công ty và chi nhánh hoạt động tại quốc
nội và quốc ngoại (multinational corporations). Thanh tra tiểu bang
về ngành thuế liên hợp này phải đi khắp các tiểu bang để thanh tra.
Thanh tra thường có hai phần, phần thứ nhất là dựa trên luật lệ hiện
hành để quyết định (unitary determination) xem thử công ty bị thanh
tra có phải đóng loại thuế liên hợp này không. Phần thứ hai là điều
chỉnh sự sai biệt theo phương pháp đánh thuế liên hợp và sự sai biệt
giữa luật thuế tiểu bang và liên bang. Ngược lại, thanh tra liên
bang thì vì IRS chia làm nhiều khu trên toàn quốc nên chỉ thanh tra
trong tiểu bang, hoặc các tiểu bang lân cận trong vùng quản hạt.
Về phương diện kỹ thuật thanh tra, thanh
tra thuế liên hợp là phần phức tạp nhất hiện nay. Nếu có sự bất đồng
ý kiến giữa quyết định của thanh tra và ý kiến của ban quản trị của
công ty, sự tranh chấp sẽ do các Bộ Thuế Tiểu Bang hoặc IRS tự giải
quyết. Nếu không đồng ý, sự tranh chấp sẽ do Tòa Án Thuế từ cấp tiểu
bang đến Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ xét xử. Ví dụ Tối Cao Pháp Viện
Hoa Kỳ đã phán xét trong vụ án Container Corporation of America v.
Franchise Tax Board, 463 us. 159 (1983), là luật California hợp hiến
và tiểu bang này có quyền đánh thuế trên lợi tức kinh doanh tại quốc
nội và quốc ngoại của công ty Container.
Luật lệ thuế hiện hành là kết tinh của hơn
200 năm lập quốc, mặc dù từ 1646 những người di dân dưới chế độ Anh
Hoàng đã bắt đầu ấn định các loại thuế. Thuế lợi tức lũy tiến
(progressive tax) đã bắt đầu ban hành từ thời Nội chiến và nguyên
tắc thuế lũy tiến được áp dụng cho đến ngày nay. Lũy tiến
(progressive) có thể hiểu là lợi tức thọ thuế (taxable income) gia
tăng thì thuế suất (tax rate) gia tăng tùy theo mức gia tăng của lợi
tức, dựa vào khả năng trả thuế của người thọ thuế.
Hai chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa có hai
quan niệm khác nhau về chính sách thuế khóa và thuế Luỹ Tiến cũng đã
chia người thọ thuế ra làm hai phe, phe Dân Chủ (Démocrat), ủng hộ
thuế lũy tiến và phe Cộng Hòa (Republican) chống đối. Họ cho rằng cố
gắng làm việc để kiếm lợi tức càng cao, thuế má càng tăng, là một
hình phạt đối với người kinh doanh. Hơn nữa thuế quá cao sẽ làm nản
chí đầu tư, do đó không khích lệ được sự phát triển kinh doanh. Phe
chống đối đã thành công yêu cầu Toà tuyên án Bộ Thuế Lợi Tức năm
1894 vi hiến (unconstitutional) vì là một loại thuế trực thu (direct
tax) nhưng không áp dụng đúng nguyên tắc do Hiến Pháp quy định
(Pollock v. Farmers Loans and Trash Co., 1895).
Tuy nhiên, đảng Dân Chủ vẫn áp lực ban
hành thuế lợi tức, nên đến năm 1909 Bộ thuế Lợi Tức lại được ban
hành. Thuế lợi tức công ty theo luật 1909 là một loại thuế gián thu
(excise tax). Thuế đánh trên đặc ân được phép lập công ty và kinh
doanh (franchise) nên không vi hiến (Flint v. Stone Tracy Co., 1911)
Hiến pháp Hoa Kỳ quy định thuế trực thu
phải được quân phân giữa các tiểu bang theo mực độ dân số. Điều
khoản này đã gây trở ngại cho vấn đề an ninh và quốc phòng. Do đó Tu
Chính Án 16, được phê chuẩn ngày 25 tháng 2 năm 1913, quy định lại
“The Congress shall have the power to lay and collect taxes on
incomes from whatever sources derived, without apportionment among
several states, and without regard to any census or enumerations”.
Chính sách thuế khóa thường được thay đổi
để hòa nhịp với chính sách của chính đảng lên nắm quyền và để đáp
ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Trong các cuộc bầu cử vừa
qua, ứng viên đảng Cộng Hòa nhất định không tăng thuế. Dân chúng Mỹ
vẫn sợ sưu cao thuế nặng nên dồn phiếu cho Đảng Cộng Hòa trong suốt
thập niên 80 và mới đây năm 2016. Thế mới biết “Khôn cũng chết, mà
dại cũng chết, biết thì sống”. Biết tâm lý quần chúng mới có thể nắm
được vận mệnh quốc gia, hầu có thể thi hành triết lý chính trị của
mình.
Bộ Thuế Nội
Điạ Hoa Kỳ (Internal Revenue Code) được tu chình dưới thời TT Reagan
năm 1986, hơn 30 năm sau, TT Trump ban hành luât “Tax Cuts and Jobs
Act” (TCJA) tu chính IRS Code ngày 22 tháng 12, 2017, có hiêu lực từ
năm 2018.
Luât
thuế TCJA giảm thuế suất cho thuế cá nhân và cho thuế lợi tức kinh
doanh, nhằm giảm bớt gánh nặng thuế khoá, gia tăng tiết kiệm để
khích lệ đầu tư. Luât TCJA giảm bớt thuế lợi túc cá nhân qua nhiều
biện pháp khác nhau nhưng vẫn áp dụng thuế luỹ tiến từ 10% đến 37%
theo mức gia tăng của lợi tức chịu thuế.
Về Thuế Kinh doanh (Corpotate Income Tax),
luật TCJA bỏ thuế luỹ tiến từ 15%. (cho lợi tức từ 0 đến 50,000);
25% (cho lợi tức từ 50,000 đến 75,000) và 35% cho lợi tức chịu thuế
trên 75,000. Luật thuế TCJA áp dụng thuế suất đồng hạng (flat rate)
21%. Nhờ thuế suất giảm, các công ty đã đem lợi tức kinh doanh tích
trữ tại ngoại quốc (repatriated earnings) về Hoa Kỳ để gia tăng
lương bổng cho nhân viên, bành trướng cơ sở kinh doanh, gia tăng sản
xuất, thu dụng nhân công, khiến tỷ số thất nghiệp giảm, tình trạng
kinh tế quốc gia khởi sắc. Khi nguòi dân có công ăn việc làm, lợi
tức gia đình gia tăng, nền kinh tế trổi dậy, mãi lực (purchase
power) gia tăng, hàng hoá được tiêu thụ nhanh chóng, phồn thịnh. dân
giàu nước mạnh.
Nhiều công ty kinh doanh lớn Hoa kỳ có hằng chục, hằng trăm công ty
chi nhánh hoạt động taị ngoại quốc. Tính đến năm 2016, tổng số lợi
tức kinh doanh tại ngoại quốc của các công ty Hoa Kỳ lến đến 2.6
ngàn tỷ Mỹ kim. Các công ty giữ số vốn tại ngoại quốc, vì nếu đem về
Mỹ sẽ bị đánh thuế quá cao (35%) nên không đem vốn về Mỹ để đầu tư.
Thêm vào đó, vì sưu cao thuế nặng nên một số lớn công ty tại Mỹ di
chuyển ra ngoại quốc đề kiếm lợi, nhờ giá nhân công rẻ và thuế suất
thấp, khiến cho nhân công ở Mỹ thất nghiệp. Ngược lại các công ty
ngoại quốc giảm đầu tư tại Hoa Kỳ vì không sinh lợi. Thật ra, thuế ở
Hoa kỳ trước đây không cao nhưng vì thuế suất các quốc gia khác giảm
theo thời gian và vấn đề cải tổ thuế phức tạp nên Hoa Kỳ đã cải tổ
thuế trong thời TT Reagan năm 1986, mãi đến hơn 30 năm sau năm 2017
TT Trump mới ban hành luật thuế mới. Tax Cuts and Job Act 2017.
Tàu Cộng, sau khi khi gia nhập WTO, từ hơn
20 năm nay, đã tung hàng hoá giá rẻ vào thị trường Mỹ khiến cho một
số doanh nghiệp Mỹ khai bankruptcy gia tăng. Đến năm 2013 trên
44,000 công ty kinh doanh Mỹ khai khánh kiệt. Tỷ số nhân công thất
nghiệp gia tăng. Số hàng hoá Mỹ xuất cảng thấp và hàng nhập cảng quá
cao, sai biệt đến 532 tỷ Mỹ Kim.
Trước tình trạng khó khăn như vậy, nếu
chính quyền TT Trump không “nội công, ngoại kích” Hoa Kỳ sẽ chết vì
Tầu cộng (death by China). Tàu Cộng đang thực hiện dự án bá chủ hoàn
cấu, một vành đai, một con đường, mưu đồ chiếm cứ hải đảo, kiểm soát
biển đông, gây trở ngại cho hành trình giao thông, hàng hải quốc tế
với kế hoạch 2025. Tàu cộng đang mở rộng thương trường qua Phi Châu,
Úc Châu, Âu Châu, Mỹ Châu và các nước lân bang, nhất là các nuớc
chậm tiến, nhằm khai thác khoáng chất, dầu hoả, khí đốt, dùng bẫy nợ
để chíếm cứ đất đai ở Campuchia, Phi Châu....
Trong cuộc tranh cử 2016, đảng CH chủ
trương “Make America Great Again”. Chủ trương dân tuý, tăng cường
sức mạnh nội bộ Hoa Kỳ và ảnh hưởng trên chính trường quốc tế về
quân sự, chính trị, tài chánh, ngoại giao; kết hiệp với các quốc gia
đồng minh chống kế hoạch bành trướng của Tàu Cộng.
Hai giới thọ thuế chính hiện nay là công
ty kinh doanh và công dân có lợi tức. Cứ mỗi lần cải tổ thuế khoá,
hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ thường phải cân nhắc kỹ lưỡng đối tượng
tăng thuế hay giảm thuế: Tăng thuế trên lợi tức cá nhân (Individual
income tax), giới tiêu thụ (consumption/sales tax) hay tăng thuế
trên lợi tức công ty (corporate income tax), giới sản xuất. Đó là
một quyết định chính trị quan trọng ảnh hưởng trầm trọng đến nền
kinh tế quốc gia. Do đó, trước khi ban hành luật thuế mới, chính phủ
cần nghiên cứu kỹ lưỡng ảnh hưỏng của chính sách thuế khóa đối với
đời sống kinh tế quốc nội, quốc ngoại, kể cả ảnh hưởng đến vấn đề
thu hút đầu tư của ngoại quốc vào Hoa Kỳ.
Thí dụ luật thuế năm 1981 cho công ty khấu
trừ phần chiết cựu gia tốc (ACRS) như là chi phí để giảm lợi tức
chịu thuế, thêm vào khoản đã được khấu trừ về tín chỉ đầu tư (ITC).
Số đầu tư ngoại quốc vào Hoa Kỳ gia tăng và thu dụng trên 1 triệu
nhân công. Theo nguyên tắc chung của nền kinh tế thì cứ giảm đầu tư
một tỷ mỹ kim, 5 ngàn nhân công sẽ thất nghiệp. Tỷ số giữa nhân dụng
và đầu tư tăng theo tỷ lệ thuận. Đầu tư càng nhiều, kinh tế sẽ phát
triển và số nhân công được thu dụng càng cao. Nếu chính phủ giảm
thuế thì cá nhân và công ty để dành đươc nhiều lợi tức. Người Tây
phương không mua vàng chôn xuống đất để dành mà “để dành để đầu tư”,
nhờ đó nền kính tế được phát triển, toàn dụng nhân công. Mỗi khi nền
kinh tế phát triển thì chính phủ thu được nhiều thuế tạo nên tình
trạng trong ấm ngoài êm, dân giàu nước mạnh.
Trước đây, hãng sản xuất xe GM đã di
chuyển một cơ sở sản xuất xuống Nam Mỹ, khiến cho gần 10 ngàn công
nhân thất nghiệp và cả thành phố Flint, tiểu bang Michigan hầu như
bị tê liệt. Luật thuế 1981 đã làm gia tăng đầu tư ở quốc nội, giảm
đầu tư ở quốc ngoại và các công ty ngoại quốc đã đổ vốn vào đầu tư
tại Hoa Kỳ. Mức nhân dụng gia tăng, nạn thất nghiệp giảm, tổng sản
lượng quốc nội (Gross Domestic Product/GDP) gia tăng nhờ đó nền kinh
tế Hoa Kỳ đã phục hồi công lực trong thời Tổng Thống Reagan
(1981–1988) sau giai đoạn suy thoái dưới thời Tổng Thống Carter
(1976–1980).
Về
tâm lý quần chúng, nhiều học giả đã thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu
để tìm hiểu quan điểm của quần chúng về chính sách thuế khóa hiện
hành. Theo Joseph Minarik của Viện The Urban Institute of Washington
thì quần chúng nghĩ rằng những kẻ khôn khéo thì tránh thuế một cách
hợp pháp, những kẻ bất lương thì trốn thuế phi pháp, còn lại đại đa
số hạng trung lưu thì lãnh đủ sưu thuế nặng “People believe that the
clever can avoid tax and the dishonest can evade it, leaving the
average citizen to carry the whole load”.
Về phương diện chính trị, đảng Cộng Hòa
chủ trương không tăng thuế “Read my lips, no tax” (Pres. Bush) trong
khi đó đảng Dân Chủ chủ trương tăng thuế. Sự tranh luận giữa hai chủ
trương này đã đem lại nhiều kết quả dung hòa giữa đôi bên thể hiện
qua các lần tu chính bộ Thuế Lợi Tức Nội Địa. Chi tiết có thể thay
đổi nhưng nguyên tắc chung của hai đảng vẫn nhắm đến phát triển nền
kinh tế, dân giàu nuớc mạnh. Danh từ Internal Revenue Code (IRC) đã
được dùng từ năm 1924 nhằm san định lại các luật lệ liên quan đến
thuế khóa từ truớc. Lần tu chính gần nhất năm 1986 (The 1986 Tax
Reform Act) đã thể hiện chiều hướng mới trong chính sách cải cách
thuế khóa.
Luật
Thuế Canh Cải năm 1986 do đảng Công Hoà đề xướng duới thời TT
Reagan, nhằm mục đích quân bình gánh nặng thuế khóa (tax burden)
giữa giới sản xuất và giới tiêu thụ dựa trên nguyên tắc thuế lũy
tiến (progressivity). Thuế Lũy tiến có nghĩa là lợi tức càng lớn thì
thuế suất càng cao, hay đánh thuế tùy theo khả năng trả thuế
(ability to pay) của người thọ thuế. Thường lợi tức cao thì khả năng
thọ thuế lớn. Do đó, mà người giàu và các công ty phải trả thuế cao
hơn giới bình dân. Sự quân bình gánh nặng thuế khóa nhằm giảm bớt sự
bất quân bình kinh tế giữa người giàu và người nghèo.
Cái khó là nếu đánh thuế quá cao các công
ty kinh doanh hay người giàu có thì các công ty di chuyển ra ngoại
quốc, đến các nước có giá nhân công thấp như Á châu hay châu Mỹ La
Tinh hay Canada thì nhân công ở Hoa kỳ thất nghiệp như tình trạng
thành phồ Flint thượng dẫn. Nếu các công ty lớn giảm đầu tư vì sưu
cao thuế nặng thì đạo binh thất nghiệp gia tăng và số ngưởi hưởng
trợ cấp gia tăng tạo nên gánh nặng cho chính phủ phải vỡ nợ, ngân
sách thâm thủng (deficit). Trong những trường hợp như vây, chính phủ
dù CH hay DC phải cải tổ chính sách thuế khóa để cứu vãn nền kinh tế
quốc gia.
Tuy
nhiên, ý niệm lũy tiến không phải là một ý niệm giản dị. Trả thuế
còn mang ý nghĩa hy sinh (sacrifice) về phần người thọ thuế nghĩa là
hy sinh một phần lợi tức của mình cho sự phát triển tiện ích chung,
kể cả cho những người không đóng thuế, những người hưởng trợ cấp xã
hội, những nguời thất nghiệp, kể cả những người hưu trí có lợi tức
thấp. Nhưng sự hy sinh, muốn có ý nghĩa phải đặt trên căn bản hy
sinh đồng đều (equal sacrifice).
Làm thế nào để đạt được công bình thuế
khóa nếu không có sự hy sinh đồng đều giữa mọi người thọ thuế. Bằng
vào nhận định này, và dựa trên thống kê hiện nay, chúng ta chưa đạt
đến mức quân bình thuế khóa, như sẽ bàn thêm trong phần thuế tiểu
bang. Lý do là tương đối người giàu vẫn phải trả thuế ít, và người
nghèo trả thuế cao so với mức lợi tức.
Đi xa hơn nữa, ý niệm “hy sinh đồng đều”
còn là một ý niệm vừa khách quan, vừa chủ quan, mà mỗi người có thể
hiểu một cách khác nhau. Người giàu thì phung phí “Thiên kim mãi
nhất tiếu – Đem ngàn vàng chuốc lấy trận cười” – độ hữu dụng biên tế
đồng tiền thấp. Nhưng ngược lại, có thể người nghèo vì “chạy ăn từng
bữa toát mồ hôi” nên quý đồng tiền, do đó độ hữu dụng biên tế
(marginal uitilty) của đồng tiền cao.
Thánh Kinh cũng đã nói về dụ ngôn người
góa phụ với nhận xét là “A few pennies from a poor woman’s
threadbare purse cost her more than many pieces of gold taken from a
rich man’s full cache”. Do đó rất khó để đạt đến ý niệm hy sinh đồng
đều. Nói một cách tổng quát thì càng nhiều tiền thì độ hữu dụng biên
tế đồng tiền (marginal utility) càng thấp. Ngược lại càng ít tiền
thì độ hữu dụng biên tế đồng tiền càng cao.
Để tiến đến sự quân bình thuế khóa, luật
thuế mới đã gia tăng phần miễn giảm cá nhân (personal exemption).
Một hình thức phụ cấp gia đình bằng cách giảm thuế trên đầu người,
hoặc gia tăng khấu trừ định chuẩn (standard deduction), đồng thời
với sự giảm thuế suất (tax rate). IRS đã dựa trên hồ sơ khai thuế để
phân hạng lợi tức của nhân dân Hoa Kỳ, thống kê về lợi tức
(Statistics of Income) và nghiên cứu sự thay đổi hằng năm để biết
tình trạng phân phối lợi tức giữa các tầng lớp dân chúng, từ thượng
lưu cho đến hạ lưu của giai cấp xã hội. Hoa kỳ là một quốc gia giàu
mạnh không phải căn cứ vào số người giàu sang, tỷ phú mà chính là
đạt căn bản vào giới trung lưu.
Người ta thường phân quần chúng ra làm 6
hạng hay giai cấp xã hội: Thượng thượng lưu, Thượng lưu; Thượng
Trung lưu, Trung Lưu; Thượng hạ lưu và Hạ lưu, để nghiên cứu thị
trường (marketing research) trước khi sản xuất và phân phối hàng
hóa. Nhờ vậy mà người ta dự ước được số người có lợi tức thấp khỏi
phải đóng thuế nhờ các chước giảm nêu trên. Tuy vậy, luật thuế cũng
gia tăng căn bản thuế (tax base) nghĩa là nhiều thứ lợi tức được
cộng vào để làm căn bản tính thuế mà trước đây được miễn.
Luật Thuế Cải Cách năm 1986, vừa hạ thuế
suất trên lợi tức kinh doanh, vừa chuyển tải gánh nặng thuế từ lợi
tức thuế cá nhân qua thuế công ty, giới sản xuất (supply–side). Tăng
thuế lợi tức kinh doanh bằng cách hủy bỏ hoặc giảm các khấu trừ mà
trước đây các công ty kinh doanh được hưởng để giảm lợi tức thọ
thuế... Ví dụ, luật sửa đổi phương pháp chiết cựu gia tốc (ACRS), bỏ
phần tín chỉ đầu tư (ITC)...
Luật thuế năm 2017 gia tăng các khoản
giảm/miễn thuế, nhằm hạ thấp lợi tức thụ thuế (taxable income) cho
cá nhân như gia tăng phần khấu trừ định chuẩn (standard deduction)
và nhiều điều khoản khác, đồng thời giảm thế kinh doanh từ thuế luỹ
tiến từ 15%, 25%... đến 37% xuống thuế suất đồng hạng 21% (flat
rate). để thu hút đầu tư, giúp cho nền kinh tế phát triển sau thời
gian thoái hoá và có thể áp dụng thuế suất này đến năm 2025...
Huy chương nào cũng có mặt trái, thuốc trị
bệnh nào cũng có phản ứng. Nếu càng gia tăng thuế công ty như một số
người chủ trương, thương gia nhận thấy không có lợi, giảm phần đầu
tư kinh doanh. Các công ty Mỹ có khuynh hướng đầu tư ra ngoại quốc.
Các công ty ngoại quốc giảm hoặc ngưng đầu tư ở Mỹ. Các hiện tượng
này rất dễ nhận thấy mỗi khi thuế kinh doanh gia tăng. Cho nên cũng
đừng lấy làm lạ vì mấy năm trước đây người ta thường bàn đến hiện
tượng suy thoái và nạn thất nghiệp có phần gia tăng. Quốc Hội đưa ra
dự luật gia tăng tiền trợ cấp thất nghiệp thay vì chỉ trợ cấp 26
tuần. Tuy nhiên những trở ngại này chỉ là “side effect” không ảnh
hưởng trầm trọng đến sự phát triển chung của nền kinh tế trong
trường kỳ.
Luật
lệ thuế khóa, ngoài ảnh hưởng về phương diện kinh tế, còn ảnh hưởng
về phương diện xã hội như khai “Joint return” sẽ trả thuế thấp hơn
khai “single return”; khấu trừ cho “two earner couple”, và các loại
miễn giảm khác, là những phương thức khích lệ hôn nhân và thành lập
gia đình, mua nhà v.v. như tiền lời trên mortgage (interest expenses
on mortgage) được trừ thuế... Luật thuế 2017 chỉ cho khấu trừ
mortgage interest expenses trên nợ mortgage nguyên thuỷ khi tậu ngôi
nhà (acquisition debt) và không cho trừ interest expenses trên số
tiền refinance (equity debt). Thuế suất cũng còn gây ảnh hưởng đến
mức độ nhân dụng. Cũng có trường hợp thuế suất cao khiến cho một số
người “giàu hay đủ ăn” bỏ thị trường nhân dụng, không đi làm việc
thêm, làm nhiều đóng thuế cao vô ích, nghỉ ở nhà chơi cho phẻ!
Ngày nay, nhiều người đề nghị đánh thuế
tiêu thụ thay vì thuế lợi tức (Income v. Expenditure Tax). Tuy vậy
nếu xét về khía cạnh kỹ thuật, thuế lợi tức có nhiều ưu điểm hơn
thuế tiêu thụ, hơn nữa căn cứ vào lợi tức dễ phát hiện khả năng thọ
thuế hơn là mức tiêu thụ.
Ngoài ra người ta cũng đề cập đến thuế trị
giá gia tăng (Value added Tax). Nhược điểm của loại thuế này là thay
vì lũy tiến thì ngược lại và tạo nên bất công, trút gánh nặng thuế
khóa lên đầu lên cổ của đa số bần dân có lợi tức thấp “The
value–added tax is regressive and imposes unnecessarily heavy
burdens on the lower income classes”, (Pechman). Do đó thuế trị giá
gia tăng chỉ là một giải pháp hạng bét mà những người có chút lương
tri không thể nhắm mắt áp dụng “It would be unconscionable to enact
the distinctly inferior alternative of a value–added tax”. Chúng ta
cũng thường nghe đến thuế trị giá gia tăng ở VN trước năm 1975.
Các chính quyền Cộng Hòa thường cố gắng
trở lại chủ thuyết Federalism, quan niệm chính quyền Tiểu Bang chẳng
những tự trị mà còn phải tự túc về ngân sách. Do đó chính phủ Liên
Bang tìm cách giảm trợ cấp, chuyển nhượng phần quốc gia đài thọ cho
ngân sách tiểu bang. Các tiểu bang tu chính lại chính sách thuế
khóa, và sửa đổi các chương trình trợ cấp an sinh. Các chính quyền
Dân chủ chủ trương ngược lại, nhưng có một số tiểu bang không muốn
nhận trợ cấp của Liên bang để tránh sự can dự của Liên bang vào
chính sách tự quản của tiểu bang vì thế mà thỉnh thoảng báo chí cũng
đề cập đế vấn đề này.
Vấn đề công bình thuế khóa cấp
Tiểu Bang.
Theo thống kê thì trong thời gian qua, 4
tiểu bang California, Delaware, Maine và Vermont áp dụng tương đối
nghiêm chỉnh nguyên tắc thuế lũy tiến, nghĩa là người giàu phải trả
thuế cao hơn giới trung lưu. Các Tiểu bang khác thuế suất cho giới
trung lưu tương đối cao hơn giới thượng lưu.
Mười tiểu bang được mệnh danh là “Terrible
Ten” đánh thuế giới trung lưu và hạ lưu cao gấp ba lần thuế đánh
trên giới thượng lưu. Các Tiểu bang terrible này là: Nevada, Texas,
Florida, Washington, South Dakota, Tennessee, Wyoming, New
Hampshire, Pennsylvania và Illinois. Phân tích kỹ thì đa số các tiểu
bang thuộc “Terrible Ten” không đánh thuế lợi tức cá nhân
(individual income tax) nhưng bần dân phải đóng thuế cao gấp 3 lần
hơn người giàu có chỉ vì thuế tiêu thụ (comsumption taxes) phải trả
khi mua nhu yếu phẩm rất cao như ở Washington, Texas, Nebraska,
Illinois, hoặc thuế gia cư địa ốc (Real estate/property tax) vô địch
như ở New Hampshire. Tiểu bang Washington không có thuế lợi tức cá
nhân nhưng lại là một tiểu bang thuế tổng gộp địa phương cao nhất
tại Mỹ đối với giới bình dân, có kki lên đến 17.4%, trong lúc đó,
tiểu bang giáp giới là Oregon thuế suất chỉ thay đổi trên dưới 9.9%.
Sau đó là Tiểu bang Texas, cũng không có thuế lợi tức cá nhân, nhưng
thuế tiêu thụ chung trên nhu yếu phẩm có khi lên đến 17%. Giới hạ
lưu đã mang bệnh nghèo mà còn phải ho ra bạc, khạc ra tiền để trả
thuế (cough up an extra cent for tax payment)!
Sáu tiểu bang áp dụng chính sách thuế khóa
tương đối công bình, người giàu trả nhiều thuế hơn người nghèo như
Vermont, Delaware, Hawaii, Minnesota, Maryland và Oregon.
Trong những năm gần đây, nhiều tiểu bang
đã gia tăng thuế tiêu thụ trên nhiên liệu, hàng hóa, thuốc lá, rượu,
đăng bộ xe tự động, nhằm cứu vãn tình trạng ngân sách thâm thủng.
Nếu không tăng thuế thì phải giảm dịch vụ cung cấp cho quần chúng.
Bốn Tiểu Bang Hawaii, Vermont, Utah và Minnesota duy trì thuế suất
thấp đối với người nghèo và tăng thuế đối vối người giàu. Một số
tiểu bang khác tăng thuế người nghèo và giảm thuế cho người giàu như
Connecticut, Nevada, West Virginia, South Dakota, Tennessee.
Các dữ kiện nêu trên theo thống kê qua các
thời kỳ cho chúng ta thấy đại khái sự khác biệt về chính sách thuế
khóa giữa các tiểu bang. Trong nhiều tiểu bang, người giàu vẫn có ba
đầu sáu tay để thao túng quốc hội tiểu bang ban hành luật lệ có lợi
cho họ. Người nghèo vẫn là “vạn tội bất như bần”, vẫn thấp cổ bé
miệng, thật khó lòng có thể chuyển bại thành thắng.
Tuy nhiên, đặc điểm của xã hội dân chủ là
xem “ý dân như ý trời”, nên cứ “lớn tiếng, la làng” kêu nài, hẳn có
người nghe, hầu đánh thức lương tri các nhà lập pháp như phong trào
nhân quyền đã tranh đấu và thành công.
Giải thích kỹ thuật khai thuế và áp dụng
luật thuế khóa để khai đúng thuế là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự
hiểu biết chuyên khoa về cả hai ngành kinh doanh như kinh tế, tài
chánh và luật. Các chuyên viên thường am hiểu các nguyên tắc về kế
toán, tài chánh để phân tích và hiểu các ý niệm, đồng thời nắm vững
phương pháp tường trình lợi tức và kiến thức về luật học để nắm vững
luật thuế khóa, luật hiến pháp, hình luật...
Nhưng luật mà không có căn bản về kế toán
thường gặp trở ngại nếu hành nghề liên quan đến thuế. Ngược lại học
kế toán, tài chánh, kinh tế mà thiếu luật thì cũng gặp trở ngại khi
phải đi xa hơn phần kỹ thuật khai thuế và tường trình tài chánh.
Thảo luận về chính sách thuế khóa lại càng
phức tạp hơn vì thế chỉ luận về phần tổng quát, khó mà ghi nhận hết
các chi tiết và ngoài phần kiến thức về kế toán và luật cần thêm
kiến thức về kinh doanh và kinh tế khi phân tích những ý niệm về lũy
tiến, ảnh hưởng của thuế khóa trên chính sách nhân dụng, đầu tư quốc
nội và quốc ngoại, đầu tư của ngoại quốc trên thị trường Hoa kỳ, giá
trị đồng mỹ kim, và ảnh hưởng của thuế khóa trên cán cân chi phó,
lạm phát, tiết kiệm... là những vấn đề cần nghiên cứu kỹ lưỡng và
mất nhiều thời gian.
Thuế là giá phải trả để thụ hưởng đời sống
văn minh (price of civilization) như thẩm phán Home đã nhận xét.
Chính phủ cần tiền để có thể cung cấp những dịch vụ chung cho quần
chúng. Cũng có những người không làm ra tiền, nhưng vẫn hưởng được
tiện ích của đời sống văn minh nhờ công lao của những người khác
dang làm việc và đóng thuế để giúp giới hưu trí có tiền trợ cấp hay
tiền an sinh xã hội và tiền hưu bổng qua chương trình Social
Security, public assistance cho những người công nhân hưu trí và
những người thiếu lợi tức.
Chúng ta làm việc không những tăng lợi tức
cá nhân và còn cung cấp tiện ích cho những người không làm việc qua
số thuế mà chúng ta đóng hằng năm. Ngược lại, khi chúng ta nghỉ
việc, chúng ta lại hưởng tiện ích do những công dân khác đóng góp.
Cơ chế xã hội văn minh được cấu tạo bằng sự đóng góp từ thế hệ này
qua thế hệ khác. Nhờ đó sinh hoạt xã hội văn minh được liên tục và
mỗi ngày một tiến bộ. Tất cả đều trông nhờ vào sự “hy sinh” của mỗi
công dân.
Trên
đây là nhận định chung, có thể nói là “Truyền nhi bất tác”, nếu cần
thêm chi tiết xin tham khảo với các chuyên gia thuế vụ về chi tiết
của Luật TCJA 2017.
Vấn đề thi hành nghĩa vụ công dân về
phương diện thuế khóa hiện nay vẫn dựa trên nguyên tắc tự nguyện
(voluntary compliance). Theo thống kê thì khoảng 80% người thọ thuế
tự nguyện đóng thuế hằng năm. Tuy vậy, vì số thanh tra quá ít so với
số người đóng thuế nên tỷ số thanh tra còn rất thấp, trung bình 1%
trên tổng số hồ sơ thuế. Đa số chỉ thanh tra các công ty lớn, hoặc
những người có lợi tức cao. Đối với giới bình dân, nếu có khai sai
chút đỉnh, sở thuế thường tự động sửa và thông báo cho người thọ
thuế.
Luật lệ ở
Hoa Kỳ được áp dụng khá nghiêm chỉnh. Ngay cả đến Phó Tổng Thống
Agnew, trong thời TT Nixon, nguyên Thống đốc Maryland, mà cũng bị
tòa phạt vì trốn thuế, bị mất chức Phó Tổng Thống và bị treo áo cấm
hành nghề luật sư, đúng với câu “Pháp bất vị thân”
vậy.
Trần Xuân Thời
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Danh sách những Bài viết của Tác giả Trần Xuân Thời
THIÊN SỨ MICAE – BỔN MẠNG SĐND VNCH
|
Hình nền: Lũy tre làng. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML-5 hay cao hơn.
Nguồn: Internet eMail by Trần Xuân Thời chuyển
Đăng ngày Thứ Bảy,
November 23, 2019
Ban Kỹ Thuật
Khóa 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH
GĐMĐVN/Chi Hội Hoa Thịnh Đốn & Phụ cận
P.O.Box 5345 Springfield, Virginia, VA 22150
Điện thoại & Điện thư:
Liên lạc
Trở lại đầu trang