

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Trang Ẩm–Thực
Chủ đề: thịt
Tác giả: Phạm Đình Lân, F.A.B.I.

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Trong ngôn ngữ của người Anh thịt các động vật to lớn thường dùng trong các bữa ăn như trâu, bò, dê, trừu, heo có tên gọi khác nhau.

Thịt gà, vịt, cá không có tên riêng
mà chỉ được gọi đơn giản là chicken, duck, fish mà thôi. Đó là
giai cấp tính trong cộng đồng động vật vậy.
Trong bài Thịt (Phần II) chúng tôi chỉ đề cập đến cá và các loại thủy sản mà
thôi.
***
Cá và Thủy sản
Cá, tôm, cua, sò, ốc cung cấp cho loài người một nguồn dinh dưỡng to lớn. Dân tộc
nào trên thế giới cũng ăn cá đánh bắt dưới sông, suối, ao, rạch,
hồ, và biển cả. Những nhóm chữ sơn hào, hải vị cho thấy biển cung
cấp những thức ăn ngon, hiếm quí cho giới thượng lưu trong xã hội
loài người. Ngoài cá, thức ăn mà biển cung cấp cho loài người là
muối và nguồn rong biển to lớn.
Việt Nam là một nước nông
nghiệp có bờ biển dài trên 3,000km với vô số sông ngòi, kinh rạch
chằng chịt, nhất là ở Nam Bộ. Đó là nơi cung cấp nguồn cá cho
người Việt Nam. Nước chấm quan trọng của người Việt Nam là nước
mắm làm từ các loài cá nhỏ. Mắm nêm cũng làm từ các loài cá nhỏ.
Mắm ruốc, mắm tôm đều làm từ tôm, tép, con ruốc Acetes indicus,
gia đình Sergestidae, v.v. Cá ướp muối để giữ thức ăn lâu ngày
gọi là mắm. Cá ướp muối phơi nắng gọi là khô. Muối (mặn) và nhiệt
mặt trời (nóng) phòng giữ thức ăn chậm rã rục đã được loài người
dùng từ xưa trước khi có tủ lạnh và máy sấy.
Người Nhật
dùng nhiều tôm, cua, mực trong thức ăn của họ. Khác với người
Việt Nam không ăn các loài cá to, người Nhật thích ăn steak cá
voi. Người Nhật và người Na Uy nổi tiếng về việc săn cá voi trên
thế giới. Việc săn cá voi của Nhật ở Nam Bán Cầu gặp phải sự phản
đối dữ dội của Úc Đại Lợi.
Người Việt Nam trong đồng nội
thích ăn cá nước ngọt. Cư dân miền duyên hải thích ăn cá biển hay
cá nước mặn.
Cá Nước Ngọt
Cá nước ngọt là cá sống
trong vùng nước ngọt hay nước lợ không có nhiều độ mặn. Phần lớn
cá nước ngọt có vảy ngoại trừ cá trê, catfish, cá chạch, cá tra,
cá thát lát. Cá nước ngọt thường thấy trên thị trường là cá lóc,
cá trắm cỏ, cá diếc, cá hồi, cá diêu hồng, cá rô đồng, cá chép,
cá mè, cá hường, cá trê, cá chạch, cá thát lát, cá tra, cá lăng,
cá rô phi, cá tai tượng, v.v.

Cá lóc
còn được gọi là cá quả, cá chuối rất phổ biến ở các nước Á Châu
và Phi Châu. Người Việt Nam, Trung Hoa, Triều Tiên, Sri Lanka
thích ăn cá lóc. Cá lóc dùng để nấu canh, nấu cháo, bánh canh cá
lóc, quay với nước dừa để ăn với bánh tráng, rau sống, điều (sau
Tết Nguyên Đán là mùa điều. Đó là mùa ở miền Nam dân chúng thường
ăn cá nướng với trái điều, các loại rau sống chấm với mắm nêm hay
nước mắm tỏi ớt). Cá lóc to có vảy bông có thể cân nặng đến 3kg
thường là cá đánh bắt từ Biển Hồ (Tonlé Sap) ở Cambodia tràn vào
sông Cửu Long vào mùa nước nổi.
Tên khoa học của cá lóc là
Channa maculata, gia đình Channidae. Đầu cá lóc giống đầu rắn vì
vậy người Anh gọi cá lóc là Snakehead fish. Pháp gọi là poisson à
tête de serpent, requin d'eau douce (cá mập nước ngọt). Cá tràu
là một loài cá lóc nhỏ sống trong ruộng mang tên khoa học Channa
striata. Ở nông thôn miền đông Nam Bộ người ta dùng cá tràu để
nấu canh chua lá dang (Aganonerion polymorphum, gia đình
Apocynaceae).

Tên khoa học của cá chép
là Cyprinus, gia đình Cyprinidae. Người Anh gọi cá chép là carp;
Pháp: carpe; Trung Hoa: li yu (lý ngư); Nhật Bản: Koi, Nishikigoi
(kim hoàng lôi).
Cá chép được tìm thấy nhiều trên lục địa
Á–Âu trong các dòng sông Rhine, Danube, Volga, v.v. Ở Âu Châu
người ta ăn cá chép vào ngày lễ Giáng Sinh. Người Việt Nam ở miền
Bắc thích ăn gỏi cá chép. Cá chép là món ăn ngon trong nhà bếp Do
Thái. Người Mỹ không thích thịt cá chép.
Ở Việt Nam có một
số gia đình không ăn cá chép, tiêu biểu là gia đình của thi hào
Nguyễn Du. Tương truyền rằng cụ Nguyễn Nghiễm, thân phụ thi hào
Nguyễn Du, nằm chiêm bao thấy một thiếu nữ mang thai xin ông tha
mạng sống của mẹ con cô ấy. Sáng dậy, có một người biếu cụ Nguyễn
Nghiễm một con cá chép mái mang thai. Cụ Nguyễn sai thả con cá
chớ không làm thịt. Không bao lâu cụ Nguyễn Nghiễm được cá chép
mẹ báo cho cụ biết cụ sẽ gặp đại nạn nhưng có người giúp nên
thoát nạn. Quả thật cụ bị nạn trên một dòng sông và được một đàn
cá lý ngư giúp đỡ đưa cụ vào bờ. Đó là nguyên nhân tại sao đại
gia đình của thi hào Nguyễn Du không ăn cá chép.
Còn những
người khác không ăn cá chép thì sao? Vì sự kiêng cữ của tôn giáo?
Vì khái niệm "cá vượt vũ môn" hay "lý ngư vọng nguyệt" phản ảnh
ước vọng vươn lên? Vì Rồng là biểu tượng của quân vương trong xã
hội đề cao thuyết chính danh định phận tôn quân quyền?
Cá chép được người Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản nuôi từ năm 300
trước Tây Lịch. Cá chép là loại cá nước ngọt dễ nuôi và chóng
lớn. Cá nặng trung bình từ 1kg – 3kg. Mức sản xuất cá chép nuôi
hay lưới dưới sông trên thế giới ước khoảng 4.7 triệu tấn. Trung
Quốc chiếm 70% mức sản xuất này.

Cá trắm cỏ là cá nước ngọt to lớn, gốc ở Đông Á Thái Bình Dương từ
Hồng Hà (Bắc Bộ Việt Nam), Xijiang (Tây Giang Nam Hoa), Yangtse
(Dương Tử) đến Hei Longjiang (Hắc Long Giang – Hoa Bắc).
Gọi là cá trắm cỏ vì thức ăn chính của loài cá này là rong và cỏ.
Đó là một loại cá thuộc gia đình cá chép. Cá trắm cỏ to lớn có
thể cân nặng đến 45kg và dài lối 1.5m.
Tên khoa học của cá
trắm cỏ là Ctenopharyngodon idella, gia đình Cyprinidae của cá
chép (lý ngư). Người Anh gọi là grass carp; Pháp: carpe herbivore
(thảo lý ngư); Tây Ban Nha: carpa china (cá chép Trung Hoa);
Trung Hoa: Huan yu (hoàng ngư. Hoàng: cỏ hoàng, cỏ dùng để dệt
chiếu).
Trên thế giới có lối 40 quốc gia nuôi cá trắm cỏ.
Mức sản xuất cá trắm cỏ trên thế giới lối 06 triệu tấn. Trung Hoa
chiếm 95% mức sản xuất này tức 5.7 triệu tấn!

Cá rô là loại cá nước ngọt và nước lợ, có vảy và xương cứng.
Cá rô được tìm thấy nhiều ở các quốc gia Á Châu, Phi Châu, trên
các hải đảo Nam Thái Bình Dương và Úc Đại Lợi.
Tên khoa
học của cá rô là Anabas testudineus, gia đình Anabantidae
(Anabas: leo, trèo – Hy Lạp ngữ. Cá rô có khả năng lóc nhảy cao
để di chuyển từ vùng này sang vùng khác trong điều kiện ít nước).
Người Anh gọi cá rô là climbing perch, climbing bass; Pháp:
perche grimpante; Thái Lan: Pal mor.
Cá rô đồng cân nặng
lối 100 grams. Cá to nhất có thể cân nặng đến 500 grams (nửa
kilogram). Cá có thịt ngon nhưng có nhiều xương cứng lia chia.
Người Việt Nam nấu canh cá rô với mít non, đậu phọng hay ăn
cá rô chiên dầm nước mắm ớt + tỏi + đường + giấm ăn với rau luộc,
đọt bầu luộc, v.v.

Cá mè là cá nước
ngọt nhưng có vảy rất nhỏ. Chiều dài trung bình xê dịch từ 50cm –
70cm. Cá mè to nhất dài đến 1.40m và cân nặng 40kg. Cá mè gốc ở
Đông Á, Bắc Bộ Việt Nam. Hiện nay cá mè được du nhập khắp nơi
trên thế giới.
Tên khoa học của cá mè là
Hypophthalmichthys nobilis, gia đình Cyprinidae. Người Anh gọi cá
mè là Bighead carp (Lý ngư đại thủ); Pháp: carpe à grosse tête
(giống như tiếng Anh).
Bài ca dao Thằng Bờm cho thấy người
Việt Nam đã nuôi cá mè từ xưa. Từ năm 1950 đến nay nhiều quốc gia
trên thế giới bắt đầu chú ý đến việc nuôi cá mè. Mức sản xuất cá
mè trên thế giới vào năm 1950 là 15,306 tấn. Đến năm 2013 mức sản
xuất cá mè trên 3,000,000 [3 triệu] tấn.

Gọi là cá hường vì cá màu hồng nhạt. Khi lội dưới nước, cá
chu tròn miệng như cái miệng đang hôn! Vì vậy người Anh gọi cá
hường là Kissers hay Kissing Gourami hay Kissing fish. Người Pháp
gọi là gourami embrasseur; Trung Hoa: Wen lu; Thái Lan: Pla mo
tal; Mã Lai: Tambakan; Indonesia: Ikan tambakan, v.v.
Cá hường sống trong nước ngọt và nước lợ. Cá có vảy nhuyễn, không
dày và cứng như vảy cá lóc, cá rô.
Tên khoa học của cá
hường là Helostoma temminckii, gia đình Helostomatidae.
Cá hường có nhiều ở các nước Đông Nam Á nhất là Indonesia, Thái Lan,
Mã Lại, v.v. Cá hường cũng được tìm thấy trên sông Cửu Long. Loại
cá này hiện đang sút giảm rất nhiều. Nhật Bản mua rất nhiều cá
hường trên thế giới.

Cá lăng là cá
nước ngọt, mình láng, không vảy như cá trê. Cá lăng cũng có râu
trông bặm trợn như cá trê nhưng khác nhau về màu sắc. Cá lăng
được tìm thấy nhiều ở Thái Lan, Mã Lai, Indonesia trên các sông
Menam (Thái), sông Hồng, sông Đà, sông Lô (Việt Nam). Nam Hoa, Ấn
Độ, và vài quốc gia Phi Châu cũng có cá lăng.
Tên khoa học
của cá lăng là Hemibagrus gutttatus, gia đình Bagridae. Người Anh
gọi cá lăng là Asian Redtail catfish để phân biệt với loại cá trê
đuôi đỏ ở Nam Mỹ mang tên khoa học Phractocephalus hemiolioterus,
gia đình Pimelodidae. Người Thái gọi cá lăng là Pla kot luang;
Khmer: Chlang; Indonesia: Patik, Baung; Nhật Bản: Gigi.
Những âm LUANG của người Thái hay CHLANG của người Khmer hao hao
giống âm LĂNG trong tên gọi CÁ LĂNG của người Việt Nam.
Cá lăng dài từ 20cm – 75cm. Trọng lượng trung bình xê dịch từ 3kg –
5kg. Cá lăng to nhất dài 1.4m và cân nặng 56kg (cá bắt trên sông
Amazon năm 2010).

Trout là cá hồi nước
ngọt, sống quanh năm trong suối, sông, ao hồ. Cá hồi nước ngọt
(trout) sống trong vùng khí hậu ôn đới lạnh Mỹ Châu, Á Châu, và
Âu Châu. Cá hồi trout là thức ăn ưa thích của người Âu–Mỹ. Đại
cương ta có: cá hồi suối, cá hồi sông, cá hồi hồ. Cá hồi nước
ngọt có vảy thật nhuyễn. Trên mình có nhiều chấm nên người Việt
Nam gọi là cá hồi chấm.
Trọng lượng trung bình của cá hồi
nước ngọt xê dịch từ 4kg đến 18kg. Cá nặng nhất bắt được trên
sông Colorado năm 2023 cân nặng 33kg.
Mức sản xuất cá hồi
nước ngọt trên thế giới lối 929,000 tấn. Chile là nước sản xuất
nhiều cá hồi nước ngọt. Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha, Đan Mạch là
thị trường cá hồi nước ngọt quan trọng ở Âu Châu. Idaho là tiểu
bang nuôi nhiều cá hồi nước ngọt ở Hoa Kỳ.

Cá rô Phi gốc ở Phi Châu hay rõ hơn trên sông Nile, Ai Cập.
Thời Ai Cập cổ đã có nuôi cá rô Phi mang tên khoa học Oreochromis
niloticus (sông Nile), gia đình Cichlidae. Người Anh gọi cá rô
Phi là tilapia; Pháp: poisson tilapia hay gắn gọn là tilapia;
Trung Hoa: Luo fei yu (Lạc phi ngư).
Cá rô phi nặng nhất
cân được 4.5kg. Đó là loại cá nước ngọt và nước lợ có nhiều vảy
cứng. Mức sản xuất cá rô phi trên thế giới vào năm 2002 là 1.5
triệu tấn. Trung Hoa và Ai Cập là hai quốc gia nuôi nhiều cá rô
phi trên thế giới.
Ở Brazil người ta thí nghiệm thành công
khi dùng da cá rô phi để trị phỏng lửa cho chuột.

Cá trê là cá nước ngọt không có vảy. Cá trê
có hai màu: cá trê đen và cá trê trắng. Đó là cá có đầu phẳng;
miệng rộng; có răng lởm chởm và có ria trông bạo tợn và gây hấn.
Cá trê được tìm thấy nhiều ở vùng ôn đới, bán nhiệt đới, và nhiệt
đới, đặc biệt ở các quốc gia Đông Nam Á. Cá trê nặng trung bình
từ 1kg – 3kg. Năm 2005 ngư phủ Thái Lan đánh bắt một con cá trê
khổng lồ trên sông Mekong. Cá nặng 646 pounds tức lối 293kg.
Tên khoa học của cá trê là Clarias batrachus, gia đình
Claridae. Người Anh gọi cá trê là catfish; Pháp: Silure; Trung
Hoa: Nian yu (Niêm ngư); Nhật: Namazu.
Người ta cho rằng
cá trê có khả năng báo trước động đất.
Mức sản xuất cá trê
hiện nay lối 343 triệu pounds tức là 155.37 triệu kg. Việt Nam là
quốc gia nuôi nhiều cá trê nhất thế giới. Sau Việt Nam là Trung
Hoa và Hoa Kỳ. Người Việt Nam thích ăn cá trê nướng với bánh
tráng và rau sống; cá trê chiên dầm trong nước mắm gừng ăn với
đọt bầu luộc; canh bầu nấu với cá trê; cá trê kho mặn với tiêu,
v.v.

Cá tra là cá nước ngọt và nước lợ
được tìm thấy nhiều ở Á Châu. Cá tra có mình láng, không vảy như
cá trê. Cá tra mang tên khoa học Pangasius hypophthalmus, gia
đình Pangasiidae. Thân thuộc của cá tra là cá Ba–sa Pangasius
bocourti, cá bông lau (Pangasius krempfi), cá dứa, cá vồ đém,
v.v. Người Anh gọi cá tra là Silver catfish, striped catfish,
tricolor shark (cá mập ba màu), v.v. Pháp gọi poisson–chat raye;
Trung Hoa: Ba ding; Mã Lai: Ikan patin.
Mức sản xuất cá
tra trên thế giới vào năm 2021 là 1.5 triệu tấn. Dẫn đầu việc sản
xuất cá tra là Việt Nam. Sau đó là Trung Hoa, Ấn Độ, và Hoa Kỳ.
Hầu hết cá tra ngoài thị trường là cá tra nuôi hơn là đánh bắt
trên sông.

Cá bông lau là cá
mình láng sống trong nước ngọt hay nước lợ. Sông Mekong là nơi có
nhiều cá bông lau. Tên khoa học của cá bông lau là Pangasius
krempfi, gia đình Pangasiidae. Người Anh gọi cá bông lau là Panga
catfish; Pháp: Pangas; Khmer: Trey bong lao (1). Theo tài liệu
của CHXHCNVN cá bông lau to lớn nhất bắt trên sông Hàm Luông dài
1.20m và cân nặng 21kg.
Người Việt Nam thích món cá bông
lau kho tộ hay cá bông lau nấu canh chua với ngó sen và các loài
thủy thảo khác trên châu thổ sông Mekong.
Mức sản xuất cá
bông lau trên thế giới khoảng 3.1 triệu tấn vào năm 2022. Việt
Nam là quốc gia đứng đầu trong việc sản xuất cá bông lau. Kế đó
là Ấn Độ, Bangladesh, và Indonesia.
____________
(1) Tên gọi "bông lau"
của người Việt Nam hao hao giống tên gọi "trey bong lao" của
người Khmer. Vậy ai mượn tên gọi của ai? Để trả lời câu hỏi chúng
ta theo dòng chảy của sông Mekong (Cửu Long), nơi có nhiều cá
bông lau. Sông bắt nguồn từ Tây Tạng chảy vào Lào, vào hồ Tonlé
Sap của Cambodia trước khi chảy vào Nam Bộ để đổ nước ra biển.
Trước thế kỷ XVII Nam Bộ là Thủy Chân Lạp (Water Chenla) thuộc
chủ quyền của Cambodia. Vậy tên gọi Trey bong lao và cá bông lau,
tên gọi nào có trước?

Lươn vừa sống
trong nước mặn (conger eel) vừa sống trong nước ngọt (unagi –
tiếng Nhật). Lươn là thủy sản không có vảy. Máu rất độc và rất
tanh. Nhật Bản là quốc gia tiêu thụ nhiều lươn. Họ gọi lươn nước
ngọt là unagi. Trung Hoa xuất cảng 41% tổng sản xuất lươn trên
thế giới. Canada đứng hạng nhì với 12%. Tính đến năm 2018 có 47
quốc gia trên thế giới nuôi lươn để xuất cảng. Tổng sản xuất lươn
trên thế giới lối 277,000 tấn trị giá 2.7 tỷ Mỹ kim.
Các dân tộc Á Châu và Âu Châu thích ăn thịt lươn nước ngọt. Người
Việt thích ăn lươn xào lăn, lươn hấp sả, cháo lươn nấu với khoai
môn, v.v.
Cá nước mặn
Khác với cá nước ngọt, cá
nước mặn không có vảy hay có vảy rất nhuyễn. Biển, đại dương, nội
hải Caspian, Aral là kho lương thực khổng lồ rộng 361 triệu km²
(71% diện tích địa cầu) với đủ loại cá, tôm, mực, cua, sò, ốc,
v.v.

Cá hồi là cá biển tức cá nước
mặn. Khi gần đẻ trứng, cá vào hà khẩu các sông nước ngọt để đẻ.
Người ta cho rằng cá hồi, do khứu giác đặc biệt, về đẻ trứng ở
nơi chúng được sinh ra! Gọi là cá hồi là vì vậy?
Có hai dòng cá hồi thuộc gia đình Salmonidae: cá hồi Đại Tây Dương dòng
Salmo (Salmo salar) và cá hồi Thái Bình Dương dòng Oncorhynchus
(Oncorhynchus masu). Cả hai đều sống trong vùng khí hậu ôn đới
lạnh. Người Anh gọi cá hồi là Salmon; Pháp: Saumon; Nhật Bản:
Sake; Trung Hoa: Gui (Qui: trở lại, trở về).
Thịt cá hồi
ngon và được các dân tộc Âu Mỹ, Nhật, Trung Hoa, Triều Tiên ưa
thích. Cá dài trung bình lối 70cm và cân nặng lối 3kg – 5kg. Năm
1960 một con cá hồi hơi nặng 49.44kg được đánh bắt ở Scotland.
Mức sản xuất cá hồi trên thế giới năm 2022 lối 2.8 triệu tấn.
Na Uy chiếm 52.7% của mức sản xuất này.

Cá ngừ là cá biển tức cá nước mặn, mình láng, vảy màu xanh,
màu vàng. Cá ngừ thuộc dòng Thunnus, gia đình Scombridae. Thí dụ:
tên khoa học của cá ngừ vi xanh (bluefin tuna) là Thunnus
thynnus, gia đình Scombridae; cá ngừ vi vàng (yellowfin tuna):
Thunnus albacares, gia đình Scombridae, v.v. Người Anh gọi cá ngừ
là Tuna, Tunny; Pháp: Thon; Trung Hoa: Wei yu (Vi ngư); Nhật:
Maguro (meouro: mắt đen).
Mức sản xuất cá ngừ trên thế
giới năm 2022 là 791,000 tấn. Indonesia chiếm 16% mức sản xuất
này.

Cá thu là cá biển miền ôn đới lẫn
nhiệt đới thuộc gia đình cá ngừ (Tuna) Scombridae. Cá thu có
nhiều sinh tố, khoáng chất, chất béo tốt cho hoạt động của tim.
Tên khoa học của cá thu:

Cá thu Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương nặng cân nhất cân đuợc 45kg, dài
trên 1.50m.
Người Anh gọi cá thu là Mackerel; Pháp:
Maquereau; Trung Hoa: Qingyu (Thanh ngư); Nhật: Saba.
Năm 2022 tổng trị giá cá thu trên thế giới lối 1.04 tỷ Mỹ kim. Nhật,
Chile, Trung Hoa, Indonesia là những nước đánh bắt nhiều cá thu
trên thế giới (43% tổng sản lượng cá thu trên thế giới). Cá thu
Na Uy được xem là cá thu ngon vì có nhiều chất béo.

Cá mòi là loại cá nhỏ sống trong vùng nước
mặn. Có một loại cá mòi nước ngọt ở Phi Luật Tân. Tên khoa học
của cá mòi nước ngọt là Sardinella tawilis, gia đình
Dorosomatidae. Tên khoa học của cá mòi nước mặn:

Cá mòi được tìm thấy nhiều trong Địa
Trung Hải, Hắc Hải, Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, và Ấn Độ
Dương. Người Anh gọi cá mòi hay cá trích là Sardine, pilchard;
Pháp: Sardine (đặt tên dựa vào tên đảo Sardinia, phía nam đảo
Corsica trong Địa Trung Hải). Người Nhật gọi cá mòi là Iwashi;
Trung Hoa: Shading yu (Sardine fish).
Maroc là quốc gia sản xuất nhiều cá mòi nhất thế giới. Mức sản xuất cá mòi trên thế
giới năm 2022 là 3.5 triệu tấn. Maroc nổi tiếng về cá mòi hộp.
Nước này sản xuất 850,000 tấn đồ hộp mỗi năm. Cá mòi ngon, có
nhiều chất dầu béo, nhiều sinh tố B, v.v.

Cá chày là cá biển, không có vảy, đầu to, miệng rộng, răng
lởm chởm trông ghê rợn. Cá chày to lớn nhất đo được 5.2m tìm thấy
trong Địa Trung Hải. Cá chày to lớn trong Đại Tây Dương đo được
1.20m, cân nặng 22.6kg.
Tên khoa học của cá chày là
Lophius americanus, gia đình Lophiidae. Người Anh gọi cá chày qua
nhiều tên khác nhau: Devil fish (cá quỉ), Goosefish (nga ngư),
Monkfish (tu sĩ ngư), Head fin (thủ ngư); Pháp: Lotte; Nhật:
Ankou; Trung Hoa: Bian sha (Biên sa – Biên: cá mè; Sa: cá nhám),
v.v.
Người Âu Châu, Hoa Kỳ, Á Châu ăn cá chày. Gan cá chày
là món ăn ngon của người Nhật. Họ gọi gan cá chày là Ankimo
(ankimo sushi).

Như tên gọi cá tuyết là cá biển lạnh, được tìm thấy nhiều ở biển bắc Đại Tây
Dương, biển Baltic, bắc Thái Bình Dương. Cá tuyết là cá nước mặn
có vảy nhuyễn. Cá dài trung bình từ 1m đến 1.40m. Cá dài nhất đo
được 1.80m và cân nặng 50kg.
Tên khoa học của tuyết ngư là
Gadus morhua, gia đình Gadidae. Người Anh gọi tuyết ngư là Cod;
Pháp: Cabillaud; Nhật Bản: Tara; Trung Hoa: Xueyu (tuyết ngư).
Cá tuyết nổi tiếng là cá tuyết Đại Tây Dương, Thái Bình
Dương, và Greenland. Cá tuyết được đánh bắt ngoài biển và được
nuôi trong ao hồ. Cá có nhiều protein, sinh tố A, sinh tố B12,
sinh tố D, sinh tố E, phosphorus có lợi cho sức khỏe người tiêu
thụ.
Quốc gia nhập cảng nhiều cá tuyết đông lạnh là Trung
Hoa: 350 triệu Mỹ kim.
Các quốc gia xuất cảng cá tuyết
đông lạnh là: Nga (497 triệu Mỹ kim), Na Uy (259 triệu MK), Nam
Hàn (97 triệu MK), Hoa Kỳ (93 triệu MK), Hòa Lan (75 triệu MK).

Cá bơn (Halibut) (1) là cá biển lạnh Đại
Tây Dương và bắc Thái Bình Dương. Cá bơn có nhiều thịt. Cá trống
nhỏ hơn cá mái. Cá bơn mái Thái Bình Dương có thể mang từ 500,000
đến 4,000,000 trứng! Cá bơn có vảy rất nhuyễn đến mắt thường
không trông thấy.
Có ba loại cá bơn:

Cá bơn Greenland cân nặng trung bình
từ 10kg – 25kg. Cá nặng cân nhất lối 45kg.
Cá bơn bắc Thái
Bình Dương (California, Canada, Alaska) nặng cân nhất lối 200kg,
dài 2.50m.
Trọng lượng trung bình của cá bơn Đại Tây Dương
xê dịch từ 25kg – 45kg.
Cá nặng nhất dài 2m và cân nặng
250kg.
Mức sản xuất cá bơn trên thế giới không quan trọng:
2,883 tấn năm 2011. Hiện nay có nhiều quốc gia nuôi cá bơn trong
ao hồ. Đó là các nước Canada, Iceland, Anh, Na Uy. Na Uy là quốc
gia sản xuất 96% tổng sản xuất cá bơn trên thế giới.
____________
(1) Halibut do chữ Hali: holy: Thánh (tiếng
Anh thời Trung Cổ); But: Butte – cá dẹt (flatfish – tiếng Hòa Lan
thời Trung Cổ). Cá bơn là thức ăn ngon được các tín đồ Thiên Chúa
Giáo ưa thích trong ngày thứ sáu kiêng ăn thịt.

Cá Tầm (Sturgeons) và Trứng Cá Caviar

Cá tầm được tìm thấy nhiều từ Bắc Âu đến Địa Trung Hải, Hắc Hải, biển
Azov, nội hải Caspian, hồ Baikal, sông Yang Tze (Dương Tử), v.v.
Cá tầm cũng được tìm thấy ở Bắc Mỹ, Trung Hoa. Cá tầm dài đến 3m
và cân nặng đến 227kg. Thịt cá tầm không quí bằng trứng của loài
cá này. Đó là trứng cá Caviar nổi tiếng mà Stalin thết đãi Tổng
thống Franklin Delano Roosevelt và Thủ tướng Winston Churchill
khi tham dự hội nghị Yalta (tháng 2/1945).
Ngày nay cá tầm được được đánh bắt ngoài biển, trong các nội hải, và được nuôi
trong hồ. Cá tầm có thể sống trong nước mặn, nước lợ ở các cửa
sông. Trung Hoa chiếm 84% tổng sản xuất cá tầm trên thế giới với
79,638 tấn. Nga đứng hạng nhì với 6,800 tấn (4%). Armenia được
xếp hạng ba với 6,000 tấn (3%).
Mức sản xuất trứng cá caviar trên thế giới vào năm 2017 lối 364 tấn. Trung Hoa sản xuất
100 tấn (27.5%); Nga: 49 tấn (13.5%). Trứng cá caviar không phải
là thức ăn dinh dưỡng của người bình dân vì giá bán trứng cá
caviar quá cao!

Cá Thiều (Giant sea–catfish; Giant marine–catfish)

Đó là cách gọi của người Anh vì cá có mình láng, có ria tựa
như cá trê, catfish, nhưng sống trong nước mặn. Tên khoa học của
cá thiều hay cá ngách là Netuma thalassina, gia đình Ariidae.
Chiều dài của cá thiều xê dịch từ 70cm đến 185cm. Trọng lượng
trung bình xê dịch từ 1kg đến 5kg. Cá thiều là loại cá ngon được
tìm thấy nhiều ở Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Mã Lai. Ở Việt
Nam khô cá thiều có giá cao. Rạch Giá nổi tiếng với khô cá thiều.
Ở Huế cá thiều được gọi là cá ngách.
Tôm và Tôm Hùm (Lobsters)

Có tôm nước ngọt và tôm
biển. Tôm nước ngọt sống trong sông, rạch, ao, hồ là tôm nhỏ về
hình dáng, trọng lượng và số lượng đánh bắt được so với tôm nước
mặn. Tôm nước mặn to lớn nhất là tôm hùm.
Tôm bán ngoài thị trường gồm tôm đánh bắt ngoài biển và tôm nuôi. Mức sản xuất
tôm năm 2022 trên thế giới là 5.6 triệu tấn. 75% mức sản xuất này
phát xuất từ các nước Á Châu như Trung Hoa, Thái Lan, Việt Nam,
Indonesia, Ấn Độ. Tổng trị giá tôm sản xuất trên thế giới lối 40
tỷ Mỹ kim. Hoa Kỳ là quốc gia nhập cảng nhiều tôm nhất. Hoa Kỳ
nhập cảng tôm từ Ecuador. Cảng Mazatlan trong tiểu bang Sinaloa,
Mexico, là thủ đô của thị trường tôm trên thế giới.
Tôm hùm là hải sản có hương vị ngon và bổ dưỡng với 28gr protein.
Ngoài ra còn có khoáng chất Cu (đồng), Se (Selenium), Zn, P, Mn,
sinh tố B12, sinh tố E, v.v. Các vùng có nhiều tôm hùm là Maine
(Hoa Kỳ), Nova Scotia (Canada), Bretagne (Pháp), Tasmania (Úc),
Hokkaido (Nhật), v.v. Canada và Hoa Kỳ là hai quốc gia đánh bắt
nhiều tôm hùm trị giá trên 2 tỷ Mỹ kim (Canada: trên 1.5 tỷ USD,
Hoa Kỳ: lối 0.5 tỷ USD). Cảng Shedia ở Canada được xem là cảng
quốc tế của tôm hùm. Hoa Kỳ có cảng Pie Town, Maine. Trong thời
kỳ chiến tranh Việt Nam II tôm hùm đông lạnh Nha Trang được xuất
cảng sang Hồng Kông và Nhật Bản. Thực tế người Việt Nam xa lạ với
tôm hùm. Vạn vật đều có thứ bậc và đẳng cấp của chúng. Tôm hùm
không gần với người có lợi tức thấp.
Cua và Sò Ốc

Cua nước ngọt là cua đồng nhỏ và ít thịt.
Người Việt Nam dùng cua đồng để nấu bún Riêu hay để nguyên con
cua để kho mặn hay nấu canh chua lá dang.
Cua nước mặn là cua biển to lớn và có nhiều thịt. Cua nhện (spider crabs) vùng
biển lạnh Nhật Bản hay Alaska cân nặng từ 16kg – 20kg. Hàng năm
thế giới tiêu thụ 1.5 triệu tấn (1,500,000t) cua biển. Trong số
này có 1.3 triệu tấn (1,300,000t) cua đánh bắt ngoài biển và lối
250,000 tấn cua nuôi trong các ao nuớc mặn.
Hoa Kỳ nhập cảng nhiều cua nhất thế giới. Trung Hoa, Canada, Thái Lan,
Indonesia là những nước xuất cảng cua quan trọng trên thế giới.
Cua ngon là cua đánh bắt ở eo biển Beagle Channel nối liền Đại
Tây Dương với Thái Bình Dương thuộc chủ quyền Argentina.
Tiểu bang Maryland là tiểu bang đánh bắt nhiều cua ở Hoa Kỳ.
Crisfield trong tiểu bang Maryland là thành phố nổi tiếng về cua.
Trên Vịnh Mexico, Louisiana là tiểu bang bán nhiều cua ở miền Nam
Hoa Kỳ.

Từ thời tiền sử con người đã biết ăn sò. Vỏ sò còn được dùng như phương tiện giao hoán giữa
người và người thời cổ sừ. Theo các nhà y học, ăn sò sống hay
luộc chưa chín rất nguy hiểm vì dễ bị nhiễm trùng Vibrio
vulnificus gây ra chứng bịnh Vibriosis, bịnh nhiễm trùng Vibrio
vulnificus.
Từ Oyster (Anh) hay Huître (Pháp) được dịch là
Hàu hay Ngọc Trai tùy theo công dụng của chúng.
Hàu (Eating oysters) thuộc gia đình Ostreidae sống dọc theo bờ biển
hay hà khẩu các sông nơi có nước lợ. Hàu cũng được nuôi trong các
trại nuôi hàu dọc theo bờ biển.
Ngọc trai (Pearl oysters) thuộc gia đình Aviculidae hay Pterildae được nuôi để lấy ngọc
trai. Nhật Bản và các nước Á Rập từ Hồng Hải đến Ấn Độ Dương nổi
tiếng về việc nuôi ngọc trai. Độ mặn của nước biển càng cao ngọc
trai càng chóng lớn và cho ngọc.
Mức sản xuất hàu (đánh bắt ngoài biển và hàu nuôi) năm 2022 trên 7 triệu tấn. Trung Hoa
và Nam Hàn là hai nước nuôi nhiều hàu nhất thế giới. South Bend,
tiểu bang Washington, là thủ đô của hàu ở Hoa Kỳ. Các tiểu bang
vùng Vịnh Mexico có nhiều nhà hàng hải sản bán hàu ăn sống với
muối tiêu chanh và uống rượu bia mặc cho các bác sĩ cảnh báo về
chứng vibriosis có thể gây tử vong hay tàn phế cơ thể.
Chúng tôi bối rối khi thấy từ điển Anh–Việt hay Pháp–Việt chuyển
dich tên sò, ốc như sau:

(1) Unionidae: gia đình của "mussel" nước ngọt. Mytilidae: gia đình
của "mussel" nước mặn.
(1) Sphaeriidae: gia đình của
"clam" nước ngọt. Glycymeridae: gia đình của "clam" (ngao,
nghiêu, trai) nước mặn.
Người ăn thích hàu hơn trai, nghiêu vì có nhiều thịt và thịt ngon hơn. Mussels có hai màu: một
loại có vỏ màu đen và một loại có vỏ màu xanh. Mussels Tân Tây
Lan có nhiều thịt và có vỏ màu xanh.
Theo FAO (Tổ Chức Lương Nông – Food Agriculture Organization) tổng sản xuất mussels
trên thế giới vào năm 2018 lên đến 2.11 tỷ tấn (2,110,000,000t).
Trung Hoa sản xuất lối 200,000 tấn nhưng mussels được dùng để
nuôi cá hơn là cung ứng thức ăn cho loài người. Tây Ban Nha sản
xuất lối 250,000 tấn mussels được xuất cảng sang Hoa Kỳ để các
nhà hàng hải sản xào tỏi (mussel garlic) phục vụ thực khách.
Chúng tôi xin dừng bài viết tại đây mặc dù còn thiếu rất
nhiều động vật cho nguồn thịt quan trọng như cá đuối, mực, rùa,
rắn, trăn, ếch, nhái, cá sấu, và các loài cá biển khổng lồ nặng
hàng ngàn kí–lô trong các đại dương.
***
Qua những trang giấy nhỏ này chúng ta thấy loài người là động vật được Tạo
Hóa ưu đãi. Loài người làm chủ các động vật lớn nhỏ trên trái
đất, làm chủ biển cả, sông ngòi, ao hồ, rừng rú, núi non. Loài
người làm chủ vạn vật vì có trí khôn, có tư tưởng, có tiếng nói,
có chữ viết ghi chép lại những gì họ đã làm xuyên qua các thời kỳ
lịch sử. Loài người dùng thơ văn để diễn tả nội tâm và nỗi lòng
vui, buồn của mình trước cảnh thiên nhiên của núi, rừng, sông
nước, ao hồ, và biển cả. Loài người dùng trí tuệ của mình để chế
ngự và khai thác thiên nhiên để sinh tồn.
Đấng Hóa Công rất mực yêu thương loài người.
Sợ loài người đói nên tạo ra đủ loại thức ăn từ lúa, bắp, khoai củ, rau, cỏ, lá cây non đến
thịt động vật từ dế cơm, cào cào, ếch, nhái, chim muông, loài cầm
vũ đến các loại động vật to lớn có xương sống, có vú, có máu đỏ,
và sinh con.
Sợ con người làm lụng cực khổ Đấng Hoá Công tạo ra voi, trâu, bò, ngựa để phụ giúp loài người. Voi quí ở ngà;
tê giác quí ở sừng; cọp, beo, ngựa, trăn, rắn quí ở xương dùng để
nấu cao làm cho xương cốt loài người được cứng cáp hầu tránh sự
còi xương (decalcification).
Thấy con người hay bịnh lặt vặt, Đấng Hóa Công cho họ các loại dược thảo. Có dược thảo trông
đẹp mắt. Có dược thảo trông gai góc, xấu xí nhưng trở thành thần
dược. Có dược thảo có mùi thơm tho. Cũng có dược thảo có mùi khó
chịu gây nhức đầu. Cây to lớn dùng để đóng giường, ván, làm nhà,
làm tủ, và bàn ghế, v.v. Vài loại lá cây non dùng làm rau. Có vài
loại cây rừng cho trái ngọt. Có vài loại cây cho nước giúp người
đi rừng có nguồn nước giải khát. Tất cả vạn vật trên trái đất đều
hữu ích và có giá trị riêng.
Đấng Hóa Công quá chu đáo. Người lo cho loài người mọi thứ, mọi chuyện mà không đòi hỏi sự
hoàn trả. Chuyện hiển nhiên trước mặt nhưng loài người ít khi để
ý và biết đến là loài người được miễn phí khi nhận ánh sáng mặt
trời sưởi ấm để làm công việc đồng áng ban ngày và được ánh sáng
mát dịu từ mặt trăng ban đêm. Ai điều khiển hai nhà máy khổng lồ
phát ánh sáng nhiệt ban ngày và ánh sáng mát dịu ban đêm đó?
Chúng chạy bằng nhiên liệu gì? Khi hư ai sửa? Trong đời sống
thường ngày có khi nào bạn không trả tiền điện hàng tháng mà vẫn
có điện xài đều đều không?
Đấng Hóa Công thương yêu và nuông chiều loài người như thế đó. Nhưng giữa loài người với nhau
tình thương không mấy đậm đà. Đấng Hóa Công ban sự sống cho loài
người. Loài người lại tìm cách cướp sự sống của nhau và xem đó là
những thành tích vẻ vang, hào hùng của kiếp sống của mình.
Loài người gia tăng nhân số. Rừng giảm dần diện tích. Nhiều
loài thảo mộc được ghi vào số đó. Các loài động vật hoang dã giảm
dần. Số lượng bò rừng, trâu rừng, heo rừng sút giảm trầm trọng.
Nhưng số lượng thịt bò, thịt trâu, thịt heo, thịt gà gia tăng
đáng kể nhờ sự phát triển của các trại chăn nuôi gia súc.
Nguồn thức ăn về cá rất quan trọng. Cá sinh nở rất nhanh và rất
nhiều đến nỗi không sao đếm được. Một cặp trứng cá có thể cho từ
5,000 – 10,000 cá con. Những con cá to có thể cho hàng triệu
trứng! Để ngăn ngừa nạn "ngư mãn" (Piscis boom) khả dĩ gây tắc
nghẽn việc lưu thông trên biển cả, Đấng Hoá Công làm cho loài cá
"tàn bạo" một cách tự nhiên khi cá cha, cá mẹ ăn thịt cá con hay
ăn thịt lẫn nhau một cách thản nhiên không hối tiếc, nghĩa là
không có tình phụ tử, tình mẫu tử hay tình đồng loại chi cả. Thấy
vậy loài người hồn nhiên thốt lên rằng: Cá lớn nuốt cá bé!
Cá sống trong ao, hồ, sông, rạch, và biển cả trên một diện
tích mênh mông chiếm 71% diện tích địa cầu. Đó là một nguồn dinh
dưỡng vô tận dành cho loài người nếu biết khai thác và bảo tồn.
Biển và đại dương chiếm 71% diện tích điạ cầu tức 361 triệu km²
(361,000,000km²) với 1.37 tỷ km³ nước mặn (1,370,000,000km³). Từ
nước biển ta có muối. Với sự phát triển của khoa học nguồn nước
mặn của biển và đại dương sẽ biến thành nước ngọt. Do Thái là
quốc gia đầu tiên trên thế giới thành công trong việc biến nước
mặn của biển thành nước ngọt (desalination). Trong tương lai
không xa sa mạc không còn là những biển cát mênh mông mà là những
cánh đồng xanh vô tận.
Phạm Đình Lân, F.A.B.I.
nguồn: cái đình
trang Phạm Đình Lân

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Những trang web có cùng chủ đề
thịt
– phần 1
thịt – phần 2

thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch


|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tkd đọc báo.
Đăng ngày thứ Ba, October 27, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH