

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Biên khảo
Chủ đề:
mùa chay
Tác giả: Jean Luc Muller
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

Bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Mùa Chay
Là thời gian hướng về ngày lễ Phục Sinh bắt đầu với thứ Tư Lễ
Tro, một thời gian thiêng liêng phong phú cho các cộng đoàn Kitô
giáo, Mùa Chay với hình thức như hiện nay là kết quả của quá
trình tiến triển lâu dài về lịch sử cũng như phụng vụ, xét về độ
dài thời gian cũng như sự nghiêm ngặt của các quy định.
Nguồn gốc
Nói thật ra, Mùa Chay là một
thiết chế của Giáo Hội không bắt nguồn từ thời Giáo Hội sơ khai.
Đối với các Kitô hữu thời các tông đồ, mỗi ngày Chúa Nhật là một
cử hành biến cố phục sinh, và mãi cho đến thế kỷ thứ II mới thấy
xuất hiện một ngày lễ đặc biệt dành để tưởng niệm cái chết và
phục sinh của Đức Kitô để rồi sau đó biến thành Tam Nhật phục
sinh (Triduum pascal): thứ Năm Tuần Thánh, thứ Sáu Tuần Thánh,
và Vọng Phục Sinh.
Biến cố này được chuẩn bị bằng một hay
nhiều ngày ăn chay tuỳ theo miền, thường là từ chiều thứ Năm
Tuần Thánh cho đến sáng ngày lễ Phục Sinh, hoặc ít ra là trong
vòng 40 giờ từ lúc Chúa chịu chết cho đến thời điểm phục sinh.
Đến giữa thế kỷ thứ III, ở Alexandrie việc giữ chay kéo dài suốt
Tuần Thánh, và đến cuối thế kỷ III thì tại Ai Cập cũng đã xuất
hiện việc giữ chay kéo dài đến 40 ngày mà mục đích trước hết
dường như là sống lại thời gian chay tịnh của Chúa Giêsu trong
hoang mạc cũng như chuẩn bị cho lễ Phục Sinh.
40
ngày
Chẳng bao lâu sau, Mùa Chay 40 ngày của
người Ai Cập đã định hình như là thời gian chuẩn bị cho cái chết
và phục sinh của Đức Kitô và lan rộng ra khắp Giáo Hội. Vào tiền
bán thế kỷ thứ IV, ở Roma đã hình thành một thời gian chay tịnh
trong 3 tuần trước khi cử hành biến cố phục sinh và vào khoảng
giữa những năm 354 đến 384 họ cũng đã thêm vào 3 tuần nữa. Như
vậy chính xác có 40 ngày (quadragesima) giữa Chúa Nhật mở đầu
Mùa Chay cho đến khi bắt đầu Tam Nhật Thánh (Triduum).
Nhưng vì không ăn chay vào các ngày Chúa Nhật nên thực tế chỉ có
34 ngày ăn chay trong thời gian này. Cộng thêm ngày thứ Năm và
thứ Sáu Tuần Thánh thì cũng chỉ có 36 ngày. Và cũng vì muốn
chuẩn bị cho biến cố phục sinh bằng cách rập khuôn chính xác 40
ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang mạc nên vào thế kỷ thứ
VII người ta thêm vào 4 ngày còn thiếu, và từ khi ấy người ta
bắt đầu Mùa Chay với thứ Tư trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay mà
sau này trở thành thứ Tư Lễ Tro. Vào ngày này, các tín hữu ở
Roma tụ họp nhau tại nhà thờ Thánh Anastasie dưới chân đồi
Palatin là nơi Đức Giáo Hoàng công bố mở đầu Mùa Chay; rồi mọi
người đi thành đoàn rước đến nhà thờ Thánh Sabine trên đồi
Aventin để cử hành thánh lễ.
Thứ Tư Lễ Tro
Việc xức tro có nguồn gốc từ thực hành thống hối công khai,
một nghi thức bắt buộc dành cho các tín hữu phạm lỗi nặng hoặc
làm gương xấu trước khi họ được chính thức tái hoà nhập cộng
đoàn vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, họ được xá tội và được phép
rước lễ trở lại vì trước đó họ bị cấm.
Một trong những
thực hành thống hối công khai này là xức tro trên đầu. Cử chỉ
này thịnh hành ở Roma từ thế kỷ thứ IV và dần dần lan ra các xứ
Kitô giáo, rồi nhiều tín hữu tự nguyện xức tro trên đầu để biểu
lộ ý muốn thống hối. Chính các Đức Giáo Hoàng cũng đã chấp nhận
nghi thức này và vào thế kỷ XI thì các ngài đã kết hợp việc
thống hối này với việc bắt đầu Mùa Chay, do đó mà có tên gọi thứ
Tư Lễ Tro và thực hành xức tro.
Là bụi đất, hình ảnh của
tội lỗi và sự mong manh của con người, là những gì còn lại của
thân xác sau khi ngọn lửa sự sống vụt tắt đi [St 3, 19; 18, 27],
tro rắc trên đầu mà ngày nay người ta xức trên trán biểu lộ sự
thống hối và tang chế [Is 58, 5; 61, 3; Gr 6, 26]. Chính vì
thống hối dưới bụi tro và áo mặc áo vải thô mà dân thành Ninivê
nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa [Gn 3].
Linh
đạo Mùa Chay
Là thời gian hoán cải dành cho hối
nhân, trong những thế kỷ đầu tiên, Mùa Chay cũng là thời gian
chuẩn bị cho các dự tòng chịu phép rửa để được gia nhập cộng
đoàn Kitô giáo vào đêm Phục Sinh, sau khi giữ chay và tiết chế
trong suốt thời gian này cũng như miệt mài cầu nguyện.
Như thế, khi khuyên nhủ các tội nhân công khai hối cải, Giáo Hội
cũng khích lệ toàn thể cộng đoàn thống hối, và khi nhắn gởi với
các dự tòng, Giáo Hội cũng chuẩn bị cho mọi tín hữu sống lại ân
sủng phép rửa của chính mình.
Khi chuẩn bị cho mọi người
gặp gỡ Thiên Chúa, đối với các tín hữu, Mùa Chay đã trở thành
một hành trình tiến về Thiên Chúa, một con đường vòng băng qua
hoang mạc, một cuộc chiến đấu với những cám dỗ trong đời sống.
Giáo Hội đề nghị chúng ta sống trọn vẹn cuộc sống Kitô hữu của
chúng ta một cách nồng nhiệt hơn trong suốt mấy tuần hướng về
ngày lễ Phục Sinh.
Như đoàn dân của Môisen lang thang
nhiều năm dài trước khi vào Đất Hứa, chúng ta cũng khám phá ra
rằng hành trình tiến về Thiên Chúa, con đường tiến về Nước Trời
của chúng ta không phải là không gặp khó khăn, chướng ngại, thụt
lùi, đôi khi có phản kháng nữa; thế nhưng Thiên Chúa vẫn luôn
hiện diện để mang lại cho ta hy vọng và niềm tin. Khi kết hiệp
với Chúa Giêsu Kitô vẫn luôn trung thành với Chúa Cha trong thử
thách cuối cùng, chúng ta sống kinh nghiệm cuộc vượt qua tiến về
Chúa Cha qua sự sống và cái chết, chúng ta dần tiến về mầu nhiệm
của Đức Kitô để hiệp thông vào đấy một cách sâu xa hết sức có
thể.
Làm thế nào để diễn dịch cách cụ thể cuộc hành huơng
tiến về với Thiên Chúa mà mỗi Kitô hữu được mời gọi trong suốt
thời gian Mùa Chay này? Đã có câu trả lời được lặp đi lặp lại
qua các bản văn phụng vụ ngày Chúa Nhật (và những ngày khác)
trong thời gian chuẩn bị cho biến cố phục sinh: các bài đọc Tin
Mừng cũng như Kinh Tiền Tụng đã dành ưu tiên cho bộ ba này: cầu
nguyện, ăn chay, và chia sẻ.
Cầu nguyện
Là khoảng không ngút mắt nơi không có sự sống, hoang mạc mà
dân của Giao Ước cũ và chính Đức Kitô đã đi qua đưa chúng ta đến
yếu tính của đời sống, dẫn chúng ta gặp gỡ với Hữu Thể độc nhất,
cội nguồn cho hiện hữu của chúng ta: Thiên Chúa. Là nơi chốn gợi
lên sự vô cùng của Thiên Chúa, chính trong hoang mạc mà Charles
de Foucauld đã tận hiến hoàn toàn cho Ngài qua lời cầu nguyện.
Như thế, hoang mạc và Mùa Chay là nơi chốn và thời gian để gặp
gỡ Chúa trong lời cầu nguyện.
Qua lời cầu nguyện, đời
sống chúng ta hướng về Thiên Chúa, chúng ta để cho Chúa Thánh
Thần uốn nắn mình theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá để trở nên sẵn sàng
cho Đức Kitô và cho anh em. Cầu nguyện là “lương thực hằng
ngày” nuôi sống chúng ta bằng tình yêu của Thiên Chúa,
không có nó tâm hồn chúng ta có nguy cơ xa rời ý muốn của Chúa
Cha.
Theo gương các dự tòng vào những thế kỷ đầu tiên đã
toàn tâm toàn ý cầu nguyện cách quảng đại và thực tâm, theo
gương Đức Kitô lui vào trong cô tịch của hoang mạc Giuđa, chúng
ta hãy biến Mùa Chay thành một thời gian gặp gỡ Chúa, chiêm niệm
và tạ ơn, ngợi ca Danh Thánh Chúa và biến đổi tâm hồn.
Ăn chay
Là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, đối
với dân Israel cũng như đối với Đức Kitô, hoang mạc đồng thời
cũng là thời gian thử thách, là trận chiến chống lại thế lực sự
dữ để không nhường bước trước thú vui, điều choáng ngợp và quyền
lực, ba thần tượng mà con người thường hy sinh tất cả để đạt cho
được. Những cám dỗ này không ngừng quấy nhiễu chúng ta và là
nguồn gốc nhiều sự dữ, ngay từ khi xuất hiện Mùa Chay, việc từ
bỏ những cơn cám dỗ này được diễn dịch bằng việc ăn chay, một
thực hành rất đòi hỏi nhưng lại đạt được nhiều kết quả thiêng
liêng. Khi giảm thiểu những nhu cầu sống để chỉ giữ lại những gì
thiết yếu, việc ăn chay giúp chúng ta trở nên những người nghèo
khó trong tâm hồn (xem Các Mối Phúc), nghĩa là thành những con
người cần đến Thiên Chúa, nhường cho Ngài một chỗ trong đời sống
mình, người nghèo trong Tin Mừng là những người đặt hết niềm hy
vọng vào Chúa, háo hức gặp gỡ với Đức Kitô. Như vậy sự khổ hạnh
và từ bỏ mọi sự rất cần thiết để Thánh Thần Thiên Chúa xâm chiếm
lấy con người mình.
Nếu chay tịnh trước hết có nghĩa là
từ bỏ của ăn thì trong ý nghĩa tận căn hơn nữa ăn chay cũng có
nghĩa là từ bỏ tính ích kỷ, tính cứng đầu, và lòng tham lam của
chúng ta: “Đây là những điều bạn phải thực hành khi muốn ăn
chay. Trước hết, hãy xa lánh mọi lời nói và ước muốn xấu xa,
thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi thứ hư không đời này. Nếu giữ được
điều đó, việc ăn chay của bạn sẽ nên hoàn hảo. Sau khi hoàn tất
những gì tôi đã viết trên đây, vào ngày ăn chay, bạn không ăn gì
ngoại trừ bánh mì và nước lã, và rồi hãy tính toán giá lương
thực mà bạn thường ăn trong ngày ấy, bạn dành tiền ấy để cho quả
phụ, cô nhi hoặc người nghèo... Nếu bạn ăn chay theo như những
điều tôi khuyên nhủ trên đây, hy sinh của bạn sẽ được Thiên Chúa
chấp nhận” [Le Pasteur d’Hermas].
Chia sẻ
Ngay từ thế kỷ thứ II, việc ăn chay đã có khuynh hướng chia
sẻ như là một phương tiện giúp đỡ những ai đang túng thiếu để
chúng ta có thể tiến đến gần Thiên Chúa hơn. Thánh Cyprianô
thành Carthage vào thế kỷ thứ III cũng đã để lại những dòng chữ
rất thuyết phục về chủ đề này: “Những người giàu có và dư dật...
bạn sẽ trở nên vàng ròng khi tinh luyện mình qua các công việc
vì đức công bình và làm bố thí... Hãy xem trong Tin Mừng, một bà
goá nghèo đã đi vào trong lời dạy của Thiên Chúa khi bà bố thí
giữa lúc thất vọng và túng bấn. Bà ném vào trong thùng tiền hai
đồng xu cuối cùng. Chúa đã lưu ý và nhấn mạnh về tấm lòng quảng
đại của bà và nói: ‘Bà goá này đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn
mọi người khác’... Đức Giêsu Kitô muốn chúng ta hiểu rằng của bố
thí của chúng ta sẽ đến với chính Thiên Chúa và rằng những ai bố
thí thì đẹp lòng Chúa”.
Chia sẻ cũng là tình yêu tha
nhân, nhìn nhận người khác như đồng loại của mình, nhận ra Đức
Kitô trong những người anh em hèn mọn nhất. Đây là biểu hiện
tình yêu Thiên Chúa của chúng ta và không thể được diễn dịch đơn
thuần chỉ bằng một phong trào cứu trợ hay phong trào đoàn kết
nào đó. Qua sự thiếu thốn và chia sẻ, chúng ta đáp ứng được giới
răn kép của tình yêu: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa
ngươi và yêu tha nhân như chính mình”.
Ghi
chú:
Khi nói về việc ăn chay, mãi cho đến
thế kỷ thứ IX, tất nhiên là việc giữ chay nghiêm nhặt hơn ngày
nay nhưng không phải là các tín hữu cả ngày không ăn uống gì.
Thật ra, người ta phân biệt:
– Ăn chay đơn giản, kiêng
mọi thứ thịt, cả trứng, phô–mai, bơ và sữa. Việc ăn chay này kéo
dài suốt Mùa Chay, trừ các ngày Chúa Nhật.
– Ăn chay nhặt
một vài ngày nào đó trong thời gian này, nhất là thứ Sáu và thứ
Bảy Tuần Thánh. Trong những ngày này người ta chỉ dùng một bữa
ăn nhẹ duy nhất trong ngày.
Hiện nay, Giáo Hội chỉ buộc
kiêng thịt vào các ngày thứ Sáu của Mùa Chay, ăn chay cùng với
kiêng thịt vào các ngày thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh.
“Luật kiêng thịt buộc những người đã 14 tuổi trọn. Luật ăn chay
buộc hết mọi người đã đến tuổi trưởng thành cho tới lúc bắt đầu
60 tuổi” [Giáo luật điều 1252].
Nhưng trọn Mùa Chay vẫn
là thời gian thống hối, các ngày thứ Sáu khác trong năm cũng
vậy. Trong những ngày này, “Các tín hữu chú trọng đặc biệt đến
sự cầu nguyện, thi hành việc đạo đức và việc bác ái, từ bỏ bản
thân, bằng cách chu toàn các bổn phận riêng và nhất là bằng cách
giữ chay và kiêng thịt” [Giáo luật điều 1249]. Việc giữ chay và
kiêng thịt cũng có thể được thay thế bằng các hình thức thống
hối khác do Hội Đồng Giám Mục quy định [Giáo luật điều 1253].
Phụng vụ
Sự thống hối của Mùa Chay
được biểu lộ ra bên ngoài qua màu lễ phục phụng vụ (màu tím) và
không đọc kinh Allêluia và kinh Vinh Danh trong thánh lễ và các
giờ kinh. Ngày xưa, việc đánh đàn trong nhà thờ hoàn toàn bị bãi
bỏ trong thời gian này, ngày nay người ta hết sức giảm thiểu,
chỉ đệm đàn để hát.
Một nốt nhạc vui đột nhiên cắt ngang
những ngày thống hối này: đó là ngày Chúa Nhật Vui (Laetare),
hay Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay với lễ phục màu hồng thay cho màu
tím. Nguyên thuỷ của ngày này được tìm thấy trong nghi thức trao
ban Tín biểu đức tin (kinh Tin Kính) cho các dự tòng vào ngày
thứ Tư sau Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay. Vì thế, niềm vui của Giáo
Hội đã được biểu lộ trong phụng vụ ngay từ ngày Chúa Nhật vì
mình sắp được thâu nhận những tín hữu mới. Lý do thật sự của
ngày Chúa Nhật Vui (Laetare) – mà tên gọi xuất phát từ ca nhập
lễ trong ngày này [Laetare Jerusalem – Hãy vui lên hỡi
Giêrusalem] – sau đó đã bị lãng quên để rồi mang lấy một ý nghĩa
khác là “để an ủi cho các tín hữu khỏi bị ngã lòng nản chí vì nỗ
lực kéo dài trong Mùa Chay và giúp họ tiếp tục chịu đựng những
hạn chế với tâm hồn thanh thản và nhẹ nhàng” [Giáo Hoàng
Innôcentê III, 1216].
Bài đọc các ngày Chúa Nhật Mùa Chay
Hướng về ngày lễ Phục Sinh, phụng vụ Lời Chúa trong 5 Chúa
Nhật Mùa Chay (Chúa Nhật thứ sáu là Lễ Lá và Thương Khó) được
diễn dịch bằng cách gợi lại những giai đoạn lớn trong hành trình
của nhân loại tiến về ngày Phục Sinh của Đức Kitô:
–
Những giao ước nguyên thuỷ (Năm A: St 2, 7–3, 7; Năm B: St 9,
8–15; Năm C: 26, 4–10)
– Abraham (Năm A: St 12, 1–4; Năm
B: St 22, 1–18; Năm C: St 15, 5–18)
– Môisen (Năm A: Xh
17, 3–7; Năm B: Xh 20, 1–17; Năm C: Xh 3, 1–15)
– Đất Hứa
(Năm A: 1 Sm 16, 1–3; Năm B: 2 Sb 36, 14–23; Năm C: Gs 5, 10–12)
– Các ngôn sứ (Năm A: Ed 37, 12–14; Năm B: Gr 31, 31–34; Năm
C: Is 43, 16–21)
Chủ đề của các bài Tin Mừng:
–
Cơn cám dỗ và sự biến hình của Đức Kitô trong hai Chúa Nhật đầu
tiên theo một trong ba Tin Mừng Nhất Lãm.
– Giáo lý về bí
tích rửa tội trong ba Chúa Nhật còn lại của năm A (Ga 4, 5–42;
Ga 9, 1–41; Ga 11, 1–45)
– Thập giá, dấu hiệu tôn vinh
của Đức Kitô, trong ba Chúa Nhật còn lại của Năm B (Ga 2, 13–25;
Ga 3, 14–21; Ga 12, 20–33)
– Lòng thương xót của Chúa kêu
mời hối cải trong ba Chúa Nhật còn lại của Năm C (Lc 13, 1–9; Lc
15, 1–32, Ga 8, 1–11)
Cuối cùng là các bài thánh thư được
chọn lựa để làm rõ nghĩa cho bài Tin Mừng hay bài trích Cựu Ước.
Jean Luc Muller
Église en fêtes, Téqui, 1990
chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
trích “Bản Thông Tin” giáo phận Qui Nhơn, số tháng 2/2011
nguồn:
tổng giáo phận hà nội

Bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Những
bài viết liên quan
tìm hiểu về mùa chay & lễ lá công giáo
nguồn gốc và ý nghĩa của mùa chay


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tkd sưu tầm & trình bày
Đăng ngày thứ Hai, March 30, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH